TIN TỨC

Lê Thị Kim – “Kẻ lữ hành đi ngược chiều gió thổi”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-10-18 19:03:39
mail facebook google pos stwis
3705 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Thơ Lê Thị Kim dịu dàng, đằm sâu, giàu nữ tính. Chị được mệnh danh là nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu. Thơ Lê Thị Kim trong sáng lắm bởi nó được viết bằng cả nhiệt huyết, bằng tình yêu hết mình cho tuổi trẻ, tình yêu con người và cuộc đời.


Nhà thơ - họa sĩ Lê Thị Kim

 “… Khi làm thơ, tôi vẫn cảm thấy như mình đang lạc vào chốn nào đó, một cõi riêng mình, nghe lại chính giọng nói của mình và đôi khi còn như một kẻ lữ hành đang đi ngược chiều gió thổi…” (Lê Thị Kim). Làm thơ đối với chị như là một nhu cầu tự thân. Nhà thơ ký gửi vào đấy những nỗi niềm sâu kín của lòng mình, những suy ngẫm về con người và cuộc đời. Lê Thị Kim cho rằng: “Có thể với người khác, khi mệt mỏi với công việc sẽ hoài nghi về sự tồn tại của thơ ca, xem đó như một vật cản cho cuộc sống. Nhưng với tôi, lúc rơi vào tâm trạng như vậy, tôi thà rũ bỏ những công việc khác để cho mình thanh thản để trở lại với thơ. Thơ là “một khoảng sân sau” cho tâm hồn mình trú ngụ và quay về”. Nhà thơ tự ví mình là “kẻ lữ hành đang đi ngược chiều gió thổi”.

Lê Thị Kim vừa là nhà thơ, họa sĩ, doanh nhân. Ở lĩnh vực nào Lê Thị Kim cũng là người để lại những ấn tượng đặc biệt. Chị là Hội viên sáng lập Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, Hội viên Hội Nhà văn (1990), Hội viên Hội Mỹ thuật TP. HCM (1996).

Chị đã trình làng các tập thơ: Vòm me mùa hạ (in chung, 1985), Thành phố tháng Tư (in chung, 1986), Khi tình yêu đến (1988), Đóa quỳ hư ảo (1991), Sương bụi tình yêu (1997), Nguyên đán tình yêu (in chung, 2003), Thơ Lê Thị Kim (2010), Triển lãm tranh "Âm thanh từ lồng ngực trái" *(2016), Em lạc đâu sao Kim (Thơ tranh, 2020), Triển lãm tranh "Cung bậc cảm xúc" (2020)...

Với những đóng góp đặc biệt của chị, năm 1990, Lê Thị Kim được nhận danh hiệu người phụ nữ tài năng. Chị là một trong 20 gương mặt được biểu dương Văn học trẻ TP.HCM 20 năm (1995), 30 năm Văn học TP.HCM (2005).

Thơ Lê Thị Kim dịu dàng, đằm sâu, giàu nữ tính. Chị được mệnh danh là nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu.

Thơ Lê Thị Kim trong sáng lắm bởi nó được viết bằng cả nhiệt huyết, bằng tình yêu hết mình cho tuổi trẻ, tình yêu con người và cuộc đời. Thơ chị được gạn lọc và tinh chiết qua nhiều nỗi đau. Những biến cố, bất hạnh của cuộc sống ập đến bất ngờ, luôn là nỗi ám ảnh lớn đối với Lê Thị Kim. Bằng nghị lực, niềm tin, trí tuệ, tinh thần nhân văn nhân ái, chị luôn cố giấu nỗi đau riêng vào lòng, tự khẳng định mình và luôn có ý thức vươn lên trong cuộc sống. Vì rằng, dù nỗi buồn có lớn đến cỡ nào cũng không thể dập tắt đi niềm hi vọng và ước mơ của chị. Có lẽ do có cái nhìn biện chứng như vậy nên người ta gọi Lê Thị Kim là nhà thơ của tình yêu và tuổi trẻ. Vì tuổi trẻ và tình yêu là những vấn đề lớn mà thời đại nào cũng cần phải quan tâm.

Điều đặc biệt, thơ Lê Thị Kim có rất nhiều bài đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Đến nay đã có gần 100 ca khúc được phổ nhạc từ thơ chị. Đây là một trường hợp hiếm có đối với thơ nữ Việt Nam. Có lẽ, do chất giọng đằm thắm, dịu dàng; lời thơ giàu tính nhạc, dễ đi vào lòng người mà thơ chị có sức lan tỏa. Những ca khúc: Đừng nhìn em như thế, Gần lắm Trường Sa ơi, Sắc màu tình yêu… được rất nhiều người yêu mến.

Tổ ấm là nguồn thơ vô tận của Lê Thị Kim. Nơi ấy, tình yêu thương, sự quan tâm chăm sóc được thể hiện rõ nhất. Nó là một khối sức mạnh tinh thần - vật chất giúp con người vượt qua mọi sự gian khó trong cuộc đời. Lê Thị Kim cũng đã từng sống trong một tổ ấm hạnh phúc. Dù đôi lúc, gia đình cũng gặp những điều không như ý muốn nhưng bên cạnh chị, luôn có người đàn ông gánh vác, lo toan. Chồng chính là chỗ dựa vững chắc và an toàn nhất cuộc đời chị. Chính anh cũng là người hậu thuẫn, tiếp sức cho chị tham gia sáng tạo nghệ thuật. Vậy mà, niềm vui ngắn chẳng tày gang, chồng chị - anh Nguyễn Trọng Châu (nhà văn Đông Quân) lại đột ngột ra đi năm 1998. Lê Thị Kim hẫng hụt, bàng hoàng trước sự thật chua chát ấy. Chị nghiệm ra rằng: Hạnh phúc là thứ có thật trong cuộc đời nhưng nó cũng vô cùng chông chênh, không bao giờ như ý con người ta. Đến rồi đi bất chợt, nhiều lúc không thể ngờ, để lại trong lòng người bao hụt hẫng, mất mát và xót xa. Đặc biệt với một người phụ nữ có trái tim đa cảm và dễ tổn thương như chị thì khi gặp phải những bất trắc, nỗi đau ấy lại tăng lên gấp bội phần.

Lê Thị Kim cảm thấy hoang mang khi phải đối diện với thực tế đầy ảm đạm của chính gia đình mình: Em mong manh, em chỉ như chiếc lá/ Biết nhặt tia sáng nào khi mặt trời lên

Về sự nghiệp thì Lê Thị Kim là người khá thành công. Nhưng về đời tư, chị lại mang nhiều nỗi đau, sự hụt hẫng lớn. Đó là những vết thương lòng khó lành theo năm tháng. Nỗi đau cứ âm ỉ, triền miên, giày vò trong chị. Người chồng đột ngột ra đi, chị như bị ném dưới vực sâu. Đó là nỗi bàng hoàng, chông chênh, chới với, mất phương hướng với một người phụ nữ lâu nay việc gì cũng chồng lo giúp. Giờ phải đối diện với một sự thật phũ phàng, sống trong cảnh mẹ góa, con côi. Trong khi đứa con trai thứ hai bị thiểu năng vận động không đi được. Chị biết làm sao bây giờ? Biết san sẻ nỗi đau này cùng ai? Lê Thị Kim vốn là một người mẹ thương con, một người vợ rất mực yêu chồng nên chị cố giấu nỗi đau ấy vào lòng.

Em vẫn nhìn anh/ Mênh mông là nhớ/ Chảy quanh lệ buồn/ Đành thôi/ Giấu tận đáy hồn/ Cho con khỏi xót/ Vở còn cầm tay/ Vì con/ Đi hết đường này/ Thôi đành số phận/ Cát bay lá mòn/ Mẹ như một cánh lá non/ Khi cha bặt vắng mẹ còn hư vô/ Vì con mẹ phải tự ru/ Thôi thì ráng nốt kiếp hư vô này.

Vì chị nghĩ, giờ đây cứ đau khổ, khóc lóc, yếu mềm thì cũng chẳng được tích sự gì, rồi ai là chỗ dựa cho các con? Và không khéo lại làm cho các con tổn thương về mặt tinh thần nữa thì lại càng đau hơn. Chị đành nuốt ngược nước mắt vào trong, một tay đảm đang lo toan mọi thứ…

Khi cuộc đời đã trải qua những khổ đau, Lê Thị Kim tìm đến thơ và họa như để gửi gắm nỗi niềm và lấp đầy khoảng trống hư vô… Với chị, làm thơ và vẽ tranh chính là cách để chị nương náu an toàn, bình yên và trong trẻo nhất.

Thực tế cuộc sống và những trải nghiệm của bản thân, nhà thơ Lê Thị Kim nhận thấy mọi thứ trong cuộc đời này đều là có thật, kể cả hạnh phúc và khổ đau.

Tôi áp hai cọng cỏ trong lòng bàn tay/ Chúng yêu nhau quấn quýt giãi bày/ Tôi tách rời hai tay không níu gọi/ Chúng buông nhau tàn úa rã rời.

Ngẫu nhiên và khách quan là những điều có thực/ Chúng tạo cho ta hội ngộ tương phùng/ Nhưng chúng cũng là điều có thực/ Gây tan lòng gây những cuộc chia ly

Cũng như xuân cứ đến lại đi/ Như hạnh phúc có ai ghì lại được/ Như ta đây cứ ngỡ ta là điều có thực/ Cái phẩy tay của trời ta đã hóa hư vô (Điều có thực).

Dù biết rằng đó như là quy luật tất yếu của tự nhiên nhưng nhà thơ Lê Thị Kim vẫn đau đáu một nỗi niềm sợ hãi về sự trôi chảy của thời gian, về những tai ương, bất hạnh có thể ập đến khi có “cái phẩy tay của trời”.

Như ta đây cứ ngỡ là điều có thực/ Cái phẩy tay của trời ta đã hóa hư vô

Bài thơ đặt ra nhiều vấn đề, nhiều những câu hỏi cho tất cả chúng ta, những người đang sống và đang từng ngày từng giờ đối diện với bao thực tế vui - buồn, hạnh phúc - khổ đau ở cõi đời này. Chúng ta phải chấp nhận những điều có thực ấy và cố gắng vượt qua, sống thật sự có ích, có ý nghĩa, sống trọn vẹn, tha thiết với tình yêu và cuộc đời.

Khao khát được sống và yêu khiến nhà thơ Lê Thị Kim có ý thức tận hưởng niềm hạnh phúc đó. Bởi Lê Thị Kim linh cảm rằng: Hạnh phúc - tình yêu đến rồi đi một cách chóng vánh, nó như là sự thách đố, trêu ngươi con người ta. Để rồi như “tôi” bây giờ cũng đang cô đơn lẻ bóng, một thực tế buồn đến nao lòng.

Tình xuân như chiếc cầu vồng/ Thoắt bồng bềnh hiện, thoắt bồng bềnh trôi/ Hạnh phúc/ Hạnh phúc như chiếc lá trời/ Thích trêu ngươi trước cuộc đời lặng trông

Mặc người ngóng cổ chờ mong/ Mặc người đón đợi, lá vòng vèo bay/ Thích ai/ Thích ai lá rớt vào tay/ Chợt nhiên không thích, lá bay về trời/ Như giờ/ Như giờ… tôi… chỉ mình tôi (Lá trời).

Khảo sát thơ của Lê Thị Kim, phần lớn chị sáng tác theo thể thơ tự do và thơ 5 chữ.

Thơ tự do của Lê Thị Kim viết theo một lối riêng và rất hiện đại. Dưới ngòi bút tài hoa của chị, thể thơ này có sự giãn nở về biên độ phản ánh và cấu trúc hóa nhạc điệu câu thơ. Hình thức thơ biến hóa linh hoạt, câu thơ uốn lượn một cách thoải mái theo cơn bão của cảm xúc tâm hồn, nhịp đập của trái tim.

Em đã buông rồi/ Nhưng tất cả không rơi/ Kỷ niệm vẫn bồng bềnh như sóng biển/ Sân trường cũ ... và ngày xưa hoa tím/ Thoáng mưa buồn ... vài giọt thả long lanh

Giọt nào anh/ Giọt nào em/ Giọt nào bão tố/ Giọt nào nụ hoa/ Giọt nào tình mộng/ Giọt nào tình xa

Nước mắt vỡ òa/ Tan cơn mộng cũ/ Trời mưa thủ thỉ/ Em - về - với - Em.

Thơ 5 chữ phù hợp với việc giãi bày tâm trạng của con người, thường có tính chất tự sự. Nói cách khác, thơ 5 chữ thường kết hợp tự sự với trữ tình. Với thể thơ 5 chữ, nó có khả năng diễn tả đầy đủ dòng cảm xúc dạt dào của nhà thơ khi nhớ về những kỷ niệm của quá khứ, khi nghĩ về hiện tại và cả những dự cảm về tương lai. Ở thể thơ này, Lê Thị Kim đã tạo nên những vần thơ độc đáo mang đậm dấu ấn của một phong cách thơ riêng: phong cách thơ Lê Thị Kim. Như vậy, cùng với những vần thơ tự do diễn đạt tận cùng, linh hoạt các cung bậc cảm xúc, thơ 5 chữ đã trở thành thể thơ đặc trưng của Lê Thị Kim.

Những bài thơ 5 chữ của chị cấu tứ hết sức tự nhiên, hình ảnh, cảm xúc đến dễ dàng. Chuyện thơ đơn giản, hình ảnh thơ giản dị nhưng những vần thơ 5 chữ của thi sĩ Lê Thị Kim gây được hứng thú bởi nhạc điệu trữ tình. Cảm xúc, sự rung động tinh tế của tâm hồn làm cho hồn thơ Lê Thị Kim có dáng vẻ riêng, tự nhiên, thỏa mái nhưng không sa đà, giản dị nhưng không thô kệch; bởi tất cả những gì chị phản ánh đều có từ cuộc sống, có ý nghĩa với cuộc sống. Nhà thơ có sự kết hợp hài hòa cân xứng trong những câu thơ và toàn bộ bài thơ để diễn tả một cách sinh động, hiệu quả những cung bậc tình cảm.

Đôi cánh mày bé bỏng/ Sao mang nổi bầu trời/ Nhỡ mà kỳ giông bão/ Núp đâu chuồn kim ơi/ Luống cà sang luống bắp/ Với con chuồn chuồn kim/ Cũng xa bằng hai nước/ Biết đâu mà bay lên.

Chuồn kim ơi đừng sợ/ Những chú bé bắt mày/ Bởi thân mày quá nhỏ/ Bắt làm sao lọt tay/ Con chuồn kim màu chỉ/ Lặng lẽ khâu tháng ngày/ Vườn tôi đang rộng mở/ Tha hồ chuồn kim bay (Viết cho chuồn chuồn kim).

Ở thể thơ 5 chữ thường là sự dồn nén ở khổ thơ đầu và đến cuối bài thơ kết thúc một cách bất ngờ, vỡ tung sự dồn nén đôi khi táo bạo, và chủ đề của bài thơ vụt sáng. Kết cấu này xuất hiện nhiều trong thơ Lê Thị Kim. Chẳng hạn ở bài Xa mà gần là một ví dụ.

Ở khổ đầu: Ấm nóng giọt lệ tình/ Đậm hương mà trong vắt/ Vẫn giọt lệ nguyên tinh/ Không không mà sắc sắc.

Đến khổ cuối, kết thúc khá bất ngờ: Chỉ cỏ cây mới biết/ Mình trú ngụ nơi đâu/ Chỉ đất trời mới biết/ Tình mình thiên thu sâu.

Lê Thị Kim có nhiều bài thơ 5 chữ qua thời gian đọng lại trong tâm trí của người đọc như: Đừng nhìn em như thế, Khi tình yêu đến, Tình yêu không là gió, Anh có là mùa thu, Dốc vàng hoa quỳ nở, Khi chúng mình yêu nhau, Trái tim chỏng trơ, Viết cho chuồn chuồn kim, Ai níu mùa xuân đấy, Cùng tôi đi dạo, Nỗi nhớ sương đêm…

Lê Thị Kim đưa vào thơ của mình những hình ảnh so sánh, ẩn dụ mới lạ, độc đáo. Chị luôn nhìn tình yêu trong trạng thái luôn vận động. Có buồn - vui, khổ đau - hạnh phúc, bình yên - giông bão…

Tình yêu không là gió/ Chợt gần rồi chợt xa/ Tình yêu không là cỏ/ Mọc lan man thềm nhà

Em có một tình yêu/ Mỏng manh như nhánh lá/ Em có một tình yêu/ Như sóng ngầm biển cả (Khi tình yêu đến).

Bao con đường rộng mở/ Tình yêu làm cỏ may/ Đi qua là mắc nợ/ Gỡ ra xong lại đầy (Cùng tôi đi dạo)

Ta như người làm xiếc/ Đi trên một sợi dây/ Mỏng manh

Hai bên là bờ vực/ Một hạnh phúc, một khổ đau/ Một rã đói/ Một đủ đầy

Ta chọn điều gì/ Giữa hai bờ vực ấy?!!!

Với những liên tưởng thú vị, đem đến cho người đọc bao cung bậc, sắc màu đa dạng của tình yêu, hạnh phúc và khổ đau.

Ấn tượng về thơ Lê Thị Kim đó là giọng đằm thắm, dịu dàng, buồn man mác khi chia sẻ nỗi lòng của mình. Thơ chị là những suy nghĩ, trăn trở trước cuộc sống và tình yêu. Nhà thơ Trần Hữu Dũng khi đọc thơ Lê Thị Kim đã có nhận xét đầy ấn tượng: “Thơ Kim như một cô gái cúi xuống vòm đời nâng một bông hồng tình yêu”.

Đọc thơ chị và lời nhận xét của Trần Hữu Dũng, tôi nghĩ rằng bạn đọc rất tinh ý và có lý khi gọi chị là nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu; với một nghệ sĩ đa tài như Lê Thị Kim thì tuổi trẻ và tình yêu sẽ theo suốt cả cuộc đời. Tuổi trẻ và tình yêu được hiện thực hóa bằng những đứa con tinh thần và cả trong đời sống thường nhật./.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm