TIN TỨC

Nặng tình qua những miền quê

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-07 17:41:00
mail facebook google pos stwis
1110 lượt xem

ĐỖ XUÂN THU
(Đọc tập thơ “Dấu chân qua mỗi miền quê” của nhà thơ Vũ Trọng Thái, Nxb Văn học, 2025)

Tác giả Vũ Trọng Thái (Hải Phòng) vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ “DẤU CHÂN QUA MỖI MIỀN QUÊ”, cuốn sách thứ 24 của anh. Sách dày 184 trang, khổ 14,5x20,5 do Nhà xuất bản Văn học ấn hành tháng 6-2025. Như vậy là tính đến nay, Vũ Trọng Thái đã có gia sản văn học khá dồ sộ: 18 tập thơ, 4 tập văn xuôi và đặc biệt có 2 cuốn sách xuất bản ở nước ngoài (Cuốn “Bông hồng và chiếc bình cổ” - Nxb AB Art, Hungary, 2021 và “Đêm trắng”, thơ - Nxb Books, Hàn Quốc, 2021). Tôi thật sự nể phục sức sáng tạo của anh và háo hức đọc tập thơ mới này rồi nhận ra những điều đặc biệt mà anh gửi gấm qua từng tác phẩm.
 

Tập thơ gồm 101 bài đủ các thể loại, đủ 63 tỉnh, thành cả nước. Từ Hà Giang cực bắc đến Cà Mau cực nam, từ Phú Yên cực đông đến Điện Biên cực tây, từ Tây Bắc đến Tây Nguyên, từ Móng Cái đến Ngã ba Đông Dương, từ Hải Phòng đất Cảng đến Đồng Tháp hoa sen, từ Hà Nội thủ đô văn hiến ngàn năm thanh lịch đến thành phố Hồ Chí Minh đô hội phồn hoa… Tất cả các tỉnh, thành dấu chân người thơ đã tới và đã nặng lòng với đất và người nơi đó để thăng hoa thành những bài thơ sâu nghĩa nặng tình cứ như thuở đang yêu.

Điểm đặc biệt nhất của tập thơ này ra đời đúng thời điểm “sáp nhập các tỉnh”, từ 63 tỉnh thành chỉ còn lại 34 tỉnh thành “tinh, gọn, mạnh”, “hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đúng tinh thần chủ trương của Đảng trong công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” từ bên trong. Phải chăng, nhà thơ đã ký thác tình yêu, lưu dấu chân nghệ sĩ của mình cho những vùng đất mà anh đã đi qua, kịp giữ lại những địa danh có thể sẽ bị mất sau sáp nhập? Phải chăng đó cũng là một cách chép sử bằng thơ để mai này ta cùng hoài niệm về một thời đã qua?

Có 3 tỉnh thành có số lượng bài nhiều nhất (5 bài mỗi nơi). Đó là Lạng Sơn (quê hương sinh ra nhà thơ), Hải Phòng (nơi nhà thơ sinh sống) và Hà Nội (thủ đô, trái tim của cả nước). Hãy điểm qua 3 tỉnh thành mà nhà thơ ký gửi nhiều hồn mình nhất.

Trước hết, đây là Lạng Sơn, nơi chôn nhau cắt rốn của thi sĩ. “Ai đã đến nơi đây/ Mảnh đất biên cương, địa đầu Tổ quốc/ Không khỏi một lần thổn thức/ Đất Mẹ kiêu hùng qua từng tháng năm” để rồi “Ta yêu rồi. Yêu mãi Lạng Sơn/ Một lần đứng đây, địa đầu Tổ quốc/ Thêm hiểu hơn về hai chữ Đất Nước/ Khi tự soi mình nơi mảnh đất biên cương” (Nơi địa đầu Tổ quốc). Với mỗi người, nơi chôn nhau cắt rốn, đất tổ quê cha bao giờ cũng thiêng liêng đau đáu cả một đời rồi huống hồ đây còn là mảnh đất biên cương, địa đầu Tổ quốc nữa thì quả thực là rất thiêng liêng với tác giả. Rồi “Chiều xứ Lạng” được anh thả hồn thế này “Chiều dần buông êm đềm phố núi/ Mây dung dăng ngang đỉnh Chóp Chài/ Chợ Kỳ Lừa đã chừng vãn lối/ Tiếng “Nhì à…” níu bước chân ai”. Cả “ánh hoàng hôn”, “sông Kỳ Cùng”, “tượng đá nàng Tô thị”, “man mác hương hồi” nữaPhong cảnh thật êm đềm lãng mạn, có núi, có mây, có chợ, có tiếng ai “Nhì à…” vọng thoáng đâu đây. Âm thanh ấy, hình ảnh ấy, hương vị ấy đập vào mắt, vọng vào tai, hít căng lồng ngực từ thuở thiếu thời làm sao mà quên được? Hai bài lục bát rất nuột nà tiếp đó (“Phố núi” và “Sông chiều”) đã tiếp tục cho những địa danh, cảnh tình của Lạng Sơn thăng hoa khiến độc giả cũng bị hút hồn với những câu thơ của anh để tìm đường “Lên xứ Lạng”. “Lên xứ Lạng/ Một lần thôi, nhớ hoài phố núi”, “Lên xứ Lạng mới thấy thật bình yên”, “Lên xứ lạng như về với quê hương”… Những câu thơ ấy như thôi thúc, như gọi mời về thăm quê anh. Đọc chum thơ 5 bài về nơi sinh của thi sĩ, trong tôi bất chợt câu hát “Lạng sơn, Lạng Sơn ơi!” cứ văng vẳng ở trong đầu.

Và đây là Hải Phòng, nơi Vũ Trọng Thái đã sống và lập nghiệp hơn nửa thế kỷ. Mở đầu chùm thơ 5 bài là “Hải Phòng trong tôi”. Mở đầu bài thơ này là 2 câu: “Hải phòng trong tôi. Tôi trong Hải Phòng/ Là Tình yêu; Là những gì…Tất cả!”. Một sự quy nạp, khẳng định ngắn gọn không thể hơn. Và rồi anh diễn giải 8 khổ thơ. Mở đầu mỗi khổ đều định nghĩa “Hải Phòng trong tôi là…”. Từ “bắt đầu từ những trang sách” đến “đôi mắt ướt mi cong”. Từ “dáng mẹ áo nâu” đến “Bạn bè gái, trai”; từ “những chiều Máy Đèn” đến “là nhạc, là thơ”, rồi “trong mỗi nghĩ suy” để rồi kết luận lại là “nặng sâu bao kỷ niệm”. Đấy, Hải Phòng của Vũ Trọng Thái là thế đấy. Quy tụ lại là “tôi trong Hải Phòng”, “là tình yêu, là Tất cả”. Yêu Hải Phòng thế cơ mà. Tác giả cho bạn đọc biết về “Sông Tam Bạc”, về “Hồi ức đêm Tam Bạc” cùng anh. Anh dành hẳn 2 bài thơ về Tam Bạc chứng tỏ nơi này nặng lòng nhất với anh chăng? Thì thế khi “Vắng em” “Phượng cũng buồn, chẳng đỏ nữa/ Phố Cầu đất chợt như cũng mồ côi/ Hàng bằng lăng cúi đầu đứng lặng/ Tiếng đàn ai ngân cung bậc lẻ loi”. Đặc biệt, bài thơ “Em có về Hải Phòng với anh không?” đã được nhạc sỹ Quang Hiển phổ nhạc rồi dân Hải Phòng, cả những người nơi khác tới hát vang trong mỗi dịp gặp gỡ giao lưu, trở thành ca khúc “tỉnh ca”, “thành phố ca”. Đài phát thanh và truyền hình Hải Phòng, các hội diễn nghệ thuật quần chúng, các cuộc mít tinh kỷ niệm ngày truyền thống của thành phố Hải Phòng ca khúc này lại thêm một lần nữa ca vang cùng với “Tháng năm rợp trời hoa phượng đỏ” của Lương Vĩnh và Hải Như.   

Tôi nhớ có lần cùng anh lên Lạng Sơn đi viết cho bộ đội Biên phòng, ngồi trên xe thì ca khúc “Em có về Hải Phòng với anh không?” đã vang lên tưng bừng, da diết. Gia điệu quyện lấy lời ca đầy ắp trong xe đã làm ấm lòng chúng tôi giữa ngày đông buốt giá của một chiều cuối năm giáp Tết. Tôi có cảm giác như xe đang chở Hải Phòng lên biên cương xứ Lạng. Hạnh phúc nào bằng khi thơ của mình đã cất cánh làm đẹp, làm sang cho quê hương, nơi ta sinh ra và thuộc về?

Với Hà Nội, thủ đô trái tim của cả nước, Vũ Trọng Thái cũng ưu ái một chùm thơ 5 bài trong tập. Trong 5 bài đó có 2 bài về mùa thu. “Em có về Hà Nội mùa này, cuối thu?”, và “Thu Hà Nội”. Đúng mùa thu là mùa của văn nhân, nghệ sỹ, mùa của nhạc hoạ thi ca. Vũ Trọng Thái cũng không ngoài số ấy. Thì Hà Nội đẹp thế, thanh lịch thế, nét thu dịu dàng thế làm sao thi sĩ qua đây chẳng có thơ? “Hà Nội cuối thu mỗi sáng sương chưa tan/ Cánh đồng cúc hoạ mi mởn mơ chờ nắng sớm/ Ta trong veo một tình yêu không gợn/ Với Hà Nội này cuối thu” ( Em có về Hà Nội mùa này, cuối thu?); “Chị hàng hoa dắt thu vào phố/ Trên giỏ xe ngời những cúc hoạ mi/ Hoa thêm trắng cùng tà áo trắng/ Tôi dùng dằng chẳng thể bước đi” (Thu Hà Nội). Trái ngược với thu, Hà Nội những ngày hè cũng thật đáng nhớ. Anh quan sát, anh tốc ký ký hoạ bằng thơ qua bài “Hà Nội, một ngày hè cháy bỏng” khi “Nhiệt độ ngoài trời 380 C” với những hình ảnh, cảnh đời rất ám ảnh. Cả con sông “Hồng Hà” cũng hiện lên trong thơ anh, chảy trong nỗi nhớ, để “nghe tiếng sóng vỗ về ký ức”, để “Bỗng dưng lạc về Vạn Phúc/ Mát lòng áo lụa Hà Đông/ Tìm lại ngày xưa bím tóc/ Ngờ đâu em đã lấy chồng” (Bỗng dưng). Không phải bỗng dưng đâu Hà Nội ơi mà tôi đồ rằng chính nỗi nhớ niềm yêu của thi sĩ đã đưa anh về nơi ấy đấy.

Ngoài 3 tỉnh, thành trên, Vũ Trọng Thái còn đặt chân và có thơ cho 60 tỉnh thành khác nữa. Trong đó, có 5 tỉnh mỗi tỉnh 3 bài (Bắc Kạn, Cao Bằng, Hải Dương, Huế, Quảng Trị),  12 tỉnh mỗi tỉnh có 2 bài (Bắc Ninh, Bình Định, Đà Nẵng, Gia Lai, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Nghệ An, Phú Thọ, Sài Gòn, Tây Ninh, Yên Bái) còn lại 43 tỉnh khác mỗi tỉnh có 1 bài.

Này là “Em gái Cần Thơ” “Trời ơi cái lúm đồng tiền/ Lung linh toả sáng làm nghiêng cả chiều” để cho “Có người buổi ấy đến giờ/ Mang theo nỗi nhớ bên bờ Hậu Giang”. Này là “Về xứ Đông” (Hải Dương) “Chiều nay về với xứ Đông/ Chỉ một lời hẹn mà mong chín chiều/ Hồn thơ ai đến buông neo/ Níu tôi vào sợi dây diều nhân duyên”. Còn đây là Sóc Trăng “Trước điệu múa Lâm Thôn”: “Bàn tay kia quay đều vòng xa/ Dệt tấm khăn Sà rông rực rỡ/ Ngón tay kia như những búp hoa/ Sáng bừng trong dáng hình vũ nữ”. Và đây nữa Tây Ninh: “Lên Bà Đen tay chạm mây trắng/ Sông Vàm Cỏ lấp lánh ánh vàng/ Đá ẩn cây, cây chen cùng nắng/ Đồng có lau thênh thang thênh thang” (Lên Bà Đen). Rồi Tiền Giang đây: “Mênh mang sóng nước vỗ bờ/ Qua cầu Rạch Miễu, ngẩn ngơ sông Tiền/ Bóng dừa bóng nắng đan chen/ Lênh đênh câu hát giữa miền đờn ca” (Cù Lao xanh)…

Mỗi tỉnh một hoặc nhiều tứ thơ. Không thể nói thi sĩ nhởn nhơ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” được. Phải nặng lòng thương nhớ, yêu người yêu cảnh lắm anh mới có được những bài thơ như thế.

Là người có tâm hồn thi sĩ lại hoạt động trong Hội Doanh nhân Trẻ Hải Phòng, Vũ Trọng Thái có điều kiện đi khắp trong nam, ngoài bắc. Chịu đi, chịu ghi chép, học hỏi, chịu quan sát, kết nối, đi đến đâu anh có thơ và bài viết đến đó. Hình như thơ văn trong đầu anh có sẵn, gặp dịp là tuôn chảy. Chả thế mà bạn bè anh có khắp cả nước, anh lại có tài kết nối, tổ chức các cuộc giao lưu, gặp gỡ, làm MC hầu hết các sự kiện quan trọng của Hội Doanh nhân. Ai ai cũng yêu mến quý trọng anh, người vừa có tài, vừa có tâm, hết lòng vì công việc và bầu bạn. Chả thế mà bạn bè anh “đông như quân Nguyên”, anh ra sách ầm ầm, “đẻ” rất mắn khiến tôi cũng phải ghen tị.

Ngay đề từ sách, anh đã khiêm tốn như này:

Dấu chân qua mỗi miền quê

Tiếng ai thầm gọi vọng về chiều nay

Thênh thang là những tháng ngày

Tấm tình gửi trọn chút này cùng thơ

Anh viết: “Với tất cả tình yêu và sự tri ân dành cho đất và người trên dải đất hình chữ S thân yêu này, người viết mong muốn tập thơ sẽ đáp ứng và vừa lòng bạn đọc” (Lời tác giả).

Chọn đúng thời điểm sáp nhập tỉnh để ra mắt tập thơ “DẤU CHÂN QUA MỖI MIỀN QUÊ”, ghi lại những vùng đất của 63 tỉnh, thành trước khi sáp nhập. Phải nói là anh đã chọn đúng “điểm rơi” để kịp thổ lộ tâm tình của mình với tất cả các địa danh mà anh đã từng đến và lưu dấu ân tình. Mai này một số địa danh chắc chắn sẽ không còn nữa thì trong anh, trong lòng bạn đọc vẫn mãi một tình yêu về quê hương xứ sở ấy.

Cảm phục thay sức đi, sức viết, sức sáng tạo của tác giả Vũ Trọng Thái. Xin chúc mừng anh đứa con tinh thần ý nghĩa này và hy vọng anh sẽ cho ra đời nhiều đứa con tinh thần kháu khỉnh khác nữa.  

Đ.X.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm