TIN TỨC

Một bông hoa lặng lẽ thiền trên cát bỏng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-01-01 14:25:15
mail facebook google pos stwis
1035 lượt xem

KHUẤT BÌNH NGUYÊN

Năm 1995. Khi đã bước vào tuổi 43, Mai Quỳnh Nam cho in tập thơ đầu tay Bước trượt. Sao ở cái tuổi ấy còn bước trượt được nhỉ? Và lại là bước đầu tiên của thơ ca? Thế là thấm thoắt một đời thơ. Đến năm 2024. Ngót nghét 30 năm rồi. 7 tập thơ ra đời.

Sau Bước trượtCác sự việc rời rạc. 2002. Phép thử thuật tư biện 2007. Biến thể khác. 2012. Không thiên vị.2014. Không tì vết. 2020. Một phía.2024. Giữa thời buổi người ta không mặn mà gì với thơ nữa, các mỹ nhân đa tình nhất phần nhiều liếc mắt vào cửa ngân hàng và trong khi người thi nhân ấy có thể làm nhiều công việc khác phục vụ cho sự tiêu dùng lại không làm mà nhất quyết đi làm thơ. Bởi thế, tôi trân trọng những gì mà cả một đời người đã gắn bó và lặn lội với Thơ, tưởng như chẳng bao giờ dứt được. Chao ôi! Cái nghiệp chướng văn chương là vậy đấy.

Vào thời điểm Mai Quỳnh Nam bước lên diễn đàn văn chương, đã xuất hiện những người ra đi từ Ngôi nhà tuổi 17 để ngẫm nghĩ về Sự mất ngủ của lửa, những người Củi lửa cho Thời đại thanh xuân. Và những viên tướng sống chết trên bãi chiến trường suốt thế kỷ 20, người ta đã cho viên tướng ấy về hưu để ngẫm nghĩ sự đời trong trang sách mà buộc lòng lại lên ngựa chiến để ngã xuống sa trường như một lời tuyên thệ không thể sống chung với sự suy đồi của đạo đức xã hội…Tuy vậy, đến cuối thế kỷ 20, một trong những dòng chủ đạo được tạo nên, nhất là ở lĩnh vực thi ca vẫn là những cây bút nhiều xung lực từ những năm tháng chống Mỹ cứu nước và âm hưởng chủ đạo của nền thơ vẫn do lực lượng ấy cầm trịch. Bởi thế, cho nên ba tập thơ đầu của Mai Quỳnh Nam Bước trượt - Các sự việc rời rạc- Phép thử thuật tư biện mang dấu ấn cả về mặt đề tài, phương thức thể hiện của phong trào thơ chống Mỹ cứu nước. Tôi thường nghĩ rằng: những cảm xúc thơ chân thành và nguyên sơ ban đầu thường làm nên một đời thi sĩ. Và Mai Quỳnh Nam đã lên đường với thi ca là bắt nguồn từ dòng chảy dào dạt ấy chăng?

Bước trượt là dấu cộng của ký ức về chiến tranh. Làm những bài thơ về chiến tranh sau 20 năm im tiếng súng, những ám ảnh không nguôi suốt đời Mai Quỳnh Nam: Cỏ, Bệnh binh, Màu trắng, Tiếng chim bắt cô trói cột

Đó là cỏ trên bãi chiến trường,

Cỏ ngút ngát cỏ mừng tôi rối rít

tôi tơ non, cỏ biếc đang mầm

 

Bên công sự chỏng trơ mũ sắt

cỏ sậm đen theo vệt người nằm

Cỏ sống chết với người lính trẻ, cưu mang họ những lúc hiểm nghèo, “Đêm trinh sát máu loang áo cỏ”, Mai Quỳnh Nam “…cõng bạn rẽ làn đạn nổ” nhờ “ cỏ lên xanh che bạn, che tôi”, để từ đấy, người lính thấy “ trời cao thẳm bỗng rào rào tiếng gió”, “ chim kết đàn tha cỏ vụt lên

Đó là cái chết của người bệnh binh nằm cạnh Mai Quỳnh Nam giữa núi rừng phương Nam mênh mông mà khốc liệt, một cảnh như triệu cảnh người lính trận đã ra đi, những năm bom đạn giản đơn như thế đấy:

Người bệnh binh trút hơi thở cuối cùng

vào giữa lúc cơn giông ập xuống
 

Anh đi vội võng chưa kịp cuộn

võng anh nằm song song võng tôi
 

Đó là màu trắng chết chóc của chất độc hoá học hiện lên hình hài của một con người bé nhỏ chưa bao giờ nghe tiếng đạn nổ, bom rơi

Người đàn bà vật vã trên bàn đẻ

sau cơn đau kinh hoàng của người vượt bể,

chị nâng đỡ trên tay đứa bé

dị dạng hình người

không tiếng khóc

Cả thế kỷ 20, người Việt Nam phải trải qua bốn cuộc chiến tranh, thơ ca nào nói hết được những nỗi đau của sự hi sinh mất mát, và nói như thế nào cho đủ được đây? Ký ức về chiến tranh trải dài suốt các tập thơ của Mai Quỳnh Nam: Lính trinh sát, Ngoài bưng có gì? Nó là thế này đây, Cấp số nhân…dai dẳng bám vào thế giới tinh thần Mai Quỳnh Nam sau 30 năm anh rời quân ngũ.

Những câu hỏi viết về người lính trẻ: “ Những đồng hương Nghệ An, vừa gàn vừa gan”, “ Tiếng oang oang đầy đò sông Lam”. “ Và họ ai trúng bom ở binh trạm 15”, “Ai ngã gục dưới pháo bầy, pháo chụp” “ máu lênh loang trên Vàm cỏ đông”. Và ở binh trạm số 1 “Người đi trước vẫn chưa về trước”, “ người đi sau chẳng thấy về sau” .Và người đồng đội chỉ sống trong ký ức “ gương mặt anh thật hiền”, “ trên nấm mồ ở nghĩa địa Bình Xuyên”.

Thơ về chiến tranh của Mai Quỳnh Nam không chỉ là dấu ấn bảy năm đời lính của anh từ 1970 đến 1977, mà còn là một quãng dài của thời gian suy ngẫm về cuộc chiến, khi anh may mắn trở về. Nhờ đó, thơ Mai Quỳnh Nam góp một tiếng nói có trách nhiệm và đầy cảm khái về những ngày cả đất nước ta ra trận.

Sau chiến tranh là đến hoà bình. Cũng là lúc cảm xúc thơ đầu tiên của Mai Quỳnh Nam về một miền miên man tuyết phủ nước Nga, khi mà “ sông Matxcova ngập tràn tuyết trắng”. Ở đó, anh đã có một cái nhìn khác khi ví mình như là hạt tuyết trinh trắng, “ còn bao nhiêu buốt lạnh” “ ném trả về hư vinh” và sớm nhận ra “ chấp nhận mình như một số phận”, “ một lối nghĩ” “ một cách viết” cho văn chương. Vì thế, vì tự nhận một số phận gửi mình cho thi ca như thế, màu vàng và sự tĩnh lặng của mùa thu đã đưa người lính Mai Quỳnh Nam đến với tình yêu cuộc sống bằng một gam màu tưởng như phổ quát mà riêng có của xứ bạch dương trong sự cô đơn “trời mùa thu đắm đuối không yên

Mùa thu vàng hàng cây bạch dương

sông long lanh cỏ ướt mờ sương

nắng mỏng mảnh tan vào tĩnh lặng

chiều rực thắm những gam màu ấm sáng

Từ tập Biến thể khác, đúng như đầu đề của nó, Mai Quỳnh Nam bắt đầu rục rịch làm một điều gì đó không giống với những gì anh đã có khi tiếp thu truyền thống của phong trào thơ ca chống Mỹ cứu nước. Anh tâm sự: “Tôi đang mang những con chữ vào miền quên lãng”. Tâm trạng thơ đã mở đến những biên độ mới, những biên độ không có gì xa lạ, đã ẩn chứa từ trước đó, trong thơ anh. Đó là cảm thức về những nỗi đau của thân phận làm người. Chen lẫn những khúc tình ca “biển đục quá anh trong sao được”, là một nỗi buồn muôn thưở như ở trong cổ thi.

Em thêm một nỗi ưu phiền

tôi thêm một nỗi truân chuyên trong đời

tàn ngày một cánh hoa rơi

một đôi chim nhạn cuối trời biệt tăm

Sự rục rịch ấy thể hiện bắt đầu đi tìm một phương thức phản ánh hiện thực trước những biến động không lường của thời cuộc. Anh tự dằn vặt lương tâm mình ở “Xã hội học lúc 0 giờ” khi chú bé đánh giày đã ngủ, cô gái bán mình đã dứt cuộc tình, những ông chủ vừa tan tiệc rượu, giá vàng vừa tỉnh vừa say, người đàn bà không thấy vẻ khát thèm của người chủ chứa. Và “Các tác phẩm được giải” “tươi như món dưa muối xổi”, “những cây bút vàng sẵn sàng lên đài đăng quang”. Người nhặt rác nhặt những giải Oscar…, để tất cả bước vào cuộc cuối ngày.

Nắng trôi qua đã trọn một ngày

nắng đắng chát tóc người bạc trắng

Mai Quỳnh Nam mong muốn tìm một con đường khác cho thơ, khác với những gì anh đã viết ở ba tập thơ đầu. Mai Quỳnh Nam chuyển mạnh sang khuynh hướng lấy lý trí làm trọng điểm, coi trọng thơ nhấn vào ý tưởng xã hội sâu sắc và được thể hiện trong một thi pháp kiệm lời. Anh như một bông hoa đang thiền trên cát bỏng, dùng tư biện duy lý để thi ca phát hiện chân lý đời sống và những vùng sáng thẩm mỹ mà có người gọi là điểm ngời sáng trong thơ. Con đường đó chưa ai nói rằng nó dễ dàng và dễ đi, đôi khi chỉ mong được sự cảm thông của một người mà thôi… “Có một người”, “ít nhất, có một đời”, “những lúc buồn vui”, “nhẩm đọc” “vài câu thơ của tôi”. Mai Quỳnh Nam đi tận cùng đến thơ ngắn. Ngắn đến nỗi bài thơ chỉ một, hai, thậm chí ba câu là cùng. Như một sự phát hiện không cần diễn giải. Những khi ấy, anh đang thiền trăng với một bài thơ chỉ có một đôi dòng về tình yêu và triết lý nhân sinh.

Em là bóng trong nắng chiều trắng xoá

***

Em về để sợi tóc rơi

trăm năm một kiếp một thời tóc mây

***

Hoa hoài nghi

mang về hương quả đắng

***

Phiên chợ lặng im

tôi bán hai nghìn một tiếng chim

***

Cơn gió thoảng qua, rồi đi thôi

lạnh và mong manh như kiếp người

***

Từ tận cùng đau đớn

tôi dâng hiến


Một số tác phẩm đã xuất bản của Mai Quỳnh Nam.

Những năm cuối thế kỷ 20 và 24 năm đầu thế kỷ 21, khi mà thơ Haiku cực ngắn về số từ và dòng thơ nhập vào qua các bến cảng văn chương, nhiều người làm thơ thời chống Pháp như các ông Lê Đạt, Trần Dần…thời chống Mỹ như Hữu Thỉnh trong tập Ghi chú sau mây, cùng nhiều nhà thơ trẻ khác muốn đi đến những bài thơ cực ngắn như là một hướng tìm tòi. Thách thức lớn nhất của loại thơ này phải dựa trên một ý tưởng sâu sắc, một triết lý xung động làm điểm bừng sáng cho thơ. Mai Quỳnh Nam đi vào thơ cực ngắn theo hướng lấy Bertol Brecht làm phương châm. Ở đó, thơ là sự khắc khoải đến cùng cực của trí tuệ. Anh muốn tiếp nối sự giải thích tứ thơ Sợi dây thừng bị đứt của Bertol Brecht bằng một ý nghĩa khác, không chỉ là không nối lại nguyên lành được nữa, khi sợi dây bị đứt văng thành hai khúc.

Nửa kia tít tắp đâu rồi

chắc đã có người

nhặt về

và nối lại

Nhờ căn nền văn hoá rộng rãi, kết hợp với tư duy triết lý sâu sắc, thơ cực ngắn của Mai Quỳnh Nam để lại nhiều ý tưởng khó quên.

Có một cặp phạm trù tình yêu và cái chết mà dường như cái chết được nói đến nhiều hơn, ám ảnh trong thơ Mai Quỳnh Nam chừng 10 năm gần đây. Anh không ngại nói về nó theo hai chiều hư vô như định mệnh và giản đơn lẽ thường như đời một con người. Hư vô như: “không ai còn nhớ chúng ta”, “tất cả trắng xoá”, “một ngày nào đó”. Và ở chiều kia là sự giản đơn như đời sống con người vốn cô đơn để đi về chốn hương khói cô đơn.

Ngoài nghĩa trang hương khói quyện vào nhau

hương khói nối dài

người với người

không biết dựa vào ai

 Dường như để thực hiện sự cân bằng vốn có của giới tự nhiên và đối diện với sự chết là ánh nắng của tình yêu cuộc sống, lan toả trong các tập thơ Mai Quỳnh Nam. Thế giới nắng Mai Quỳnh Nam:

Em đi biền biệt chiều không tưởng

nắng xoãi tình hoang loang đất đai

***

Gió thổi siết chân trời sạt lở

nắng úa vàng tao tác bờ mây

***

Quăng tấm lưới ra

thâu tóm cả một vùng

kéo lên

chỉ thấy nắng trắng ngời mắt lưới

***

Rồi đến lúc nắng vẫn là nắng ấy mà xưa cũ như người.

Nắng vẫn nắng chẳng còn là nắng nữa

lòng đã buồn như mưa cổ xưa

Rồi nắng như đời sống của chúng ta, như thi ca ở cuộc đời này, cũng sẽ chỉ là nguôi ngoai hoài niệm của nhịp thời gian cứ đi mà không dừng lại.

Nắng đã nguôi ngoai trăng nhớ cuộc rằm

chiều cạn dần, thơ đến cõi xa xăm

Nhưng như để nhắc nhở người đời, Mai Quỳnh Nam đã trao cho nắng một sứ mệnh bất tử. Từ tiếng reo vui của người con gái trong nắng đẹp đầu ngày: “Một ngày nắng, bình thường như nắng”, “em reo lên trong nắng đầu ngày”, đến nỗi bàng hoàng ngây dại của nắng, của tình yêu cuộc sống:

Bao nhiêu nắng bàng hoàng ngây dại

bao nhiêu đêm khắc khoải mảnh trăng thề

Như thế thì chết làm sao được Mai Quỳnh Nam ơi?

Tôi đọc tập thơ Một phía mới in từ tháng 8 năm 2024, thấy có một nỗ lực của Mai Quỳnh Nam trong việc làm mới thơ mình. Bên cạnh tiếp tục dòng thơ cực ngắn, hai, ba câu không có tiêu đề, anh hướng tới chuyển hoá bút pháp thơ bốn câu, vốn là thế mạnh của anh từ những tập thơ trước.

Tôi đi trên con đường

mải miết về phía ấy

trong mờ mịt gió sương tôi bỗng thấy

mùa thu vỡ tan trong tiếng ngỗng trời

Mai Quỳnh Nam có nhiều bài thơ bốn câu không còn nguyên nghĩa của thể thơ tứ tuyệt nữa. Thơ tứ tuyệt truyền thống thường chỉn chu câu chữ, đôi khi bằng chằn chặn ở ý, ở từ. Mai Quỳnh Nam tạo được sự tự do, bứt phá trong cảm hứng thi ca và phóng túng trong thi pháp thể hiện, giống như mùa thu êm ả bỗng “vỡ tan trong tiếng ngỗng trời”. Cũng giống như bài tứ tuyệt ngậm ngùi khi: “Hoa tím bên đường tím chẳng thuộc về anh”, hay khi là: “trời vắng lặng màu mây năm ngoái”,  xa xôi mà như nán lại chút sắc màu phôi pha không rõ của thời gian.

Chưa ai làm thơ lặng lẽ như Mai Quỳnh Nam. Lòng trắc ẩn đã đẩy tôi nhìn ngắm một bông hoa lặng lẽ thiền trên cát bỏng. Cát bỏng của sự đời và thách thức thi ca. Tôi đọc thơ anh cũng là cách tôi thiền giữa bao nhiêu dâu bể của hôm qua và hôm nay.

Tháng 10 năm 2024,
K.B.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm