TIN TỨC

Mạch ngầm nhân văn trong ‘Từ ban công nhìn ra’ của nhà thơ Lâm Bằng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-01-09 13:06:05
mail facebook google pos stwis
1738 lượt xem

Vũ Tuyết Nhung

Đến với thơ, mỗi người có một cách tiếp cận và vùng đất của riêng mình. Có người say sưa trong hương hoa và nhan sắc, có người miệt mài theo đồng gió hương quê… Và có rất nhiều nhà thơ đã chắt từ nước mắt nhân gian những câu từ mặn đắng, để cất lên khắc khoải riêng mình. Nhà thơ Lâm Bằng cũng đi con đường này. Mặc dù vậy từng con chữ của anh không quằn quại, quánh đặc nỗi buồn mà đau mà tủi như một số nhà thơ khác.

Ngược lại, từng  câu chữ của anh  cứ lạnh lùng, dửng dưng, khi viết về những nỗi đau nhân thế. Nhưng đến khi đọc xong , chúng ta mới cảm nhận được ẩn sau sự bình thường ấy, là bao giọt mặn đang đọng trên mi mắt nhà thơ. Và mới thấu hết được tư tưởngnhân văn của tác giả “ Từ ban công nhìn ra”.


Nhà thơ Lâm Bằng.

Nhà thơ Lâm Bằng tên thật là Bùi Văn Bằng, sinh ra và lớn lên ở làng Xuân Áng xã Hà Bình huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hoá. Hiện nay anh đang là trưởng ban thơ , là hội viên hội nhà văn Việt Nam, làm báo và sinh sống tại thành phố Thanh Hoá. Anh đã đạt được 24 giải thưởng về thơ và truyện ngắn. Tập thơ “Từ ban công nhìn ra” là tác phẩm thứ 11 đã xuất bản của anh (tính cả thơ, trường ca, truyện tranh, bút ký). Mở đầu tập thơ là một câu chuyện tưởng như tầm phào:

“Buổi Sáng ra vườn

Lá rung rinh

Hớn hở đón ánh mặt trời

Giọt sương dè dặt

Rơi

Sương chạnh lòng

Đêm qua

Khi rơi xuống

Lá rung rinh hớn hở”

nhưng khi đã đọc xong câu cuối rồi ngẫm chúng ta mới giật minh. Thì ra là tác giả mượn cảnh kể đời, nói lá sương để bàn chuyện người. Câu chữ tối giản mà sâu sắc, đa tầng nghĩa xen lẫn nhiều thể thơ  đã khiến cho “Từ ban công nhìn ra“ như một món ăn lạ trên bàn tiệc văn chương. Và  đôi mắt của nhà thơ cứ hờ hững nhìn mọi vật mọi việc dàn trải trước mắt tưởng như vô cảm. Nhưng trong sâu thẳm của hồn chữ lại là một nỗi đồng cảm đa mang tinh tế với cuộc đời.

Anh đau cho sự thay lòng, bạc bẽo của con người. Mới tối qua khi sương đem mát lành đến lá đã “rung rinh hớn hở”. Nhưng khi đã thoả mãn nhu cầu của mình rồi thì lá để “sương chạnh lòng” rơi và trút đời mình vào đất khi chứng kiến cảnh “lá rung rinh /hớn hở đón ánh mặt trời”. Điều ấy trải dài suốt hành trình của tập thơ , cụ thể nhất là những bài như “Con tắc kè trên mái nhà tôi,cây lau, buổi sáng nhìn ra ban công, thường tình”.

Anh đau cùng những kiếp người cuộc sống vất vả lận đận mãi mà vẫn đói nghèo , thể hiện trong các bài “Những người ve chai, Đồng trưa, Những người đánh giậm’’. Và cho những người đàn bà bé nhỏ lẻ bóng( Chỉ biết nàng đang khóc, Góa phụ, Bất chợt buổi sáng). Đau khi phải chứng kiến cảnh con người lạm dụng tàn phá quá mức nguồn tài nguyên khiến mẹ thiên nhiên cạn kiệt, tổn thương và nổi giận (Cái gốc cây khô, Mẹ thiên nhiên nổi giận).

Đau khi chứng kiến sự thờ ơ lạnh lùng của những kẻ vô tâm, bất tài, thiếu trách  nhiệm đối với những giá trị nhân văn , những nền tảng đạo đức văn hóa của cha ông để lại (Những linh hồn nô lệ, Khúc luân vũ của những giá trị, Thường tình 2, Tiệc ảo giác…)  nên ngôn từ đã trở nên sắc lẹm và có phần chua chát:

“Những tư duy hoá thạch

Cũn cỡn chạy xô đồng xu lẻ

Những tưởng đã tới ngõ thiên đàng

Bội thực ảo giác”

(Tiệc ảo giác)

rồi đưa ra những triết luận đa chiều vào trong thế giới nhân sinh quan của mình (Tương đối luận, Không phải ai cũng nhận ra, Vũ trụ, Đức tin…). Tôi thích những diễn ngôn nhẹ nhàng mà sâu sắc như thế này:

“Nước trôi

Thuyền trôi

Với bờ thuyền đi

Với nước thuyền đứng

Mây lòng sông không đứng không đi”

(Tương đối luận)

”Cây gậy vịn ông già đi cà nhắc

Không có ông già , gậy ngã lăn ra đất

Cái mũ phớt diễu cợt cái đầu

Tao làm cho mày đẹp

Đầu bảo: ”Không có tao, mày rơi xuống đất”

Tôi có cảm giác tư tưởng nhân văn trong tập thơ ”Từ ban công nhìn ra” của nhà thơ Lâm Bằng như một ngọn núi lửa đang hình thành. Bề ngoài tưởng bình yên tĩnh lặng nhưng bên trong nham thạch phun trào. Ẩn sâu trong sự lạnh lùng, đôi khi hơi dài dòng về ngôn từ ấy, là một trái tim ấm áp đang hòa nhịp đập cùng những trái tim khác quanh mình. Đôi mắt nhà thơ đâu chỉ thấy mỗi nỗi đau hiện hữu, đâu chỉ thấy mỗi nỗi khổ trải dài, bởi ánh nhìn trong ”Từ ban công nhìn ra” là cái nhìn đa chiều, đa sắc. Bên cạnh những hiện thực rối bời khổ buồn ấy , nhà thơ còn nhìn thấy những hiện hữu của hạnh phúc quanh mình . Đó là niềm vui trông cháu nội của người hàng xóm nhà cạnh bên(Thằng cu Mậm nhà bên), là vẻ mặt thỏa mãn sau một ngày làm việc của những người đánh giậm (Những người dánh giậm), là ”dàn đồng ca ve hồn nhiên trước thất thường của đêm (Đầu tiên là tiếng ve)… Mặt khác, ”Từ ban công nhìn ra’’ còn là cái nhìn tri ân với những bậc tiền nhân và những anh hùng đã hi sinh để kiến tạo hòa bình dân tộc , là ánh mắt xót xa đồng cảm với nỗi đau hậu chiến (Đá núi Vân Hoàn tạc một khối xanh, Chín cánh hải âu về lòng đất mẹ, Những người ve chai và tiếng nổ Quan Độ, Văn Phú)

Theo tôi thì điều thú vị mà tập thơ ”Từ ban công nhìn ra’’ mang lại cho người đọc (cũng có thể nói là sự bất ngờ  của tập thơ) là sau khi đưa người đọc trải qua những cảm giác của hiện thực tàn nhẫn và lòng người chua chát, của sự ngậm ngùi nuối tiếc về một thời xanh , của sự hoài cảm tri ân tiền nhân, lưu luyến vấn vương với những cảm tình quá vãng, thì chúng ta lại bắt gặp cảm xúc an vui trên những cánh hoa của sự lạc quan tỏa nắng ấm không gian ngày mai, dưới bầu trời tương lai:

”Nắng nung

Cây khát

Hạt trở mình mơ gốc cổ thụ trăm năm’’

(Cây)

để rồi nhận ra:

“Phía chân trời

Hình như đang sinh nở một hành tinh…

(Không phải ai cũng nhận ra)

V.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm