TIN TỨC

Một “Cõi nhân gian hiện thực”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-03 16:08:50
mail facebook google pos stwis
1823 lượt xem

SƯƠNG NGUYỆT MINH

Nhà phê bình văn học Belinxki cho rằng nhân vật văn học điển hình là “người lạ quen biết”, là “nhân vật mà tên của nó trở thành danh từ chung”. Nhà văn Lỗ Tấn thì nói một cách hình ảnh về nhân vật của ông “có tà áo Nam Kinh, cái cúc Chiết Giang, cái miệng Thượng Hải và đôi mắt Phúc Kiến”. Phàm là nhà văn, ai mà chẳng muốn có nhân vật trở thành danh từ chung, thành cả tính từ nữa!?

Lịch sử văn học thế giới đã từng ghi nhận các văn hào sáng tạo cả một hệ thống nhân vật cựa quậy, sống động... Ở Việt Nam ta cũng có những thế giới nhân vật của Vũ Trọng Phụng với: Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan, ông Văn Minh, ông Phán mọc sừng, ông Tuýp-phờ-nờ (TYPN), cậu Phước (em Chã), đốc tờ Trực Ngôn…; hay những Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến, Lý Cường, Binh Chức, đội Tảo, giáo Thứ, lão Hạc, dì Hảo, Lang Rận, Hộ, Điền…v.v của Nam Cao. “Bước vào đấy, ta như lạc vào một vườn cây ăn quả già cỗi lúc hết mùa. Trên cây rặt những quả điếc, nếu đây đó còn sót lại mấy quả lơ thơ thì chim muông, sâu bọ và cái oi nồng của thời khí lập tức làm cho hư hỏng thối rữa”. Đó là nhận xét của nhà lý luận phê bình văn học Lã Nguyên về cái thế giới nhân vật tù túng, cùn mòn, ảm đạm và bế tắc của Nam Cao. Viết đến đây, tôi lại nghĩ đến cái thế giới nhân vật hiện đại đang bày mưu tính kế, tranh đoạt dối lừa, ưu tư, buồn vui, đứng ngồi, làm tình, đi lạ… trong khu vườn hiện thực Nguyễn Phúc Lộc Thành bước vào CÕI NHÂN GIAN.

Thời gian nghệ thuật của CÕI NHÂN GIAN không chỉ một giai đoạn lịch sử của đất nước trải dài từ thời bao cấp thập niên 80 của thế kỷ trước đến tận ngày nay, mà còn là quá khứ xa lắc với những hồi tưởng, liên tưởng của một cây bút lọc lõi nhìn đời. Không gian nghệ thuật của CÕI NHÂN GIAN không chỉ là địa chỉ địa lý, mà còn là không gian hồi ức, không gian tâm trạng. Các nhân vật mang hành trang và nghĩ ngợi, hành động, cất tiếng nói trong đó. Một xã hội đồng tiền, lừa lọc, dối trá hiển hiện qua không gian truyện, qua tính cách nhân vật, qua các mối quan hệ giằng rịt... Mỗi nhân vật như cái cây cao thấp, to nhỏ, sức sống khác nhau, không chỉ có quá trình phát sinh, phát triển, mà có cả còi cọc, sâu bệnh, mục ruỗng, đổ nát. Khu vườn hiện ấy rào dậu, chứa cấp từ lớp người dưới đáy xã hội đến quyền cao chức trọng, từ các kẻ bình dân ít học, sống thô giản đến người có kiến thức, tri thức, tinh hoa. Có thể nói vườn hiện thực Nguyễn Phúc Lộc Thành khá xum xuê, nhân vật đa dạng, có nhiều nhân vật đậm nét, sinh động, có tính cách, có cá tính.

Trong đời thường, đôi khi chúng ta nghe người ta rủa nhau, bảo nhau, hay ví von: “Ai bảo chơi với cái giống Xuân tóc đỏ đó”, “Yêu phải loại Sở Khanh ấy thì tàn đời, em ạ”, “Cơ quan có một thằng Chí Phèo như thế, không loạn mới lạ”… Là người viết văn, dù cố ý hay tự nhiên mà tạo ra được một nhân vật cỡ Giang Minh Sài của Lê Lựu, hay lão Khúng của Nguyễn Minh Châu cũng đủ hạnh phúc, sướng một đời văn... Nhà văn Nguyễn Phúc Lộc Thành cũng có một vườn hiện thực, lớn hay bé, quen thuộc hay xa lạ thì cũng của riêng ông, và thuộc về tiếp nhận của người đọc. Chỉ biết rằng các nhân vật trong khu vườn ấy mang gương mặt và tâm thức hiện đại thời kinh tế thị trường chẳng giống ai.

Bước vào khu vườn hiện thực Cõi nhân gian, ta sẽ thấy một ông Tám ác nhân nhưng ngang tàng, trọng nghĩa, biết nhận biết cho, biết sám hối. Một tay đại ca giang hồ sừng sững, được vị nể.

Bên cạnh ông Tám là bà Tám. Bà Tám chưa có vai trò gì, và rất mờ nhạt ở phần đầu. Nhưng, hình tượng nghệ thuật bà Tám càng về cuối càng hay dần lên. Bà Tám vừa là người tình, vừa là sân sau điều khiển được cả Chủ tịch Liên thành phố là một hiện thực nhức nhối trong xã hội đương thời. Tiền tình điều khiển được cả quan chức, điều khiển được cả quyền lực. Nhân vật bà Tám từng trải, lọc lõi, tinh đời, nhưng cũng có lúc xử sự ấm áp, nhân văn.

Nhân vật Quang - Giám đốc Sở cũng càng về sau càng hay dần lên. Nhân vật này có ngôn ngữ riêng, sinh động, khó quên. Đặc biệt khi gặp Hương, nhân vật Quang hay dùng từ “đồng nghiệp”. Đồng nghiệp cứu tôi. Không ai tốt như đồng nghiệp. Đồng nghiệp ơi…v.v. Lặp đi lặp lại nhiều lần từ “đồng nghiệp” cũng là hành vi làm nên cá tính của Quang.

- Cô Hoan là phái yếu nhưng lại cá tính, quá mạnh mẽ, quyết đoán, ngang ngược, trọng người tử tế. Khao khát yêu, khao khát sống, lặng thầm sống. Tình yêu không vụ lợi của cô với Hương thanh sạch, trong vắt thật hiếm hoi thời đồng bạc lên ngôi, tình tiền chỉ đổi chác. Hình tượng nghệ thuật nhân vật cô Hoan rất đẹp. Hoan thuộc tầng lớp xã hội đen, nhưng tâm hồn cao đẹp, tình yêu cao đẹp. Yêu Hương và kính phục Hương nhưng không xô bồ, sàm sỡ, không ấn ủi. Cô lặng lẽ. Âm thầm. Khát khao. Kiềm chế và… chờ đợi. Hoan là kiểu nhân vật đẹp, lý tưởng. Tôi tin là người đọc sẽ rất yêu nhân vật Hoan, và cũng rất thương nhân vật Hoan.

- Cô Bảo là điển hình của hồng nhan bạc phận ê chề, bẽ bàng, muốn làm người lương thiện nhưng đời vùi dập cho không ngóc đầu dậy, khó trở về với đời thường. Cái chết thê lương của cô Bảo là cái kết buồn của thân phận gái hồng nhan giang hồ. Thương nhiều hơn giận.

- Thằng Bính vừa lưu manh, vừa ác vừa nguy hiểm. Nhân vật này là một loại trí thức lưu manh xảo quyệt. Làm bạn, làm ăn với hạng người này cảnh giác thôi chưa đủ.

- Thằng Hạnh cũng là loại người ác hiểm, tị hiềm, đố kỵ thường trực đại biểu cho tầng lớp tiểu nông ít học bị lưu manh hóa.

- Chị Thảo là loại nhân vật bản năng, dục tính mạnh mẽ, luôn đói khát tình yêu, cả đời đi tìm tình yêu đến khốn khổ khốn nạn. Cái kết của nhân vật này thân tàn ma dại, quá bi đát. Thêm nhân vật cô Thanh, chị San nữa thì đàn bà trong khu Cõi hiện thực nhân gian đều có tính dục cao, đều bản năng khao khát rất tự nhiên, rất chân thực, rất con và cũng rất người.

- Đọc Cõi hiện thực nhân gian của Nguyễn Phúc Lộc Thành còn hiểu biết thêm về sức mạnh của quý bà - nội tướng. Đây cũng là tình hình chung của một bộ phận quan chức hiện nay luôn có vợ đứng đằng sau điều khiển mọi việc của cơ quan, địa phương và quốc gia cũng như nhận tiền bạc, vơ vét lợi tư.

- Anh Yên khá điển hình cho loại quan chức đương thời có bộ mặt lương thiện của xã hội, nhưng lòng dạ giả dối, vừa đạo đức giả, vừa lưu manh, cơ hội, giấu mình đầy mưu ma chước quỷ, là một loại maphia mới trong chính quyền, cũng là một loại trí thức lưu manh nguy hiểm. Yên bí ẩn, lạnh lùng, tàn độc. Càng đọc, càng nhận ra Yên đại diện cho sự thối nát của một bộ phận giới quan chức nhà nước, và thấy tính maphia trong giới quan tham cũng bộc lộ. Phải là người viết có bản lĩnh mới cho nhân vật cao cấp đi “cầu bập bênh” giữa nghệ thuật và cuộc đời để không phải tự “gọt chân cho vừa giầy”, để không ai biên tập mình, mà chấp nhận được nhân vật điển hình này, được cấp phép ra đường cùng tiểu thuyết.

- Hương là loại nhân vật trí thức không được trọng dụng, không có “đất sống” trong một xã hội hỗn độn, nhiễu nhương quan hệ bằng tiền bạc, không trọng dụng tinh hoa. Hương vừa ngờ ngệch với đời, vừa tốt và tử tế đến khó tin, nhưng cái sự thánh thiện của Hương cũng vẫn bị xã hội và cuộc sống chi phối, tác động, bào mòn. Hương trong sáng nhưng Hương vẫn là con người bình thường nên bị dục vọng nổi lên, bị cám dỗ thân xác. Đó là cái chất người bình thường. Có lẽ nhân vật Hương hấp dẫn một phần là bản tính yếu mềm sự bị dục tình cám dỗ, cám dỗ liên tục, chống đỡ liên tục và quy phục tình dục liên tục…vv.

Hệ thống nhân vật của Nguyễn Phúc Lộc Thành có quá trình phát triển cả về hành động, tính cách. Chẳng hạn: Nhân vật anh Yên và nhân vật Hương là loại nhân vật có quá trình phát triển. Anh Yên đã xấu rồi, hành trình đi đến xấu xa hơn. Nghĩ đến Yên - một quan chức cấp cao nhất thành phố là nghĩ con người tha hóa, suy đồi, là nghĩ đến mất niềm tin vào con người nhất. Nhìn đâu cũng thấy cạm bẫy do con người cài đặt. Còn Hương là quá trình từ thánh thiện đến suy đồi. Hương bị áp lực, bị giày vò, có lúc tưởng vỡ tung ra không chịu nổi. Nhân vật Hương càng về sau càng có thân phận, có câu chuyện, có quá trình vận động, biến đổi tính cách.

Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”. Nhân vật thành hay bại quyết định số phận tiểu thuyết còn ở lại với đời hay mất hút vào quên lãng. Nhân vật không chỉ để nhà văn dựng lên bộ mặt xã hội đương thời mà còn gửi gắm thông điệp tư tưởng, khát vọng riêng tư và suy ngẫm về thân phận con người. Trong cõi nhân gian hiện thực Nguyễn Phúc Lộc Thành, Hương là người kể chuyện, dẫn chuyện nhưng đồng thời cũng là nhân vật chính giữ mối liên kết liên hệ giằng dịt với hàng chục nhân vật khác. Nhân vật Hương “vạm vỡ”, cá tính, góc cạnh, hay “èo uột” mờ nhạt đều tác động đến sự thành bại của Cõi nhân gian rộng lớn, ngổn ngang, bề bộn. Nhân vật này phải có đường đi độc đáo, có lối thoát bất ngờ. Số phận, lô gich phát triển của các nhân vật khác, có lẽ về cơ bản thuận theo người đã sinh ra chúng, nhưng nhân vật chính là Hương chắc sẽ còn bàn luận từ các góc nhìn khác nhau, ít nhất là tôi và tác giả.

Trong một lần bàn về Cõi Nhân Gian từ lúc Nguyễn Phúc Lộc Thành mới hoàn thành bản thảo, tôi nói rằng có hai cách thể hiện nhân vật chính là Hương: Một là, cho nhân vật Hương có quá trình vận động, phát triển tính cách từ thánh thiện đến suy đồi, tha hóa. Hai là, Hương “bất di bất dịch” ra đời trong sáng, thánh thiện thì cuối sách vẫn thánh thiện, trong sáng. Tôi bảo: Là tôi sẽ đẩy cho Hương đi xa bản thiện lương hơn nữa, phải làm cho Hương là con người xấu xa hẳn. Nhân vật vận động, phát triển theo hướng xấu xa, thì Hương phải dần dần bị cuốn theo quyền lực, phải bị vật chất tiền bạc cám dỗ, không chống đỡ nổi. Có nghĩa là… phải tranh đoạt chức quyền, phải tham nhũng, chứ không chỉ nhận mấy cái phong bì vặt. Hương phải là nhân vật bùng nổ, đột sáng, khi anh ta từ một tiến sĩ trong veo, bị suy đồi tha hóa thành một quan chức tham lam, đầy thủ đoạn, độc ác. Nhân vật tận cùng suy đồi, nhưng vẫn có thể “quay đầu là bờ”, sám hối. Người đọc bước qua bóng tối và nhìn thấy ánh sáng mà hy vọng, chứ không phải cứ viết về tận cùng cái ác là cuộc sống đen ngòm. Hoặc nhân vật Hương “ngưng đọng” trong cái bản ngã thánh thiện như đầu bộ tiểu thuyết, trong cái cõi nhân gian ô trọc, hỗn độn, có lẽ nhân vật sẽ rõ nét và giàu sinh khí. Trong veo, tốt từ đầu đến cuối. Một người tốt hiếm hoi, trong veo mà vẫn tồn tại được giữa bầy đàn nhầy nhụa, bất lương cũng có cái hay, cái lớn của nhân vật.

Nguyễn Phúc Lộc Thành đã chọn cách thứ nhất, nhưng ông thể hiện sự tha hóa của Hương rất chừng mực. Đó là sự suy đồi chậm dần nhưng không tận cùng, Hương vẫn chưa bị nhuộm đen hẳn trong vũng lầy cõi nhân gian. Sự tha hóa của Hương chưa đến mức bị vấy bùn xám ngoách, đen ngòm. Hương vẫn loanh quanh trong cái chuyện đạo đức, trai gái và nhận mấy cái phong bì, đi đút lót…, rồi nhân vật “quay đầu là bờ”. Ông nói rằng: Khi viết tập 5 trở đi, ông đã nghĩ đến đường đi của nhân vật Hương sẽ tột cùng tha hóa, xấu xa cùng cực, nhưng sợ tác phẩm toàn màu đen, và trong lòng ông – cha đẻ của nhân vật rất tiếc cái phẩm tính thiên lương của Hương bị mất. Cho nên ông chủ trương xây dựng nhân vật Hương chính là cái phao thiên lương vật vã trong bể đời xấu xa và bỉ ổi, nhưng không bao giờ chết chìm, để thể hiện tính nhân văn của tiểu thuyết.

Quả thật, Nguyễn Phúc Lộc Thành rất trung dung khi làm người kể chuyện, ngòi bút của ông dẫn dắt nhân vật chính đi chấp chới giữa dòng và bờ. Cứ khi nào mắc sai lầm hay gặp nguy cơ bị tha hóa thì tâm trạng lại dằn vặt, đấu tranh, khi nhuốm một chút đen thì lại sám hối, muốn hoàn lương, hướng về chính đạo. Hương cố tự chuộc mình ra khỏi cái cơ chế đương thời đang giăng mắc. Người đọc cảm thấy trên từng trang văn của ông, dù con người dù có thủ đoạn xấu xa, cuộc sống có bất ổn nhưng vẫn còn hy vọng, đáng tin và đáng sống. Xã hội và con người với ông vẫn nhân bản và ngập tràn ánh sáng. Tôi có lý của tôi, Nguyễn Phúc Lộc Thành có lý của ông, và nhân vật chính Hương đang hiển hiện trước mặt bạn đọc như cách mà ông muốn.

Đọc Cõi Nhân Gian, tôi còn muốn tác giả làm cho nhân vật ông Công, bà Hoài, con Hương rõ nét hơn, còn phường lưu manh Sinh, Bính… góc cạnh, cá tính hơn nữa. Nhân vật thằng Hạnh nếu để sống đến cuối truyện thì tác phẩm có độ căng nén suốt. Sự tồn tại của thằng Hạnh cũng làm cho nhân vật Hương bị ám ảnh lo sợ hơn, kịch tính hơn. Con đường thăng quan tiến chức của ông Yên nếu được dành “đất” nhiều hơn để bộc lộ các âm mưu, thủ đoạn thăng tiến, tính xảo quyệt tranh giành địa vị thì ông Yên sẽ là một nhân vật lớn.

*

Cõi nhân gian hiện thực của Nguyễn Phúc Lộc Thành có cốt truyện vững chắc, hay, sinh động. Chi tiết hay nhiều. Cấu trúc truyện hợp lý. Tính ly kỳ và chất huyền ảo xuyên suốt cũng làm nên sự hấp dẫn và cuốn hút người đọc không bỏ sách. Tình huống, diễn biến truyện hấp dẫn, bí ẩn, bất ngờ. Chương nào cũng có tình huống truyện hồi hộp, gay cấn. Chẳng hạn đọc đến tình huống đầy kịch tính khi ông Yên công bố xét nghiệm ADN con Hồng Anh thì ngộp thở lắm. Hay tình huống hai ông trưởng và phó sở cùng lúc nghe tin cô Thụy An có thai sinh động quá. Tình huống truyện như thế này lóe sáng làm cho người đọc không nhàm chán, và sẽ bị dẫn dụ. Hoặc tình tiết anh Huy, chị Hòa, anh Quang, Thụy An và Hoàng Thiên Hương gặp nhau thu xếp chuyện có thai… thì bất ngờ, hấp dẫn, vỡ òa, có hậu.

Cõi nhân gian hiện thực có giọng điệu nhất quán từ đầu đến cuối. Đó là cái giọng riêng lạ vừa tưng tửng, vừa ấm áp, da diết, vừa khắc khoải, và cả giày vò nữa, không lẫn với bất cứ tác giả nào. Bên cảnh đó là giọng trào phúng, giễu nhại ẩn dấu, đôi khi nổi lên, chen vào cái giọng ân tình, của tác giả. Nhưng cái giọng giễu nhại, hài hước này lại xót xa đau đớn đến lạnh người. Có thể nói Cõi Nhân Gian là một tiểu thuyết đa thanh, đa giọng rồi.

Văn Nguyễn Phúc Lộc Thành còn hấp dẫn ở tiết tấu, nhịp điệu nhanh bởi cách tạo câu đơn, ngắn. Tác giả có vốn từ nhiều, đặc biệt là vốn từ cuộc sống hiện đại và vốn từ của “xã hội đen”. Từ bộ tiểu thuyết 4 quyển dầy dặn, đồ sộ, nếu cố công sẽ gom được nhiều từ mới chưa có trong các từ điển trước đó, vào một cuốn từ điển mỏng hiện đại. Chính những điều này cũng góp phần làm cho người đọc không bỏ sách, đọc một mạch đến dòng cuối cùng.

 Không gian nghệ thuật thời đổi mới vẫn chưa rõ nét trong tiểu thuyết. Bộ mặt xã hội với nhiều nhà cao tầng, dự án, resort, hothel, lối sống, hàng hóa, phố phường... có thể tả trực tiếp khi cần thể hiện hoàn cảnh, khi cần kể sự kiện, kể nhân vật, hoặc gián tiếp qua cái nhìn của nhân vật chưa rõ nét. Tác giả giả dường như thiên về cốt truyện, sự kiện, hành động mà ít chú ý đến ngoài cảnh, ít chú ý đến tâm trạng... Nếu làm dầy thêm những đoạn diễn tả tâm lý nhân vật, nhuận sắc cho không gian nghệ thuật đậm không khí kinh tế thị trường nữa thì sẽ là… hoàn hảo.

Ở góc nhìn điện ảnh, Cõi Nhân Gian có thể mang tầm cỡ một kịch bản văn học xuất sắc. Nếu gặp một đạo diễn cao cường sẽ làm kịch bản phân cảnh được ngay. Với cảm hứng miên man đồng hành, sáng tạo, phát triển hệ thống nhân vật đã có và thêm nhân vật mới có thể dẫn dắt người xem cuốn vào màn ảnh nhỏ hàng chục tập. Còn với tư cách là cha đẻ trường thiên tiểu thuyết Cõi Nhân Gian, dừng lại hay viết tiếp, chỉ tác giả mới biết được.  

Nguồn: Văn nghệ số 9/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm