TIN TỨC

Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-12 01:52:25
mail facebook google pos stwis
514 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.

 

Nhà thơ Lê Văn Trung

“…Ta vẫn đi hoài suốt một đời du tử

Vẫn hoang mang lạc mất một phương về…” (Mây trắng bên trời)

Hai câu thơ ấy có thể xem như một lời tự bạch cho cả hành trình thi ca của Lê Văn Trung. Trong thế giới thơ của ông, con người hiện lên như một kẻ lữ hành giữa dòng thời gian, mang theo ký ức, những chia lìa của lịch sử và một nỗi hoang mang khó gọi thành tên về nơi chốn trở về. Cảm thức lưu lạc ấy không chỉ là một tâm trạng cá nhân mà dường như còn là tâm thế chung của một thế hệ đã đi qua nhiều biến động của đất nước.

Trong lịch sử thi ca Việt Nam, không phải mọi tiếng thơ đều vang lên từ những cuộc thi thơ, từ các trung tâm của văn đàn. Có những nhà thơ đi qua đời sống văn học một cách lặng lẽ, không thuộc về những phong trào ồn ào, không tìm kiếm sự nổi bật giữa đám đông. Nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại làm nên một vẻ đẹp riêng: vẻ đẹp của những tiếng nói chân thành, được chưng cất từ kinh nghiệm sống và những suy tư sâu kín của một đời người.

Nhà thơ Lê Văn Trung thuộc về những tiếng thơ như thế.

Thơ ông không phô trương, không cố gắng làm mới ngôn ngữ bằng những thủ pháp cầu kỳ. Nhưng khi đọc, người ta dễ dàng nhận ra trong đó một nỗi buồn rất thật: nỗi buồn của thời gian, của ký ức, của những cuộc chia lìa mà lịch sử đã đặt lên vai một thế hệ. Ở Lê Văn Trung, thơ không phải là một cuộc trình diễn nghệ thuật mà giống như một cuộc trò chuyện thầm lặng với chính mình, nơi nhà thơ đối diện với quá khứ, với quê hương và với những câu hỏi không dễ có lời giải đáp của đời sống.

Có lẽ vì thế mà thế giới thơ của ông thường hiện lên với những hình ảnh quen thuộc nhưng đầy ám ảnh: một sân ga chiều vắng, một con phố mùa đông, một vầng trăng khuya, hay một đám mây trắng lặng lẽ trôi qua bầu trời ký ức. Đó là những không gian của hoài niệm và cô đơn, nơi con người nhận ra mình chỉ là một lữ khách trong dòng chảy vô tận của thời gian.

Một cuộc đời nhiều biến động

Nhà thơ Lê Văn Trung sinh năm 1947 tại Quảng Nam, một vùng đất vốn giàu truyền thống văn học và tinh thần hiếu học. Sau khi tốt nghiệp Trường Quốc gia Sư phạm Quy Nhơn năm 1969, ông trở về dạy học tại quê nhà.

Ngay từ khi còn trẻ, ông đã tham gia vào đời sống văn học miền Nam. Thơ của ông được đăng trên các tạp chí như Bách Khoa, Văn, Ý Thức, Thời Tập – những diễn đàn văn học tiếng tăm thời bấy giờ. Sự xuất hiện của ông trên những tạp chí này cho thấy ông không đứng ngoài dòng sinh hoạt văn chương của thời đại mình mà hòa mình vào như là một cây bút thành danh.

Biến cố lịch sử năm 1975 đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông. Sau một thời gian sống tại Huế, ông bị đưa đi tù cải tạo nhiều năm. Khi trở về, gia đình ông chuyển đến vùng kinh tế mới Xuân Đông, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Những năm tháng ấy là những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đời ông. Ban ngày ông lao động như một người nông dân thực thụ: cuốc đất, trồng rẫy, vật lộn với cuộc sống mưu sinh. Nhưng bên trong người nông dân ấy vẫn tồn tại một tâm hồn thi sĩ. Ban đêm, khi mọi công việc đã xong, ông vẫn lặng lẽ đọc sách và viết.

Cũng chính những năm tháng ấy đã hun đúc nên một giọng thơ đặc biệt: trầm buồn, chiêm nghiệm và thấm đẫm cảm thức về sự mong manh của kiếp người.

Sau này, ông lần lượt xuất bản các tập thơ như Cát Bụi Phận Người (2006), Tịnh Khúc (2010), Thu Hoang Đường (2016), Biệt Khúc (2020). Tổng cộng ông đã viết khoảng 600 bài thơ, một con số cho thấy sự bền bỉ đáng kinh ngạc của một người làm thơ trong lặng lẽ.

Một tiếng thơ trong không khí thi ca miền Nam 

Đặt thơ Lê Văn Trung vào bối cảnh văn học miền Nam trước 1975, có thể thấy ông thuộc về một thế hệ thi sĩ trưởng thành trong một không gian văn học tương đối tự do và đa dạng.

Những tạp chí như Bách Khoa, Văn, Ý Thức, Thời Tập là nơi hội tụ nhiều khuynh hướng thi ca khác nhau: từ thơ lãng mạn, thơ hiện sinh cho đến những thử nghiệm của thơ tự do hiện đại.

Trong bầu không khí ấy, Lê Văn Trung không phải là nhà thơ tìm kiếm sự cách tân quyết liệt về hình thức. Thơ ông nghiêng nhiều hơn về trữ tình suy tưởng, nơi cảm xúc cá nhân hòa vào những suy ngẫm về thời gian, ký ức và thân phận con người.

Sau năm 1975, nhiều nhà thơ miền Nam mang trong mình cảm thức lưu lạc và mất mát. Trong thơ Lê Văn Trung, cảm thức này cũng hiện diện, nhưng không mang sắc thái bi tráng. Nó thường xuất hiện dưới dạng một nỗi buồn lặng lẽ, một sự hoang mang của con người khi nhìn lại quãng đời đã trôi qua.

Nỗi nhớ và không gian của ký ức

Một trong những mạch cảm xúc xuyên suốt thơ Lê Văn Trung là nỗi nhớ. Nhưng đó không phải là nỗi nhớ cụ thể về một người hay một nơi chốn, mà là nỗi nhớ mơ hồ về một thời gian đã mất.

Bài thơ “Phố Mùa Đông” là một ví dụ tiêu biểu:

"Tôi về qua phố mùa đông

Bơ vơ lạc giữa chập chùng nhớ quên"

Chỉ hai câu thơ đã mở ra một không gian tâm trạng. Con người bước đi giữa phố, nhưng thực ra lại đang đi giữa ký ức. Những hình ảnh tiếp theo – sợi mưa mềm, tóc bay, mắt đen huyền – giống như những mảnh ký ức mỏng manh hiện lên rồi tan biến.

Đặc biệt, đoạn kết của bài thơ:

"Nỗi quên

Niềm nhớ

Vô cùng

Nhớ

Quên."

đã diễn tả một trạng thái tâm lý rất tinh tế: khi ký ức và quên lãng đan xen vào nhau, khiến con người vừa muốn giữ lại quá khứ vừa bất lực trước sự trôi đi của thời gian.

Thân phận cô đơn của kẻ lữ hành

Trong nhiều bài thơ của Lê Văn Trung, nhân vật trữ tình xuất hiện như một người đi một mình giữa thế giới. Bài thơ “Ga Chiều” thể hiện rất rõ cảm giác ấy:

"Một mình ta giữa sân ga

Nhớ con tàu cũ đã nhòa trong sương".

Sân ga vốn là nơi của những chuyến đi, của những cuộc chia tay. Nhưng trong bài thơ này, không có đoàn tàu nào cả. Chỉ có một con người đứng giữa khoảng không gian trống vắng của buổi chiều. Nhà thơ còn phủ định cảm xúc của mình:

"Buồn không? Không phải nỗi buồn

Nhớ? Không phải nhớ"

Những câu phủ định ấy làm cho cảm xúc trở nên mơ hồ hơn, sâu hơn. Đó không chỉ là buồn hay nhớ, mà là một trạng thái trống vắng của tâm hồn.

Nỗi hoài hương và sự xa lạ với quá khứ

Một trong những bài thơ giàu chiều sâu chiêm nghiệm của Lê Văn Trung là “Trăng Bạc”. Ở đây, nhà thơ nhìn lại một quãng đời dài đã trôi qua:

"Hơn bốn mươi năm! Ừ! Đã qua

Lòng ai? Lòng viễn khách xa nhà".

Thời gian “bốn mươi năm” không chỉ là một con số. Nó là khoảng cách của cả một đời người.

Khi trở về, nhà thơ nhận ra rằng mọi thứ đã đổi thay:

"Nhà xưa đây! Người bỏ đi rồi

Lòng của ta xưa giờ cũng lạ".

Bi kịch lớn nhất không phải là sự đổi thay của cảnh vật, mà là việc con người cũng trở nên xa lạ với chính quá khứ của mình.

Ở cuối bài, hình ảnh nhà thơ ngồi nói chuyện với vầng trăng tạo nên một khung cảnh rất đẹp:

"Ta ngồi chuyện với vầng trăng lạnh

Đã thức cùng ta đến bạc đầu".

Trăng ở đây không chỉ là một tinh cầu mà còn là nhân chứng của thời gian.

Triết lý về thân phận và sự vô thường

Một nét đáng chú ý trong thơ Lê Văn Trung là cảm thức triết lý về đời sống. Trong bài “Hạt Bụi”, ông nhìn lại cuộc đời như một cuộc rong chơi đã gần đến hồi kết:

"Ta về tàn mạt cuộc rong chơi

Dòng máu trong tim chảy ngậm ngùi".

Điều thú vị là nhà thơ không ngần ngại hoài nghi cả giá trị của thơ ca:

"Chữ nghĩa văn chương ôi phù phiếm

Trăm năm ta khắc đá đề thơ".

Nhưng cuối cùng, ông nhận ra:

"Mới hay thơ chỉ là cơn mộng

Thơ chỉ là sương là khói bay".

Những câu thơ này mang một tinh thần rất gần với triết lý phương Đông: mọi sự đều mong manh và vô thường.

Ký ức chiến tranh và tình thầy trò

Trong số những bài thơ của Lê Văn Trung, bài “Trong Mơ Tôi Thấy Các Em Về” có lẽ là bài thơ mang tính hiện thực và xúc động nhất.

Là một người thầy, nhà thơ mơ thấy những học trò của mình trở về:

"Đứa đồi cao ôm súng nhớ sân trường

Đứa què quặt đi bằng đôi nạng gỗ".

Những hình ảnh ấy phản ánh bi kịch của một thế hệ thanh niên bị cuốn vào chiến tranh.

Đặc biệt ám ảnh là đoạn:

"Đứa lủng lẳng đôi tay còn bết máu

Nằm im lìm trên từng chiếc băng ca".

Nhưng trong nỗi đau ấy vẫn có một tia sáng của tình người:

"Nhìn được nhau cũng đủ gượng môi cười".

Bài thơ trở thành một khúc tưởng niệm lặng lẽ dành cho những học trò đã không còn trở về.

Một tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ

Trong tương quan với một số nhà thơ miền Nam như Du Tử Lê hay Tô Thùy Yên, thơ Lê Văn Trung có những nét gần gũi nhưng cũng có những khác biệt.

Giống Du Tử Lê, thơ ông mang giọng điệu buồn và nhiều suy tư về thân phận. Tuy nhiên, nếu Du Tử Lê thường bộc lộ cảm xúc mạnh mẽ, thì thơ Lê Văn Trung lại chọn sự tiết chế và lặng lẽ.

Còn nếu đặt cạnh Tô Thùy Yên, ta có thể thấy một điểm chung là cảm thức lưu lạc của con người trong lịch sử. Nhưng nếu thơ Tô Thùy Yên mang chiều kích bi tráng và sử thi, thì thơ Lê Văn Trung lại riêng tư hơn, giống như những lời độc thoại của một tâm hồn cô độc.

Trong đời sống văn học, có những nhà thơ tạo dấu ấn bằng sự cách tân mạnh mẽ, có những nhà thơ nổi bật nhờ những tuyên ngôn nghệ thuật lớn. Nhưng cũng có những người làm thơ chỉ đơn giản vì họ không thể không viết. Thơ đối với họ giống như một cách giữ lại những gì đang dần trôi xa trong ký ức.

Đọc thơ Lê Văn Trung, người ta có cảm giác đang bước vào một thế giới rất yên tĩnh. Ở đó không có những âm thanh ồn ào của đời sống, chỉ có tiếng nói trầm lắng của một tâm hồn đã đi qua nhiều biến động và đang lặng lẽ nhìn lại quãng đường mình đã đi.

Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.

Có thể nói, Lê Văn Trung không phải là một nhà thơ của ánh đèn sân khấu văn học. Ông giống như một người ngồi bên lề cuộc đời, lặng lẽ viết xuống những dòng thơ của riêng mình. Nhưng đôi khi chính những tiếng nói lặng lẽ ấy lại có sức bền lâu nhất, bởi chúng được sinh ra từ sự chân thành và từ những trải nghiệm thật của đời sống.

Nếu phải tìm một hình ảnh để nói về thơ Lê Văn Trung, có lẽ không gì thích hợp hơn chính hình ảnh mà ông nhiều lần nhắc đến trong thơ mình: mây trắng bên trời.

Một đám mây trôi chậm trên bầu trời rộng lớn của thời gian. Không rực rỡ, không ồn ào, nhưng vẫn đủ để người đứng dưới đất, trong một khoảnh khắc nào đó, chợt dừng lại và ngước nhìn. Và đôi khi, chính những đám mây lặng lẽ ấy mới là điều khiến bầu trời của ký ức không trở nên trống rỗng.

Nhung Le

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm