TIN TỨC

Nắng xanh pha hương giọt mật đầy

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-08 17:48:56
mail facebook google pos stwis
790 lượt xem

Giữa nhịp sống vội, THỜI NẮNG XANH mở một khung trời dịu sáng: gió qua mặt cỏ, khói nhang nghiêng vai, thẳm sâu là nếp nhà. Đó là giọng nói về nguồn cội — ít phô trương, nhiều bền bỉ — khiến ta muốn bước chậm lại để lắng nghe. Về tập thơ này đã có nhiều bài viết; lần này, Văn Chương TP.HCM xin giới thiệu bài của Tuấn Trần.
 

TUẤN TRẦN
(Cảm nhận về tập thơ THỜI NẮNG XANHTrương Nam Hương)

Giữa nhịp sống đuổi xô, người trẻ như tôi phải chóng trôi để theo kịp với tốc độ điên cuồng vô nghĩa. Lắm lúc, ở một khoảnh khắc nào đó trên đường đua, ghé nhìn ven đường - bất chợt,“Cỏ mềm xanh thót trái tim”/…/ Chim kêu thót ngực hoa vườn/ “Em xa hòn sỏi cuối đường thót đau”. Thảng thốt tôi nhận ra mình đã quên đi mục đích sống trên đời. Ngày nào có những hình dung như thế thoáng qua tâm trí là đêm về tôi lại “nhảy lên xe” để tìm… Tìm “Về hỏi thăm mùa cũ”, và thấy, “Gốc dâu người đốn bỏ/ Rễ nắng xòa lên tôi”. Tôi lẫn trốn thực tại mông lung ngột ngạt, ngụ vào chốn nương náu bình yên trong “THỜI NẮNG XANH”.

Bối cảnh nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương có khả năng lớn lao làm thời gian tiết độ, để cho ta kịp nán lại mà nói lời cảm tạ cuộc đời. Ta sống cẩn trọng và chân thành hơn. Ta biết“…Lặng đến cuối cơn mưa bất chợt”, để thấy “Lộng lẫy sau lưng bảy sắc cầu vồng”. Hẳn là lúc đó ta được đứng ở vị trí bên lề, cho cùng trải phơi bao mạch nguồn cảm hứng yêu thương thao thiết:“Biển nhắc thu về giọt máu xanh” - Tiếng thơ kiến tạo trên nền tảng đó.

“Sớm nay trời đất ngây ngoai quá/ Mùa nhắc heo may ghé cửa phòng/ Nắng cũng thơm mềm mây cũng ngọt/ Nhớ gì cây phố khép cong cong!”. Và có những buổi sáng như thế, một người trẻ cho phép mình “vượt ngưỡng” bằng cách tìm về, mặc “tay trắng hồn trong”. Tâm hồn ta cần được nghỉ ngơi, để khơi nguồn... Kể cả việc ngồi như ngồi chờ cơn bão cơm áo gạo tiền đổ tới, thì ta vẫn cứ chấp niệm vô cùng.

Chẳng có cơn bão nào mạnh hơn cơn bão lòng, cơn bão trống vắng giữa ngàn ngạt người. Để khỏa lấp vá víu những hư nát bấy trần nơi trái tim, khi phong phanh khuôn ngực đi qua phong ba của đời sống đương đại. Có lẽ, ta chỉ còn cách kiếm nhìn về quá khứ, những điều thiêng liêng thầm lặng “Đứng ngoài các cuộc bon chen/ Lắng trong nước mắt muộn phiền nhân gian”. Chỉ khi ta biết ơn, mới sâu cảm về thế giới trần trụi này. Thực tế thế giới trần trụi là “đồng lõa” của điều chân thành đẹp đẽ. Và khi ta đấu tranh với thực tại xấu ác trần trụi kia, lúc chiến thắng mới thấy được sự đáng giá hơn ngàn lần của cái thiện đẹp chân thành: “Khi con nói về giang sơn gấm vóc/ Nhớ đừng quên có hạt lúa tảo tần/ Khi con nói về lớn lao tổ quốc/ Nhớ có phần vĩ đại của nhân dân”.

Ngoài kia mọi sinh vật chữ nghĩa mặc màu áo cách tân, giẫm đạp nhau can dự vào hiện thực nhân sinh. Với nhiều tiếng nói “đại nghĩa”: Khi đả phá, khi kêu đòi, khi giễu nhại, khi nghịch thường, lúc ngạo nghễ… Nhưng dễ mà đến khi “bạo phát bạo tàn” nếu thơ chẳng biết mình biết ta, biết vai trò, vị trí, biết điểm dừng và giới hạn của chính mình. “Thần Đồng” đó mà cũng chỉ khiêm hạ đứng “Góc sân” nhìn “khoảng trời” nữa là,…

Với Trương Nam Hương, nhỏ nhoi lắm – “Linh cảm câu thơ rét muốt về”, “Dáng gầy như lau sậy”, “Phận nghèo lắm lúc liêu trai/ Tình mơ lỏng hết khuya cài hèn sang”. Anh luôn cất lên những tâm tình bé mọn, giòn khô phận người như thế. Để kết bện bền bỉ sợi tình tơ nghĩa nối lại đôi bờ hư thực mà “ngỡ” mà lật trở mà yêu thương ngào ngọt. Để, “Sau đêm” “Sáng dậy hương mùa xanh đẫm tay/ Em dâng tươi mưởi giấc em đầy/ Đêm mơ gió chúm trên môi lá/ Em… vít tình anh tưởng bóng cây”. Để thương, “Thương bông cúc nhỏ chiều mưa ấy/ Run rẩy chờ anh giữa gió lùa”.

Tôi vẫn nhận ra đôi điều “bất an” hay “chát chúa” về đời sống trong âm hưởng tiếng thơ. Nhưng những nặng lòng cho tang tóc thời thế đó được bọc gói trong hình hài thẩm mỹ đẹp trong nhẹ nhàng, với những cử động giai âm hết sức tế vi mà đủ sức ngân vang. Anh thấy được phía trước là hư vô,“Người mới đây người… không thấy nữa/ Nhang vẽ chân dung, khói điểm thần”. Nên ý thức tìm về lối cũ đường xưa, để hôn rửa cho nhu thuần tấm thân trần vô lực.

Trương Nam Hương vẫn mãi miết nuôi “mộng ban đầu khó phai”. Anh vẫn khóc cười cùng “sương trắng, nắng xanh”. Mặc gió Á, mưa Âu ngập đường phì độn. Mặc hình hài thẩm mỹ thế gian thai mang những nồng nặc khí thở thời đại - một thời đại ăn xổi ở thì. Tiếng thơ anh vẫn cần mẫn điều tiết dòng chảy mềm mại nhỏ rỉ. Để giữ cho dòng văn hóa nguồn cội thiêng liêng đồng chảy, song cùng những bội thực suy tưởng hậu hiện đại. Và thơ Anh có mặt để chống lại sự vô cảm của người đời với thơ chăng!

Trương Nam Hương là nhà thơ hiện đại, thuộc thế hệ hậu chiến. Trên mảnh đất “cảm thức nguồn cội” - vốn dĩ là thi đề đã từng thành công rực rỡ, đóng thành mốc son sáng chói tôn vinh những thi hào tiền bối tuyệt tác như: Nguyễn Bính, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Thạch Quỳ, Bằng Việt, Viễn Phương… Thế nhưng, hồn thơ Trương Nam Hương đã vượt qua thử thách lớn và gieo hạt mầm ấn tượng nội tâm riêng khác - Không hề “yểu xanh” so với những tán của các thi dân thế hệ trước đã thâm canh. Với đồng bối, thì thơ Anh đã trở thành số một, vị trí không thể thay thế trong biểu đồ thi ca “Những mùa thu cũ”…

Yếu tố làm nên chất trữ tình vinh diệu trong thơ Trương Nam Hương, trước hết từ bản thể một tâm hồn “tinh tế bẩm sinh”. Trên phương diện nghệ thuật thì thi cách/ “mánh khóe” dụng ngôn bằng thanh trắc. Với sự khéo léo xếp đặt chấm phá những động từ “trúc trắc” vào trong tứ thơ đang rất ngọt đã tạo nên ấn tượng tri giác độc đáo. Đó là sáng tạo tuyệt vời để xác lập trên nền tảng cũ mòn một điều sáng lạ. Tất nhiên tứ - tình – hình ảnh – âm thanh phải rất tài hoa tuyệt thế: “Bừng thức tinh khôi/ Bông hoa khe khẽ hát/ Anh áp nhẹ vào thăm thẳm nhan sắc/ Anh bắt gặp vòm cây em trẻ lại/ Suối sông thấm đẫm mưa hè/ Mùi ngây ngái của ngô non bùn bãi/ Chú nhái nằm thoi thóp lá sen che”.

Lối tạo tác ngang nghạnh giữa mạch thơ đó, nếu ngòi bút không đủ khéo léo, sẽ làm cho cấu hình thẩm mỹ trở thành quái gỡ trong tạo lập văn bản tình thơ miền nhớ - vốn dĩ rất lặng lẽ, ngọt bùi, ân cần và tràn dư thao thiết. Trương Nam Hương đã xử lý chính xác tuyệt đối, cho âm thanh của trí tưởng sau cùng, gu vị còn đọng lại vẫn mượt mà không một gút sợi. Vừa cầu kì, vừa giản dị, vừa trong trẻo lại rất thanh tân. Có thể nói trong thơ Trương Nam Hương có bối cảnh nghệ thuật hương thôn mang điệu hồn Nguyễn Bính, nhưng giữa bầu không mướt như nhung lại được uốn cong chiều kích để “chuyển đổi cảm giác”, tạo thành khối hình tưởng tượng cho cảm xúc và kí ức đắp bồi thành sáp mềm lấp lánh:

- Nến tiễn buồn thương- lệ ngún thân

- Trăng chếch sân đình đỏ miếng cau

- Ta ngồi ngóng khoảng chiều im, thót buồn

- Em vít tình anh… tưởng bóng cây

- Sóng nhớ nghiêng duềnh cả mép ghe

- Nắng trong mắt những ngày thơ bé/ Cũng mơn xanh như thể lá trầu.

- Hoa sữa muộn mùa thơm thắc thỏm

- Lêu têu chân đất quạt mo thằng bờm

Các thanh trắc được lựa lọc và xếp đặt một cách sắc sảo đã kiến tạo sự cách tân trong thi pháp nhưng ảnh tượng nghệ thuật quá đỗi “ước lệ”- trong trẻo trắng ngần bầu không thôn ấp, cỏ, gió và nắng và bóng làng xa, vãn chợ chiều lại thể hiện cái bình yên sâu sắc trong thánh địa tâm hồn. Sự đan xen cũ mới tài tình đã làm cho thơ Anh trẻ trung, yêu đời - Dễ “đánh lừa tri giác”, để rồi thò sâu được vào trong lòng thế hệ hôm nay mà bắt đầu sửa sang/ chữa lành cho một căn bệnh mang tầm vóc thời đại: Vô cảm.

Không đứng “Góc sân” nhìn “khoảng trời” như Thần Đồng, Trương Nam Hương chọn “nhân sinh quan” “Góc cỏ” để nhìn những “nem nép” thân phận đang thể nghiệm hành vi thế thái nhân tình một cách trộm giấu xấu hổ. “Trong im lặng biếc xanh”, ta thấy xanh biếc màu sắc sự sống tồn tục nghiệt ngã của những sinh linh. Nhưng rồi sau tất cả, tất cả những “hành giả”, những “động tác” “cơ man là đê hèn trơ trụi” vẫn có một chồi non ủ đất, no sương, đợi chờ để một ngày tách vỡ, bỡ ngỡ gặp người…

"Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man gió và vầng trăng

Có nụ hôn lắm mùi mặc cả

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man nắng và tự do

Có dâng hiến không đòi giá thú

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man nhớ và cô đơn

Có câu thơ quặn đau sinh nở

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man quên và vô ơn

Có điếu thuốc vội vàng dụi lửa

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man bụi và chúng sinh

Có ánh mắt khóc cười khép mở

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man sương và lá đêm

Có thổn thức đợi mùa… để vỡ!"

Đọc thơ Anh từ thưở mười ba cho đến bây giờ tôi vẫn thế - “vẹn nguyên”: Một tình yêu được vẽ ra “lồm cồm” nơi nền đất, sàn nhà - Nguệch ngoạc những nét đầu tiên tôi tập làm thầy giáo chép lên cánh cửa hình ảnh quê cha, “người lạ kẻ quen”: “Ta nghe trong lời mẹ hát… / Chòng chành nhịp võng ca dao…”.

Ra đời vượt núi băng sông, lăn mình quay quắt qua những ngọn cao cuộc sống với nhiều thử thách chông gai. Cho đến khi trở lại với “THỜI NẮNG XANH”, vẫn vậy trong tôi: cúi nhìn về phía hương thôn - một bóng nước thẫm in nền trời chiều hôm nắng quái. Tôi náu trong tiếng thơ ấy như nép mình sau vạt áo lưng mẹ, một tấm khiên vòng tay vững chãi cha ôm. Có thể chăng một lớp vải liệm, một nắp áo quan ngày gánh nội ra đồng. Hay tôi đã luôn ở trong tiếng thơ Anh như cái bóng đứa trẻ ngây thơ hồn hậu náu sau bờ tre mái rạ để nghe:Run trên gốc rễ cũ càng/ Tôi trong dáng ngoại, bóng làng chở che”.

Bài in trên tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 10/2025

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm