TIN TỨC

Nặng tình qua những miền quê

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-07 17:41:00
mail facebook google pos stwis
1192 lượt xem

ĐỖ XUÂN THU
(Đọc tập thơ “Dấu chân qua mỗi miền quê” của nhà thơ Vũ Trọng Thái, Nxb Văn học, 2025)

Tác giả Vũ Trọng Thái (Hải Phòng) vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ “DẤU CHÂN QUA MỖI MIỀN QUÊ”, cuốn sách thứ 24 của anh. Sách dày 184 trang, khổ 14,5x20,5 do Nhà xuất bản Văn học ấn hành tháng 6-2025. Như vậy là tính đến nay, Vũ Trọng Thái đã có gia sản văn học khá dồ sộ: 18 tập thơ, 4 tập văn xuôi và đặc biệt có 2 cuốn sách xuất bản ở nước ngoài (Cuốn “Bông hồng và chiếc bình cổ” - Nxb AB Art, Hungary, 2021 và “Đêm trắng”, thơ - Nxb Books, Hàn Quốc, 2021). Tôi thật sự nể phục sức sáng tạo của anh và háo hức đọc tập thơ mới này rồi nhận ra những điều đặc biệt mà anh gửi gấm qua từng tác phẩm.
 

Tập thơ gồm 101 bài đủ các thể loại, đủ 63 tỉnh, thành cả nước. Từ Hà Giang cực bắc đến Cà Mau cực nam, từ Phú Yên cực đông đến Điện Biên cực tây, từ Tây Bắc đến Tây Nguyên, từ Móng Cái đến Ngã ba Đông Dương, từ Hải Phòng đất Cảng đến Đồng Tháp hoa sen, từ Hà Nội thủ đô văn hiến ngàn năm thanh lịch đến thành phố Hồ Chí Minh đô hội phồn hoa… Tất cả các tỉnh, thành dấu chân người thơ đã tới và đã nặng lòng với đất và người nơi đó để thăng hoa thành những bài thơ sâu nghĩa nặng tình cứ như thuở đang yêu.

Điểm đặc biệt nhất của tập thơ này ra đời đúng thời điểm “sáp nhập các tỉnh”, từ 63 tỉnh thành chỉ còn lại 34 tỉnh thành “tinh, gọn, mạnh”, “hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đúng tinh thần chủ trương của Đảng trong công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” từ bên trong. Phải chăng, nhà thơ đã ký thác tình yêu, lưu dấu chân nghệ sĩ của mình cho những vùng đất mà anh đã đi qua, kịp giữ lại những địa danh có thể sẽ bị mất sau sáp nhập? Phải chăng đó cũng là một cách chép sử bằng thơ để mai này ta cùng hoài niệm về một thời đã qua?

Có 3 tỉnh thành có số lượng bài nhiều nhất (5 bài mỗi nơi). Đó là Lạng Sơn (quê hương sinh ra nhà thơ), Hải Phòng (nơi nhà thơ sinh sống) và Hà Nội (thủ đô, trái tim của cả nước). Hãy điểm qua 3 tỉnh thành mà nhà thơ ký gửi nhiều hồn mình nhất.

Trước hết, đây là Lạng Sơn, nơi chôn nhau cắt rốn của thi sĩ. “Ai đã đến nơi đây/ Mảnh đất biên cương, địa đầu Tổ quốc/ Không khỏi một lần thổn thức/ Đất Mẹ kiêu hùng qua từng tháng năm” để rồi “Ta yêu rồi. Yêu mãi Lạng Sơn/ Một lần đứng đây, địa đầu Tổ quốc/ Thêm hiểu hơn về hai chữ Đất Nước/ Khi tự soi mình nơi mảnh đất biên cương” (Nơi địa đầu Tổ quốc). Với mỗi người, nơi chôn nhau cắt rốn, đất tổ quê cha bao giờ cũng thiêng liêng đau đáu cả một đời rồi huống hồ đây còn là mảnh đất biên cương, địa đầu Tổ quốc nữa thì quả thực là rất thiêng liêng với tác giả. Rồi “Chiều xứ Lạng” được anh thả hồn thế này “Chiều dần buông êm đềm phố núi/ Mây dung dăng ngang đỉnh Chóp Chài/ Chợ Kỳ Lừa đã chừng vãn lối/ Tiếng “Nhì à…” níu bước chân ai”. Cả “ánh hoàng hôn”, “sông Kỳ Cùng”, “tượng đá nàng Tô thị”, “man mác hương hồi” nữaPhong cảnh thật êm đềm lãng mạn, có núi, có mây, có chợ, có tiếng ai “Nhì à…” vọng thoáng đâu đây. Âm thanh ấy, hình ảnh ấy, hương vị ấy đập vào mắt, vọng vào tai, hít căng lồng ngực từ thuở thiếu thời làm sao mà quên được? Hai bài lục bát rất nuột nà tiếp đó (“Phố núi” và “Sông chiều”) đã tiếp tục cho những địa danh, cảnh tình của Lạng Sơn thăng hoa khiến độc giả cũng bị hút hồn với những câu thơ của anh để tìm đường “Lên xứ Lạng”. “Lên xứ Lạng/ Một lần thôi, nhớ hoài phố núi”, “Lên xứ Lạng mới thấy thật bình yên”, “Lên xứ lạng như về với quê hương”… Những câu thơ ấy như thôi thúc, như gọi mời về thăm quê anh. Đọc chum thơ 5 bài về nơi sinh của thi sĩ, trong tôi bất chợt câu hát “Lạng sơn, Lạng Sơn ơi!” cứ văng vẳng ở trong đầu.

Và đây là Hải Phòng, nơi Vũ Trọng Thái đã sống và lập nghiệp hơn nửa thế kỷ. Mở đầu chùm thơ 5 bài là “Hải Phòng trong tôi”. Mở đầu bài thơ này là 2 câu: “Hải phòng trong tôi. Tôi trong Hải Phòng/ Là Tình yêu; Là những gì…Tất cả!”. Một sự quy nạp, khẳng định ngắn gọn không thể hơn. Và rồi anh diễn giải 8 khổ thơ. Mở đầu mỗi khổ đều định nghĩa “Hải Phòng trong tôi là…”. Từ “bắt đầu từ những trang sách” đến “đôi mắt ướt mi cong”. Từ “dáng mẹ áo nâu” đến “Bạn bè gái, trai”; từ “những chiều Máy Đèn” đến “là nhạc, là thơ”, rồi “trong mỗi nghĩ suy” để rồi kết luận lại là “nặng sâu bao kỷ niệm”. Đấy, Hải Phòng của Vũ Trọng Thái là thế đấy. Quy tụ lại là “tôi trong Hải Phòng”, “là tình yêu, là Tất cả”. Yêu Hải Phòng thế cơ mà. Tác giả cho bạn đọc biết về “Sông Tam Bạc”, về “Hồi ức đêm Tam Bạc” cùng anh. Anh dành hẳn 2 bài thơ về Tam Bạc chứng tỏ nơi này nặng lòng nhất với anh chăng? Thì thế khi “Vắng em” “Phượng cũng buồn, chẳng đỏ nữa/ Phố Cầu đất chợt như cũng mồ côi/ Hàng bằng lăng cúi đầu đứng lặng/ Tiếng đàn ai ngân cung bậc lẻ loi”. Đặc biệt, bài thơ “Em có về Hải Phòng với anh không?” đã được nhạc sỹ Quang Hiển phổ nhạc rồi dân Hải Phòng, cả những người nơi khác tới hát vang trong mỗi dịp gặp gỡ giao lưu, trở thành ca khúc “tỉnh ca”, “thành phố ca”. Đài phát thanh và truyền hình Hải Phòng, các hội diễn nghệ thuật quần chúng, các cuộc mít tinh kỷ niệm ngày truyền thống của thành phố Hải Phòng ca khúc này lại thêm một lần nữa ca vang cùng với “Tháng năm rợp trời hoa phượng đỏ” của Lương Vĩnh và Hải Như.   

Tôi nhớ có lần cùng anh lên Lạng Sơn đi viết cho bộ đội Biên phòng, ngồi trên xe thì ca khúc “Em có về Hải Phòng với anh không?” đã vang lên tưng bừng, da diết. Gia điệu quyện lấy lời ca đầy ắp trong xe đã làm ấm lòng chúng tôi giữa ngày đông buốt giá của một chiều cuối năm giáp Tết. Tôi có cảm giác như xe đang chở Hải Phòng lên biên cương xứ Lạng. Hạnh phúc nào bằng khi thơ của mình đã cất cánh làm đẹp, làm sang cho quê hương, nơi ta sinh ra và thuộc về?

Với Hà Nội, thủ đô trái tim của cả nước, Vũ Trọng Thái cũng ưu ái một chùm thơ 5 bài trong tập. Trong 5 bài đó có 2 bài về mùa thu. “Em có về Hà Nội mùa này, cuối thu?”, và “Thu Hà Nội”. Đúng mùa thu là mùa của văn nhân, nghệ sỹ, mùa của nhạc hoạ thi ca. Vũ Trọng Thái cũng không ngoài số ấy. Thì Hà Nội đẹp thế, thanh lịch thế, nét thu dịu dàng thế làm sao thi sĩ qua đây chẳng có thơ? “Hà Nội cuối thu mỗi sáng sương chưa tan/ Cánh đồng cúc hoạ mi mởn mơ chờ nắng sớm/ Ta trong veo một tình yêu không gợn/ Với Hà Nội này cuối thu” ( Em có về Hà Nội mùa này, cuối thu?); “Chị hàng hoa dắt thu vào phố/ Trên giỏ xe ngời những cúc hoạ mi/ Hoa thêm trắng cùng tà áo trắng/ Tôi dùng dằng chẳng thể bước đi” (Thu Hà Nội). Trái ngược với thu, Hà Nội những ngày hè cũng thật đáng nhớ. Anh quan sát, anh tốc ký ký hoạ bằng thơ qua bài “Hà Nội, một ngày hè cháy bỏng” khi “Nhiệt độ ngoài trời 380 C” với những hình ảnh, cảnh đời rất ám ảnh. Cả con sông “Hồng Hà” cũng hiện lên trong thơ anh, chảy trong nỗi nhớ, để “nghe tiếng sóng vỗ về ký ức”, để “Bỗng dưng lạc về Vạn Phúc/ Mát lòng áo lụa Hà Đông/ Tìm lại ngày xưa bím tóc/ Ngờ đâu em đã lấy chồng” (Bỗng dưng). Không phải bỗng dưng đâu Hà Nội ơi mà tôi đồ rằng chính nỗi nhớ niềm yêu của thi sĩ đã đưa anh về nơi ấy đấy.

Ngoài 3 tỉnh, thành trên, Vũ Trọng Thái còn đặt chân và có thơ cho 60 tỉnh thành khác nữa. Trong đó, có 5 tỉnh mỗi tỉnh 3 bài (Bắc Kạn, Cao Bằng, Hải Dương, Huế, Quảng Trị),  12 tỉnh mỗi tỉnh có 2 bài (Bắc Ninh, Bình Định, Đà Nẵng, Gia Lai, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Nghệ An, Phú Thọ, Sài Gòn, Tây Ninh, Yên Bái) còn lại 43 tỉnh khác mỗi tỉnh có 1 bài.

Này là “Em gái Cần Thơ” “Trời ơi cái lúm đồng tiền/ Lung linh toả sáng làm nghiêng cả chiều” để cho “Có người buổi ấy đến giờ/ Mang theo nỗi nhớ bên bờ Hậu Giang”. Này là “Về xứ Đông” (Hải Dương) “Chiều nay về với xứ Đông/ Chỉ một lời hẹn mà mong chín chiều/ Hồn thơ ai đến buông neo/ Níu tôi vào sợi dây diều nhân duyên”. Còn đây là Sóc Trăng “Trước điệu múa Lâm Thôn”: “Bàn tay kia quay đều vòng xa/ Dệt tấm khăn Sà rông rực rỡ/ Ngón tay kia như những búp hoa/ Sáng bừng trong dáng hình vũ nữ”. Và đây nữa Tây Ninh: “Lên Bà Đen tay chạm mây trắng/ Sông Vàm Cỏ lấp lánh ánh vàng/ Đá ẩn cây, cây chen cùng nắng/ Đồng có lau thênh thang thênh thang” (Lên Bà Đen). Rồi Tiền Giang đây: “Mênh mang sóng nước vỗ bờ/ Qua cầu Rạch Miễu, ngẩn ngơ sông Tiền/ Bóng dừa bóng nắng đan chen/ Lênh đênh câu hát giữa miền đờn ca” (Cù Lao xanh)…

Mỗi tỉnh một hoặc nhiều tứ thơ. Không thể nói thi sĩ nhởn nhơ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” được. Phải nặng lòng thương nhớ, yêu người yêu cảnh lắm anh mới có được những bài thơ như thế.

Là người có tâm hồn thi sĩ lại hoạt động trong Hội Doanh nhân Trẻ Hải Phòng, Vũ Trọng Thái có điều kiện đi khắp trong nam, ngoài bắc. Chịu đi, chịu ghi chép, học hỏi, chịu quan sát, kết nối, đi đến đâu anh có thơ và bài viết đến đó. Hình như thơ văn trong đầu anh có sẵn, gặp dịp là tuôn chảy. Chả thế mà bạn bè anh có khắp cả nước, anh lại có tài kết nối, tổ chức các cuộc giao lưu, gặp gỡ, làm MC hầu hết các sự kiện quan trọng của Hội Doanh nhân. Ai ai cũng yêu mến quý trọng anh, người vừa có tài, vừa có tâm, hết lòng vì công việc và bầu bạn. Chả thế mà bạn bè anh “đông như quân Nguyên”, anh ra sách ầm ầm, “đẻ” rất mắn khiến tôi cũng phải ghen tị.

Ngay đề từ sách, anh đã khiêm tốn như này:

Dấu chân qua mỗi miền quê

Tiếng ai thầm gọi vọng về chiều nay

Thênh thang là những tháng ngày

Tấm tình gửi trọn chút này cùng thơ

Anh viết: “Với tất cả tình yêu và sự tri ân dành cho đất và người trên dải đất hình chữ S thân yêu này, người viết mong muốn tập thơ sẽ đáp ứng và vừa lòng bạn đọc” (Lời tác giả).

Chọn đúng thời điểm sáp nhập tỉnh để ra mắt tập thơ “DẤU CHÂN QUA MỖI MIỀN QUÊ”, ghi lại những vùng đất của 63 tỉnh, thành trước khi sáp nhập. Phải nói là anh đã chọn đúng “điểm rơi” để kịp thổ lộ tâm tình của mình với tất cả các địa danh mà anh đã từng đến và lưu dấu ân tình. Mai này một số địa danh chắc chắn sẽ không còn nữa thì trong anh, trong lòng bạn đọc vẫn mãi một tình yêu về quê hương xứ sở ấy.

Cảm phục thay sức đi, sức viết, sức sáng tạo của tác giả Vũ Trọng Thái. Xin chúc mừng anh đứa con tinh thần ý nghĩa này và hy vọng anh sẽ cho ra đời nhiều đứa con tinh thần kháu khỉnh khác nữa.  

Đ.X.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm