TIN TỨC

Lửa và Nước trong một bài thơ tình lạ và hay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-10-07 16:36:40
mail facebook google pos stwis
2323 lượt xem

PGS -TS NGUYỄN ĐỨC HẠNH


Trong chùm thơ 7 bài của Như Bình đăng trên “Viết và Đọc” chuyên đề mùa Hạ có 4 bài về tình yêu đôi lứa, 3 bài về chủ đề khác. Trong 4 bài về chủ đề tình yêu ấy “Ảo giác” ; “Trầm cảm 1” ; “Con thú”; “Viết về cái chết” thì bài thơ “Ảo giác” có sức mạnh ám gợi lạ lùng.

 

ẢO GIÁC

                           (Như Bình)

Anh sẽ nhớ em nhiều đấy
căn phòng ấy sáng nay gió lùa trở lạnh
tiếng ghế gỗ, tiếng mọt kiên trì kêu trong im lặng
ngoài kia sương giá rơi rồi.

Nỗi nhớ sẽ giày vò anh nhiều đấy
trong bủa vây mùi em trên từng nốt rêu ẩm mốc
cốc trà nguội dấu môi em còn ướt
ai hôn lên bóng em.

Ai gói giùm anh hương em
sợi tóc em hôm qua rụng ngời trên ghế
anh sẽ nhớ em nhiều lắm
khi mùa đông lạnh giá đang về.

Anh sẽ nhớ em nhiều đấy
mùa đã qua
những chiếc lá rụng bên thềm xóa bước chân em rất khẽ
nhấn chìm anh những khắc khoải vừa xa

Chúng ta đã tìm nhau, đã rời nhau, đã vắng xa nhau
chúng ta đã hôn lên nỗi cô đơn của nhau
để giờ đây
trong căn phòng chật đầy hương em
anh ngồi ăn kỉ niệm.

 


Nhà văn Như Bình.

Trong chùm thơ 7 bài của Như Bình đăng trên “Viết và Đọc” chuyên đề mùa Hạ có 4 bài về tình yêu đôi lứa, 3 bài về chủ đề khác. Trong 4 bài về chủ đề tình yêu ấy “Ảo giác” ; “Trầm cảm 1” ; “Con thú”; “Viết về cái chết” thì bài thơ “Ảo giác” có sức mạnh ám gợi lạ lùng. Ba bài thơ còn lại đều lạ và hay nhưng “Ảo giác” lạ lùng nhất, như một cuốn phim quay chậm, nhân vật Em trở về ngắm nhìn nhân vật Anh trong một không gian kì lạ. Cô ta độc thoại chậm, lạnh như nước mùa đông trôi trong suối, nhưng thực ra là đối thoại một phía - nói với Anh mà Anh nào có hay?

Dưới dòng suối mùa đông kia có một ngọn núi lửa phun ngầm - có lửa tình yêu cháy trong nước lạnh. Một cách viết lạ ít gặp trong thơ nữ Việt Nam đương đại: Không gào thét kêu đau và nhớ; Không cuống quýt sôi sục yêu và thương... Sao trong giọng điệu lạnh, điểm nhìn nghệ thuật di chuyển chậm, hệ thống thi ảnh trầm mặc, ít sử dụng những tính từ diễn tả cường độ mạnh, mà khi những câu thơ vang lên, chúng ta vẫn cảm nhận được một dòng thác bị “giam cầm" trong câu chữ.

Năm khổ thơ có bốn câu hỏi được điệp lại: “anh sẽ nhớ em nhiều đấy/ anh sẽ nhớ em nhiều lắm …”.

Hình như môtip “Người xuyên không” được sử dụng ở đây!? Hay thủ pháp dịch chuyển điểm nhìn trong không gian đồng hiện của Điện ảnh?! Nhân vật em như trở về một cách vô hình, vô ảnh, một cách siêu thực khi đứng ngoài không gian yêu thương của hai ta mà đăm đắm nhìn vào, mà đăm đắm độc thoại. Rồi bốn lần độc thoại “anh sẽ nhớ em nhiều đấy /lắm!”. Mà làm sao anh có thể không nhớ khi có bao tín hiệu thẩm mĩ thay mặt em hiện diện bên anh, như lướt qua, như hiển diện, cựa quậy, nói thầm, nhắc nhớ anh về em: “mùi em trên từng nốt rêu ẩm mốc”; “dấu môi em còn ướt”; “ai hôn lên bóng em”; “sợi tóc em hôm qua rụng ngời trên ghế”; “lá xóa dấu chân em rất khẽ…”. Tất cả thay em hiện diện trong căn phòng của anh, trước anh và cất tiếng với anh bằng tiếng nói vô thanh.

Đó là một thủ pháp độc lạ, rất lạ của Như Bình, chị làm người đọc ám thị, nổi da gà, ám ảnh bởi tiếng thổn thức của tình yêu vẫn ở lại, đập khắc khoải trong căn phòng, quấn quýt lấy người đàn ông mình yêu, nhưng hồn vẫn còn đó là thân đã phách lạc, cái thân xác cụ thể hiện thực đã không còn hiển diện nơi đây. Một không gian vắng Em mà vẫn đầy Em, vương mùi em, hương em, và tiếng nói vô thanh của em. Rồi yếu tố ngoại cảnh như gió thổi, than hồng càng thổi bùng nỗi nhớ trong anh mấy lần bùng cháy: “ngoài kia sương giá rơi rồi”; “mùa đông lạnh giá đang về”; “gió lùa trở lạnh…”. Như Bình lạnh, thản nhiên, điềm tĩnh quan sát hồn chị trong những thi ảnh vương vất nơi chị vừa ra đi, hoặc chị đã bỏ đi và chắc chắn một điều người ở lại sẽ không yên ổn dù chị đã xa ngái.
 

Không có một bản năng thi sĩ mãnh liệt kết hợp cùng Thiên tính Nữ, sẽ không viết được bốn câu thơ này:

Mùa đã qua
những chiếc lá rụng bên thềm xóa bước chân em rất khẽ
cầu thang cũ ngoài kia run lên rất nhẹ
nhấn chìm anh những khắc khoải vừa xa

“Thi trung hữu hoạ”. Thơ Như Bình luôn thế, chị vẽ bằng ngôn từ cả cái hữu hình và vô hình của thế giới, của lòng người. Trong bốn câu thơ trên, sợi tóc em vừa ngời sáng như làm bằng tia nắng trên ghế hôm qua, vậy mà chỉ cần em bước ra khỏi phòng, “Mùa đã qua”! Chao ôi! Bước chuyển của thời gian nghệ thuật: ở trong phòng và bước ra ngoài đã là hai thế giới CÓ ANH và KHÔNG ANH, ấm áp và lạnh lẽo khác nhau đến chừng nào?!

Chả thế mà “những chiếc lá rụng xóa bước chân em rất khẽ”. Anh có nghe thấy “Cầu thang cũ ngoài kia run lên rất nhẹ”?. Hỏi người cũng là hỏi mình. Tôi là người bình thơ cũng cùng cầu thang cũ run lên trong khoảnh khắc chia biệt. Càng nói thầm nhẹ bao nhiêu càng sâu xoáy bấy nhiêu. Khi cảm xúc tình cảm còn ở mức dịu nhẹ thì hay tìm đến ngôn từ ồn ào to tát để bù vào sự nhạt, và ngược lại. Tôi như đã nếm được độ mặn chát đến tột cùng của những câu thơ “ngoài đạm trong nồng” như người xưa từng nói.


Bến sông trăng - Tranh Như Bình.

Đến khổ thơ thứ 5, người đọc giật mình thêm một lần nữa:- câu thơ thứ nhất cắt nhịp 5/3/4, đánh dấu ba khúc đoạn trong đoạn đường đã chạy quanh kỉ niệm bằng 3 động từ TÌM - RỜI - VẮNG. Chỉ một câu thơ đã vẽ lên những bước chạy thập thõm, hơi thở gấp, lời độc thoại cũng đứt làm ba khúc. Lần đầu tiên từ “Chúng ta” xuất hiện trong bài thơ mà đến mấy lần bị chia cắt: “đã tìm nhau”, “đã rời nhau”, “đã vắng xa nhau”. Nụ hôn xuất hiện ở câu 2 tưởng như môt sự bù đắp sau bao chia li? Không! Đó là nụ hôn lạ và đau nhất trong các bài thơ tình tôi từng đọc, của Việt Nam và của thế giới: “chúng ta đã hôn lên nỗi cô đơn của nhau”…. Chỉ một từ “đã” mà dĩ vãng dằng dặc tìm về. Chắc chắn có cả ngọt ngào và chua xót.

Mơ rồi phải tỉnh. Em trở về hiện tại, lặng ngắm nhìn một hình ảnh lạ và buồn bã vô cùng:

Trong căn phòng chật đầy hương em
Anh ngồi ăn kỉ niệm.

Kĩ thuật của hội hoạ, của điện ảnh hòa quyện để khắc họa hai nhân vật trữ tình Em và Anh trong đối thoại một phía của em, trong dòng chảy thời gian thay đổi, chồng lấp, đồng hiện qua một không gian: “căn phòng chật đầy hương em”. Động tác “ăn kỉ niệm” của nhân vật Anh khiến người đọc giật mình nhưng cũng khiến cho nỗi buồn ngời sáng lạc quan. Anh không dửng dưng vô tình thì buồn xa cách không bao giờ chuyển thành tuyệt vọng. Anh vẫn “ăn” hương em, kỷ niệm của em như một món ăn tinh thần không thể thiếu để sống tiếp, để đi qua những chông chênh của cõi lòng. Người truyền thống có thể sẽ phản đối chị dùng động từ “ăn kỷ niệm”, nghe nó thô quá chăng? Tôi lại thấy Như Bình sâu sắc. Chị có chủ ý khi chắt lọc ngôn ngữ mạnh, đa nghĩa để đặt đúng chỗ. “Ăn” đau đớn và sâu hơn nhiều, phồn thực hơn nhiều so với hít, ngửi, nhớ. Ăn kỷ niệm đau sâu và đa nghĩa hơn vạn lần “anh ngồi nhớ thương kỷ niệm”.

Thơ Như Bình luôn thế, không bi quan gục ngã, một sức mạnh tinh thần luôn nâng đỡ để thi sĩ vượt lên thử thách, mỉm cười khi trái tim đang chảy máu.

Có lửa cháy ngầm trong nước lạnh và trong. Có hồi quang kỉ niệm trong "Ảo giác". Thành thực và trong veo đến tột cùng trong nội dung. Mới và đẹp cũng đến tột cùng trong hình thức biểu đạt nghệ thuật. Viết cho mình mà đâu còn riêng mình bởi tôi tin khi đọc bài thơ này, có biết bao người phụ nữ tìm thấy cuộc đời và tâm trạng mình trong đó. Đấy là thơ của Như Bình!

Nguồn:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm