TIN TỨC

Nặng tình qua những miền quê

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-07 17:41:00
mail facebook google pos stwis
1285 lượt xem

ĐỖ XUÂN THU
(Đọc tập thơ “Dấu chân qua mỗi miền quê” của nhà thơ Vũ Trọng Thái, Nxb Văn học, 2025)

Tác giả Vũ Trọng Thái (Hải Phòng) vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ “DẤU CHÂN QUA MỖI MIỀN QUÊ”, cuốn sách thứ 24 của anh. Sách dày 184 trang, khổ 14,5x20,5 do Nhà xuất bản Văn học ấn hành tháng 6-2025. Như vậy là tính đến nay, Vũ Trọng Thái đã có gia sản văn học khá dồ sộ: 18 tập thơ, 4 tập văn xuôi và đặc biệt có 2 cuốn sách xuất bản ở nước ngoài (Cuốn “Bông hồng và chiếc bình cổ” - Nxb AB Art, Hungary, 2021 và “Đêm trắng”, thơ - Nxb Books, Hàn Quốc, 2021). Tôi thật sự nể phục sức sáng tạo của anh và háo hức đọc tập thơ mới này rồi nhận ra những điều đặc biệt mà anh gửi gấm qua từng tác phẩm.
 

Tập thơ gồm 101 bài đủ các thể loại, đủ 63 tỉnh, thành cả nước. Từ Hà Giang cực bắc đến Cà Mau cực nam, từ Phú Yên cực đông đến Điện Biên cực tây, từ Tây Bắc đến Tây Nguyên, từ Móng Cái đến Ngã ba Đông Dương, từ Hải Phòng đất Cảng đến Đồng Tháp hoa sen, từ Hà Nội thủ đô văn hiến ngàn năm thanh lịch đến thành phố Hồ Chí Minh đô hội phồn hoa… Tất cả các tỉnh, thành dấu chân người thơ đã tới và đã nặng lòng với đất và người nơi đó để thăng hoa thành những bài thơ sâu nghĩa nặng tình cứ như thuở đang yêu.

Điểm đặc biệt nhất của tập thơ này ra đời đúng thời điểm “sáp nhập các tỉnh”, từ 63 tỉnh thành chỉ còn lại 34 tỉnh thành “tinh, gọn, mạnh”, “hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đúng tinh thần chủ trương của Đảng trong công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” từ bên trong. Phải chăng, nhà thơ đã ký thác tình yêu, lưu dấu chân nghệ sĩ của mình cho những vùng đất mà anh đã đi qua, kịp giữ lại những địa danh có thể sẽ bị mất sau sáp nhập? Phải chăng đó cũng là một cách chép sử bằng thơ để mai này ta cùng hoài niệm về một thời đã qua?

Có 3 tỉnh thành có số lượng bài nhiều nhất (5 bài mỗi nơi). Đó là Lạng Sơn (quê hương sinh ra nhà thơ), Hải Phòng (nơi nhà thơ sinh sống) và Hà Nội (thủ đô, trái tim của cả nước). Hãy điểm qua 3 tỉnh thành mà nhà thơ ký gửi nhiều hồn mình nhất.

Trước hết, đây là Lạng Sơn, nơi chôn nhau cắt rốn của thi sĩ. “Ai đã đến nơi đây/ Mảnh đất biên cương, địa đầu Tổ quốc/ Không khỏi một lần thổn thức/ Đất Mẹ kiêu hùng qua từng tháng năm” để rồi “Ta yêu rồi. Yêu mãi Lạng Sơn/ Một lần đứng đây, địa đầu Tổ quốc/ Thêm hiểu hơn về hai chữ Đất Nước/ Khi tự soi mình nơi mảnh đất biên cương” (Nơi địa đầu Tổ quốc). Với mỗi người, nơi chôn nhau cắt rốn, đất tổ quê cha bao giờ cũng thiêng liêng đau đáu cả một đời rồi huống hồ đây còn là mảnh đất biên cương, địa đầu Tổ quốc nữa thì quả thực là rất thiêng liêng với tác giả. Rồi “Chiều xứ Lạng” được anh thả hồn thế này “Chiều dần buông êm đềm phố núi/ Mây dung dăng ngang đỉnh Chóp Chài/ Chợ Kỳ Lừa đã chừng vãn lối/ Tiếng “Nhì à…” níu bước chân ai”. Cả “ánh hoàng hôn”, “sông Kỳ Cùng”, “tượng đá nàng Tô thị”, “man mác hương hồi” nữaPhong cảnh thật êm đềm lãng mạn, có núi, có mây, có chợ, có tiếng ai “Nhì à…” vọng thoáng đâu đây. Âm thanh ấy, hình ảnh ấy, hương vị ấy đập vào mắt, vọng vào tai, hít căng lồng ngực từ thuở thiếu thời làm sao mà quên được? Hai bài lục bát rất nuột nà tiếp đó (“Phố núi” và “Sông chiều”) đã tiếp tục cho những địa danh, cảnh tình của Lạng Sơn thăng hoa khiến độc giả cũng bị hút hồn với những câu thơ của anh để tìm đường “Lên xứ Lạng”. “Lên xứ Lạng/ Một lần thôi, nhớ hoài phố núi”, “Lên xứ Lạng mới thấy thật bình yên”, “Lên xứ lạng như về với quê hương”… Những câu thơ ấy như thôi thúc, như gọi mời về thăm quê anh. Đọc chum thơ 5 bài về nơi sinh của thi sĩ, trong tôi bất chợt câu hát “Lạng sơn, Lạng Sơn ơi!” cứ văng vẳng ở trong đầu.

Và đây là Hải Phòng, nơi Vũ Trọng Thái đã sống và lập nghiệp hơn nửa thế kỷ. Mở đầu chùm thơ 5 bài là “Hải Phòng trong tôi”. Mở đầu bài thơ này là 2 câu: “Hải phòng trong tôi. Tôi trong Hải Phòng/ Là Tình yêu; Là những gì…Tất cả!”. Một sự quy nạp, khẳng định ngắn gọn không thể hơn. Và rồi anh diễn giải 8 khổ thơ. Mở đầu mỗi khổ đều định nghĩa “Hải Phòng trong tôi là…”. Từ “bắt đầu từ những trang sách” đến “đôi mắt ướt mi cong”. Từ “dáng mẹ áo nâu” đến “Bạn bè gái, trai”; từ “những chiều Máy Đèn” đến “là nhạc, là thơ”, rồi “trong mỗi nghĩ suy” để rồi kết luận lại là “nặng sâu bao kỷ niệm”. Đấy, Hải Phòng của Vũ Trọng Thái là thế đấy. Quy tụ lại là “tôi trong Hải Phòng”, “là tình yêu, là Tất cả”. Yêu Hải Phòng thế cơ mà. Tác giả cho bạn đọc biết về “Sông Tam Bạc”, về “Hồi ức đêm Tam Bạc” cùng anh. Anh dành hẳn 2 bài thơ về Tam Bạc chứng tỏ nơi này nặng lòng nhất với anh chăng? Thì thế khi “Vắng em” “Phượng cũng buồn, chẳng đỏ nữa/ Phố Cầu đất chợt như cũng mồ côi/ Hàng bằng lăng cúi đầu đứng lặng/ Tiếng đàn ai ngân cung bậc lẻ loi”. Đặc biệt, bài thơ “Em có về Hải Phòng với anh không?” đã được nhạc sỹ Quang Hiển phổ nhạc rồi dân Hải Phòng, cả những người nơi khác tới hát vang trong mỗi dịp gặp gỡ giao lưu, trở thành ca khúc “tỉnh ca”, “thành phố ca”. Đài phát thanh và truyền hình Hải Phòng, các hội diễn nghệ thuật quần chúng, các cuộc mít tinh kỷ niệm ngày truyền thống của thành phố Hải Phòng ca khúc này lại thêm một lần nữa ca vang cùng với “Tháng năm rợp trời hoa phượng đỏ” của Lương Vĩnh và Hải Như.   

Tôi nhớ có lần cùng anh lên Lạng Sơn đi viết cho bộ đội Biên phòng, ngồi trên xe thì ca khúc “Em có về Hải Phòng với anh không?” đã vang lên tưng bừng, da diết. Gia điệu quyện lấy lời ca đầy ắp trong xe đã làm ấm lòng chúng tôi giữa ngày đông buốt giá của một chiều cuối năm giáp Tết. Tôi có cảm giác như xe đang chở Hải Phòng lên biên cương xứ Lạng. Hạnh phúc nào bằng khi thơ của mình đã cất cánh làm đẹp, làm sang cho quê hương, nơi ta sinh ra và thuộc về?

Với Hà Nội, thủ đô trái tim của cả nước, Vũ Trọng Thái cũng ưu ái một chùm thơ 5 bài trong tập. Trong 5 bài đó có 2 bài về mùa thu. “Em có về Hà Nội mùa này, cuối thu?”, và “Thu Hà Nội”. Đúng mùa thu là mùa của văn nhân, nghệ sỹ, mùa của nhạc hoạ thi ca. Vũ Trọng Thái cũng không ngoài số ấy. Thì Hà Nội đẹp thế, thanh lịch thế, nét thu dịu dàng thế làm sao thi sĩ qua đây chẳng có thơ? “Hà Nội cuối thu mỗi sáng sương chưa tan/ Cánh đồng cúc hoạ mi mởn mơ chờ nắng sớm/ Ta trong veo một tình yêu không gợn/ Với Hà Nội này cuối thu” ( Em có về Hà Nội mùa này, cuối thu?); “Chị hàng hoa dắt thu vào phố/ Trên giỏ xe ngời những cúc hoạ mi/ Hoa thêm trắng cùng tà áo trắng/ Tôi dùng dằng chẳng thể bước đi” (Thu Hà Nội). Trái ngược với thu, Hà Nội những ngày hè cũng thật đáng nhớ. Anh quan sát, anh tốc ký ký hoạ bằng thơ qua bài “Hà Nội, một ngày hè cháy bỏng” khi “Nhiệt độ ngoài trời 380 C” với những hình ảnh, cảnh đời rất ám ảnh. Cả con sông “Hồng Hà” cũng hiện lên trong thơ anh, chảy trong nỗi nhớ, để “nghe tiếng sóng vỗ về ký ức”, để “Bỗng dưng lạc về Vạn Phúc/ Mát lòng áo lụa Hà Đông/ Tìm lại ngày xưa bím tóc/ Ngờ đâu em đã lấy chồng” (Bỗng dưng). Không phải bỗng dưng đâu Hà Nội ơi mà tôi đồ rằng chính nỗi nhớ niềm yêu của thi sĩ đã đưa anh về nơi ấy đấy.

Ngoài 3 tỉnh, thành trên, Vũ Trọng Thái còn đặt chân và có thơ cho 60 tỉnh thành khác nữa. Trong đó, có 5 tỉnh mỗi tỉnh 3 bài (Bắc Kạn, Cao Bằng, Hải Dương, Huế, Quảng Trị),  12 tỉnh mỗi tỉnh có 2 bài (Bắc Ninh, Bình Định, Đà Nẵng, Gia Lai, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Nghệ An, Phú Thọ, Sài Gòn, Tây Ninh, Yên Bái) còn lại 43 tỉnh khác mỗi tỉnh có 1 bài.

Này là “Em gái Cần Thơ” “Trời ơi cái lúm đồng tiền/ Lung linh toả sáng làm nghiêng cả chiều” để cho “Có người buổi ấy đến giờ/ Mang theo nỗi nhớ bên bờ Hậu Giang”. Này là “Về xứ Đông” (Hải Dương) “Chiều nay về với xứ Đông/ Chỉ một lời hẹn mà mong chín chiều/ Hồn thơ ai đến buông neo/ Níu tôi vào sợi dây diều nhân duyên”. Còn đây là Sóc Trăng “Trước điệu múa Lâm Thôn”: “Bàn tay kia quay đều vòng xa/ Dệt tấm khăn Sà rông rực rỡ/ Ngón tay kia như những búp hoa/ Sáng bừng trong dáng hình vũ nữ”. Và đây nữa Tây Ninh: “Lên Bà Đen tay chạm mây trắng/ Sông Vàm Cỏ lấp lánh ánh vàng/ Đá ẩn cây, cây chen cùng nắng/ Đồng có lau thênh thang thênh thang” (Lên Bà Đen). Rồi Tiền Giang đây: “Mênh mang sóng nước vỗ bờ/ Qua cầu Rạch Miễu, ngẩn ngơ sông Tiền/ Bóng dừa bóng nắng đan chen/ Lênh đênh câu hát giữa miền đờn ca” (Cù Lao xanh)…

Mỗi tỉnh một hoặc nhiều tứ thơ. Không thể nói thi sĩ nhởn nhơ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” được. Phải nặng lòng thương nhớ, yêu người yêu cảnh lắm anh mới có được những bài thơ như thế.

Là người có tâm hồn thi sĩ lại hoạt động trong Hội Doanh nhân Trẻ Hải Phòng, Vũ Trọng Thái có điều kiện đi khắp trong nam, ngoài bắc. Chịu đi, chịu ghi chép, học hỏi, chịu quan sát, kết nối, đi đến đâu anh có thơ và bài viết đến đó. Hình như thơ văn trong đầu anh có sẵn, gặp dịp là tuôn chảy. Chả thế mà bạn bè anh có khắp cả nước, anh lại có tài kết nối, tổ chức các cuộc giao lưu, gặp gỡ, làm MC hầu hết các sự kiện quan trọng của Hội Doanh nhân. Ai ai cũng yêu mến quý trọng anh, người vừa có tài, vừa có tâm, hết lòng vì công việc và bầu bạn. Chả thế mà bạn bè anh “đông như quân Nguyên”, anh ra sách ầm ầm, “đẻ” rất mắn khiến tôi cũng phải ghen tị.

Ngay đề từ sách, anh đã khiêm tốn như này:

Dấu chân qua mỗi miền quê

Tiếng ai thầm gọi vọng về chiều nay

Thênh thang là những tháng ngày

Tấm tình gửi trọn chút này cùng thơ

Anh viết: “Với tất cả tình yêu và sự tri ân dành cho đất và người trên dải đất hình chữ S thân yêu này, người viết mong muốn tập thơ sẽ đáp ứng và vừa lòng bạn đọc” (Lời tác giả).

Chọn đúng thời điểm sáp nhập tỉnh để ra mắt tập thơ “DẤU CHÂN QUA MỖI MIỀN QUÊ”, ghi lại những vùng đất của 63 tỉnh, thành trước khi sáp nhập. Phải nói là anh đã chọn đúng “điểm rơi” để kịp thổ lộ tâm tình của mình với tất cả các địa danh mà anh đã từng đến và lưu dấu ân tình. Mai này một số địa danh chắc chắn sẽ không còn nữa thì trong anh, trong lòng bạn đọc vẫn mãi một tình yêu về quê hương xứ sở ấy.

Cảm phục thay sức đi, sức viết, sức sáng tạo của tác giả Vũ Trọng Thái. Xin chúc mừng anh đứa con tinh thần ý nghĩa này và hy vọng anh sẽ cho ra đời nhiều đứa con tinh thần kháu khỉnh khác nữa.  

Đ.X.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm