TIN TỨC

Nặng tình qua những miền quê

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-07 17:41:00
mail facebook google pos stwis
1389 lượt xem

ĐỖ XUÂN THU
(Đọc tập thơ “Dấu chân qua mỗi miền quê” của nhà thơ Vũ Trọng Thái, Nxb Văn học, 2025)

Tác giả Vũ Trọng Thái (Hải Phòng) vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ “DẤU CHÂN QUA MỖI MIỀN QUÊ”, cuốn sách thứ 24 của anh. Sách dày 184 trang, khổ 14,5x20,5 do Nhà xuất bản Văn học ấn hành tháng 6-2025. Như vậy là tính đến nay, Vũ Trọng Thái đã có gia sản văn học khá dồ sộ: 18 tập thơ, 4 tập văn xuôi và đặc biệt có 2 cuốn sách xuất bản ở nước ngoài (Cuốn “Bông hồng và chiếc bình cổ” - Nxb AB Art, Hungary, 2021 và “Đêm trắng”, thơ - Nxb Books, Hàn Quốc, 2021). Tôi thật sự nể phục sức sáng tạo của anh và háo hức đọc tập thơ mới này rồi nhận ra những điều đặc biệt mà anh gửi gấm qua từng tác phẩm.
 

Tập thơ gồm 101 bài đủ các thể loại, đủ 63 tỉnh, thành cả nước. Từ Hà Giang cực bắc đến Cà Mau cực nam, từ Phú Yên cực đông đến Điện Biên cực tây, từ Tây Bắc đến Tây Nguyên, từ Móng Cái đến Ngã ba Đông Dương, từ Hải Phòng đất Cảng đến Đồng Tháp hoa sen, từ Hà Nội thủ đô văn hiến ngàn năm thanh lịch đến thành phố Hồ Chí Minh đô hội phồn hoa… Tất cả các tỉnh, thành dấu chân người thơ đã tới và đã nặng lòng với đất và người nơi đó để thăng hoa thành những bài thơ sâu nghĩa nặng tình cứ như thuở đang yêu.

Điểm đặc biệt nhất của tập thơ này ra đời đúng thời điểm “sáp nhập các tỉnh”, từ 63 tỉnh thành chỉ còn lại 34 tỉnh thành “tinh, gọn, mạnh”, “hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đúng tinh thần chủ trương của Đảng trong công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” từ bên trong. Phải chăng, nhà thơ đã ký thác tình yêu, lưu dấu chân nghệ sĩ của mình cho những vùng đất mà anh đã đi qua, kịp giữ lại những địa danh có thể sẽ bị mất sau sáp nhập? Phải chăng đó cũng là một cách chép sử bằng thơ để mai này ta cùng hoài niệm về một thời đã qua?

Có 3 tỉnh thành có số lượng bài nhiều nhất (5 bài mỗi nơi). Đó là Lạng Sơn (quê hương sinh ra nhà thơ), Hải Phòng (nơi nhà thơ sinh sống) và Hà Nội (thủ đô, trái tim của cả nước). Hãy điểm qua 3 tỉnh thành mà nhà thơ ký gửi nhiều hồn mình nhất.

Trước hết, đây là Lạng Sơn, nơi chôn nhau cắt rốn của thi sĩ. “Ai đã đến nơi đây/ Mảnh đất biên cương, địa đầu Tổ quốc/ Không khỏi một lần thổn thức/ Đất Mẹ kiêu hùng qua từng tháng năm” để rồi “Ta yêu rồi. Yêu mãi Lạng Sơn/ Một lần đứng đây, địa đầu Tổ quốc/ Thêm hiểu hơn về hai chữ Đất Nước/ Khi tự soi mình nơi mảnh đất biên cương” (Nơi địa đầu Tổ quốc). Với mỗi người, nơi chôn nhau cắt rốn, đất tổ quê cha bao giờ cũng thiêng liêng đau đáu cả một đời rồi huống hồ đây còn là mảnh đất biên cương, địa đầu Tổ quốc nữa thì quả thực là rất thiêng liêng với tác giả. Rồi “Chiều xứ Lạng” được anh thả hồn thế này “Chiều dần buông êm đềm phố núi/ Mây dung dăng ngang đỉnh Chóp Chài/ Chợ Kỳ Lừa đã chừng vãn lối/ Tiếng “Nhì à…” níu bước chân ai”. Cả “ánh hoàng hôn”, “sông Kỳ Cùng”, “tượng đá nàng Tô thị”, “man mác hương hồi” nữaPhong cảnh thật êm đềm lãng mạn, có núi, có mây, có chợ, có tiếng ai “Nhì à…” vọng thoáng đâu đây. Âm thanh ấy, hình ảnh ấy, hương vị ấy đập vào mắt, vọng vào tai, hít căng lồng ngực từ thuở thiếu thời làm sao mà quên được? Hai bài lục bát rất nuột nà tiếp đó (“Phố núi” và “Sông chiều”) đã tiếp tục cho những địa danh, cảnh tình của Lạng Sơn thăng hoa khiến độc giả cũng bị hút hồn với những câu thơ của anh để tìm đường “Lên xứ Lạng”. “Lên xứ Lạng/ Một lần thôi, nhớ hoài phố núi”, “Lên xứ Lạng mới thấy thật bình yên”, “Lên xứ lạng như về với quê hương”… Những câu thơ ấy như thôi thúc, như gọi mời về thăm quê anh. Đọc chum thơ 5 bài về nơi sinh của thi sĩ, trong tôi bất chợt câu hát “Lạng sơn, Lạng Sơn ơi!” cứ văng vẳng ở trong đầu.

Và đây là Hải Phòng, nơi Vũ Trọng Thái đã sống và lập nghiệp hơn nửa thế kỷ. Mở đầu chùm thơ 5 bài là “Hải Phòng trong tôi”. Mở đầu bài thơ này là 2 câu: “Hải phòng trong tôi. Tôi trong Hải Phòng/ Là Tình yêu; Là những gì…Tất cả!”. Một sự quy nạp, khẳng định ngắn gọn không thể hơn. Và rồi anh diễn giải 8 khổ thơ. Mở đầu mỗi khổ đều định nghĩa “Hải Phòng trong tôi là…”. Từ “bắt đầu từ những trang sách” đến “đôi mắt ướt mi cong”. Từ “dáng mẹ áo nâu” đến “Bạn bè gái, trai”; từ “những chiều Máy Đèn” đến “là nhạc, là thơ”, rồi “trong mỗi nghĩ suy” để rồi kết luận lại là “nặng sâu bao kỷ niệm”. Đấy, Hải Phòng của Vũ Trọng Thái là thế đấy. Quy tụ lại là “tôi trong Hải Phòng”, “là tình yêu, là Tất cả”. Yêu Hải Phòng thế cơ mà. Tác giả cho bạn đọc biết về “Sông Tam Bạc”, về “Hồi ức đêm Tam Bạc” cùng anh. Anh dành hẳn 2 bài thơ về Tam Bạc chứng tỏ nơi này nặng lòng nhất với anh chăng? Thì thế khi “Vắng em” “Phượng cũng buồn, chẳng đỏ nữa/ Phố Cầu đất chợt như cũng mồ côi/ Hàng bằng lăng cúi đầu đứng lặng/ Tiếng đàn ai ngân cung bậc lẻ loi”. Đặc biệt, bài thơ “Em có về Hải Phòng với anh không?” đã được nhạc sỹ Quang Hiển phổ nhạc rồi dân Hải Phòng, cả những người nơi khác tới hát vang trong mỗi dịp gặp gỡ giao lưu, trở thành ca khúc “tỉnh ca”, “thành phố ca”. Đài phát thanh và truyền hình Hải Phòng, các hội diễn nghệ thuật quần chúng, các cuộc mít tinh kỷ niệm ngày truyền thống của thành phố Hải Phòng ca khúc này lại thêm một lần nữa ca vang cùng với “Tháng năm rợp trời hoa phượng đỏ” của Lương Vĩnh và Hải Như.   

Tôi nhớ có lần cùng anh lên Lạng Sơn đi viết cho bộ đội Biên phòng, ngồi trên xe thì ca khúc “Em có về Hải Phòng với anh không?” đã vang lên tưng bừng, da diết. Gia điệu quyện lấy lời ca đầy ắp trong xe đã làm ấm lòng chúng tôi giữa ngày đông buốt giá của một chiều cuối năm giáp Tết. Tôi có cảm giác như xe đang chở Hải Phòng lên biên cương xứ Lạng. Hạnh phúc nào bằng khi thơ của mình đã cất cánh làm đẹp, làm sang cho quê hương, nơi ta sinh ra và thuộc về?

Với Hà Nội, thủ đô trái tim của cả nước, Vũ Trọng Thái cũng ưu ái một chùm thơ 5 bài trong tập. Trong 5 bài đó có 2 bài về mùa thu. “Em có về Hà Nội mùa này, cuối thu?”, và “Thu Hà Nội”. Đúng mùa thu là mùa của văn nhân, nghệ sỹ, mùa của nhạc hoạ thi ca. Vũ Trọng Thái cũng không ngoài số ấy. Thì Hà Nội đẹp thế, thanh lịch thế, nét thu dịu dàng thế làm sao thi sĩ qua đây chẳng có thơ? “Hà Nội cuối thu mỗi sáng sương chưa tan/ Cánh đồng cúc hoạ mi mởn mơ chờ nắng sớm/ Ta trong veo một tình yêu không gợn/ Với Hà Nội này cuối thu” ( Em có về Hà Nội mùa này, cuối thu?); “Chị hàng hoa dắt thu vào phố/ Trên giỏ xe ngời những cúc hoạ mi/ Hoa thêm trắng cùng tà áo trắng/ Tôi dùng dằng chẳng thể bước đi” (Thu Hà Nội). Trái ngược với thu, Hà Nội những ngày hè cũng thật đáng nhớ. Anh quan sát, anh tốc ký ký hoạ bằng thơ qua bài “Hà Nội, một ngày hè cháy bỏng” khi “Nhiệt độ ngoài trời 380 C” với những hình ảnh, cảnh đời rất ám ảnh. Cả con sông “Hồng Hà” cũng hiện lên trong thơ anh, chảy trong nỗi nhớ, để “nghe tiếng sóng vỗ về ký ức”, để “Bỗng dưng lạc về Vạn Phúc/ Mát lòng áo lụa Hà Đông/ Tìm lại ngày xưa bím tóc/ Ngờ đâu em đã lấy chồng” (Bỗng dưng). Không phải bỗng dưng đâu Hà Nội ơi mà tôi đồ rằng chính nỗi nhớ niềm yêu của thi sĩ đã đưa anh về nơi ấy đấy.

Ngoài 3 tỉnh, thành trên, Vũ Trọng Thái còn đặt chân và có thơ cho 60 tỉnh thành khác nữa. Trong đó, có 5 tỉnh mỗi tỉnh 3 bài (Bắc Kạn, Cao Bằng, Hải Dương, Huế, Quảng Trị),  12 tỉnh mỗi tỉnh có 2 bài (Bắc Ninh, Bình Định, Đà Nẵng, Gia Lai, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Nghệ An, Phú Thọ, Sài Gòn, Tây Ninh, Yên Bái) còn lại 43 tỉnh khác mỗi tỉnh có 1 bài.

Này là “Em gái Cần Thơ” “Trời ơi cái lúm đồng tiền/ Lung linh toả sáng làm nghiêng cả chiều” để cho “Có người buổi ấy đến giờ/ Mang theo nỗi nhớ bên bờ Hậu Giang”. Này là “Về xứ Đông” (Hải Dương) “Chiều nay về với xứ Đông/ Chỉ một lời hẹn mà mong chín chiều/ Hồn thơ ai đến buông neo/ Níu tôi vào sợi dây diều nhân duyên”. Còn đây là Sóc Trăng “Trước điệu múa Lâm Thôn”: “Bàn tay kia quay đều vòng xa/ Dệt tấm khăn Sà rông rực rỡ/ Ngón tay kia như những búp hoa/ Sáng bừng trong dáng hình vũ nữ”. Và đây nữa Tây Ninh: “Lên Bà Đen tay chạm mây trắng/ Sông Vàm Cỏ lấp lánh ánh vàng/ Đá ẩn cây, cây chen cùng nắng/ Đồng có lau thênh thang thênh thang” (Lên Bà Đen). Rồi Tiền Giang đây: “Mênh mang sóng nước vỗ bờ/ Qua cầu Rạch Miễu, ngẩn ngơ sông Tiền/ Bóng dừa bóng nắng đan chen/ Lênh đênh câu hát giữa miền đờn ca” (Cù Lao xanh)…

Mỗi tỉnh một hoặc nhiều tứ thơ. Không thể nói thi sĩ nhởn nhơ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” được. Phải nặng lòng thương nhớ, yêu người yêu cảnh lắm anh mới có được những bài thơ như thế.

Là người có tâm hồn thi sĩ lại hoạt động trong Hội Doanh nhân Trẻ Hải Phòng, Vũ Trọng Thái có điều kiện đi khắp trong nam, ngoài bắc. Chịu đi, chịu ghi chép, học hỏi, chịu quan sát, kết nối, đi đến đâu anh có thơ và bài viết đến đó. Hình như thơ văn trong đầu anh có sẵn, gặp dịp là tuôn chảy. Chả thế mà bạn bè anh có khắp cả nước, anh lại có tài kết nối, tổ chức các cuộc giao lưu, gặp gỡ, làm MC hầu hết các sự kiện quan trọng của Hội Doanh nhân. Ai ai cũng yêu mến quý trọng anh, người vừa có tài, vừa có tâm, hết lòng vì công việc và bầu bạn. Chả thế mà bạn bè anh “đông như quân Nguyên”, anh ra sách ầm ầm, “đẻ” rất mắn khiến tôi cũng phải ghen tị.

Ngay đề từ sách, anh đã khiêm tốn như này:

Dấu chân qua mỗi miền quê

Tiếng ai thầm gọi vọng về chiều nay

Thênh thang là những tháng ngày

Tấm tình gửi trọn chút này cùng thơ

Anh viết: “Với tất cả tình yêu và sự tri ân dành cho đất và người trên dải đất hình chữ S thân yêu này, người viết mong muốn tập thơ sẽ đáp ứng và vừa lòng bạn đọc” (Lời tác giả).

Chọn đúng thời điểm sáp nhập tỉnh để ra mắt tập thơ “DẤU CHÂN QUA MỖI MIỀN QUÊ”, ghi lại những vùng đất của 63 tỉnh, thành trước khi sáp nhập. Phải nói là anh đã chọn đúng “điểm rơi” để kịp thổ lộ tâm tình của mình với tất cả các địa danh mà anh đã từng đến và lưu dấu ân tình. Mai này một số địa danh chắc chắn sẽ không còn nữa thì trong anh, trong lòng bạn đọc vẫn mãi một tình yêu về quê hương xứ sở ấy.

Cảm phục thay sức đi, sức viết, sức sáng tạo của tác giả Vũ Trọng Thái. Xin chúc mừng anh đứa con tinh thần ý nghĩa này và hy vọng anh sẽ cho ra đời nhiều đứa con tinh thần kháu khỉnh khác nữa.  

Đ.X.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm