TIN TỨC

Nắng xanh pha hương giọt mật đầy

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-08 17:48:56
mail facebook google pos stwis
594 lượt xem

Giữa nhịp sống vội, THỜI NẮNG XANH mở một khung trời dịu sáng: gió qua mặt cỏ, khói nhang nghiêng vai, thẳm sâu là nếp nhà. Đó là giọng nói về nguồn cội — ít phô trương, nhiều bền bỉ — khiến ta muốn bước chậm lại để lắng nghe. Về tập thơ này đã có nhiều bài viết; lần này, Văn Chương TP.HCM xin giới thiệu bài của Tuấn Trần.
 

TUẤN TRẦN
(Cảm nhận về tập thơ THỜI NẮNG XANHTrương Nam Hương)

Giữa nhịp sống đuổi xô, người trẻ như tôi phải chóng trôi để theo kịp với tốc độ điên cuồng vô nghĩa. Lắm lúc, ở một khoảnh khắc nào đó trên đường đua, ghé nhìn ven đường - bất chợt,“Cỏ mềm xanh thót trái tim”/…/ Chim kêu thót ngực hoa vườn/ “Em xa hòn sỏi cuối đường thót đau”. Thảng thốt tôi nhận ra mình đã quên đi mục đích sống trên đời. Ngày nào có những hình dung như thế thoáng qua tâm trí là đêm về tôi lại “nhảy lên xe” để tìm… Tìm “Về hỏi thăm mùa cũ”, và thấy, “Gốc dâu người đốn bỏ/ Rễ nắng xòa lên tôi”. Tôi lẫn trốn thực tại mông lung ngột ngạt, ngụ vào chốn nương náu bình yên trong “THỜI NẮNG XANH”.

Bối cảnh nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương có khả năng lớn lao làm thời gian tiết độ, để cho ta kịp nán lại mà nói lời cảm tạ cuộc đời. Ta sống cẩn trọng và chân thành hơn. Ta biết“…Lặng đến cuối cơn mưa bất chợt”, để thấy “Lộng lẫy sau lưng bảy sắc cầu vồng”. Hẳn là lúc đó ta được đứng ở vị trí bên lề, cho cùng trải phơi bao mạch nguồn cảm hứng yêu thương thao thiết:“Biển nhắc thu về giọt máu xanh” - Tiếng thơ kiến tạo trên nền tảng đó.

“Sớm nay trời đất ngây ngoai quá/ Mùa nhắc heo may ghé cửa phòng/ Nắng cũng thơm mềm mây cũng ngọt/ Nhớ gì cây phố khép cong cong!”. Và có những buổi sáng như thế, một người trẻ cho phép mình “vượt ngưỡng” bằng cách tìm về, mặc “tay trắng hồn trong”. Tâm hồn ta cần được nghỉ ngơi, để khơi nguồn... Kể cả việc ngồi như ngồi chờ cơn bão cơm áo gạo tiền đổ tới, thì ta vẫn cứ chấp niệm vô cùng.

Chẳng có cơn bão nào mạnh hơn cơn bão lòng, cơn bão trống vắng giữa ngàn ngạt người. Để khỏa lấp vá víu những hư nát bấy trần nơi trái tim, khi phong phanh khuôn ngực đi qua phong ba của đời sống đương đại. Có lẽ, ta chỉ còn cách kiếm nhìn về quá khứ, những điều thiêng liêng thầm lặng “Đứng ngoài các cuộc bon chen/ Lắng trong nước mắt muộn phiền nhân gian”. Chỉ khi ta biết ơn, mới sâu cảm về thế giới trần trụi này. Thực tế thế giới trần trụi là “đồng lõa” của điều chân thành đẹp đẽ. Và khi ta đấu tranh với thực tại xấu ác trần trụi kia, lúc chiến thắng mới thấy được sự đáng giá hơn ngàn lần của cái thiện đẹp chân thành: “Khi con nói về giang sơn gấm vóc/ Nhớ đừng quên có hạt lúa tảo tần/ Khi con nói về lớn lao tổ quốc/ Nhớ có phần vĩ đại của nhân dân”.

Ngoài kia mọi sinh vật chữ nghĩa mặc màu áo cách tân, giẫm đạp nhau can dự vào hiện thực nhân sinh. Với nhiều tiếng nói “đại nghĩa”: Khi đả phá, khi kêu đòi, khi giễu nhại, khi nghịch thường, lúc ngạo nghễ… Nhưng dễ mà đến khi “bạo phát bạo tàn” nếu thơ chẳng biết mình biết ta, biết vai trò, vị trí, biết điểm dừng và giới hạn của chính mình. “Thần Đồng” đó mà cũng chỉ khiêm hạ đứng “Góc sân” nhìn “khoảng trời” nữa là,…

Với Trương Nam Hương, nhỏ nhoi lắm – “Linh cảm câu thơ rét muốt về”, “Dáng gầy như lau sậy”, “Phận nghèo lắm lúc liêu trai/ Tình mơ lỏng hết khuya cài hèn sang”. Anh luôn cất lên những tâm tình bé mọn, giòn khô phận người như thế. Để kết bện bền bỉ sợi tình tơ nghĩa nối lại đôi bờ hư thực mà “ngỡ” mà lật trở mà yêu thương ngào ngọt. Để, “Sau đêm” “Sáng dậy hương mùa xanh đẫm tay/ Em dâng tươi mưởi giấc em đầy/ Đêm mơ gió chúm trên môi lá/ Em… vít tình anh tưởng bóng cây”. Để thương, “Thương bông cúc nhỏ chiều mưa ấy/ Run rẩy chờ anh giữa gió lùa”.

Tôi vẫn nhận ra đôi điều “bất an” hay “chát chúa” về đời sống trong âm hưởng tiếng thơ. Nhưng những nặng lòng cho tang tóc thời thế đó được bọc gói trong hình hài thẩm mỹ đẹp trong nhẹ nhàng, với những cử động giai âm hết sức tế vi mà đủ sức ngân vang. Anh thấy được phía trước là hư vô,“Người mới đây người… không thấy nữa/ Nhang vẽ chân dung, khói điểm thần”. Nên ý thức tìm về lối cũ đường xưa, để hôn rửa cho nhu thuần tấm thân trần vô lực.

Trương Nam Hương vẫn mãi miết nuôi “mộng ban đầu khó phai”. Anh vẫn khóc cười cùng “sương trắng, nắng xanh”. Mặc gió Á, mưa Âu ngập đường phì độn. Mặc hình hài thẩm mỹ thế gian thai mang những nồng nặc khí thở thời đại - một thời đại ăn xổi ở thì. Tiếng thơ anh vẫn cần mẫn điều tiết dòng chảy mềm mại nhỏ rỉ. Để giữ cho dòng văn hóa nguồn cội thiêng liêng đồng chảy, song cùng những bội thực suy tưởng hậu hiện đại. Và thơ Anh có mặt để chống lại sự vô cảm của người đời với thơ chăng!

Trương Nam Hương là nhà thơ hiện đại, thuộc thế hệ hậu chiến. Trên mảnh đất “cảm thức nguồn cội” - vốn dĩ là thi đề đã từng thành công rực rỡ, đóng thành mốc son sáng chói tôn vinh những thi hào tiền bối tuyệt tác như: Nguyễn Bính, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Thạch Quỳ, Bằng Việt, Viễn Phương… Thế nhưng, hồn thơ Trương Nam Hương đã vượt qua thử thách lớn và gieo hạt mầm ấn tượng nội tâm riêng khác - Không hề “yểu xanh” so với những tán của các thi dân thế hệ trước đã thâm canh. Với đồng bối, thì thơ Anh đã trở thành số một, vị trí không thể thay thế trong biểu đồ thi ca “Những mùa thu cũ”…

Yếu tố làm nên chất trữ tình vinh diệu trong thơ Trương Nam Hương, trước hết từ bản thể một tâm hồn “tinh tế bẩm sinh”. Trên phương diện nghệ thuật thì thi cách/ “mánh khóe” dụng ngôn bằng thanh trắc. Với sự khéo léo xếp đặt chấm phá những động từ “trúc trắc” vào trong tứ thơ đang rất ngọt đã tạo nên ấn tượng tri giác độc đáo. Đó là sáng tạo tuyệt vời để xác lập trên nền tảng cũ mòn một điều sáng lạ. Tất nhiên tứ - tình – hình ảnh – âm thanh phải rất tài hoa tuyệt thế: “Bừng thức tinh khôi/ Bông hoa khe khẽ hát/ Anh áp nhẹ vào thăm thẳm nhan sắc/ Anh bắt gặp vòm cây em trẻ lại/ Suối sông thấm đẫm mưa hè/ Mùi ngây ngái của ngô non bùn bãi/ Chú nhái nằm thoi thóp lá sen che”.

Lối tạo tác ngang nghạnh giữa mạch thơ đó, nếu ngòi bút không đủ khéo léo, sẽ làm cho cấu hình thẩm mỹ trở thành quái gỡ trong tạo lập văn bản tình thơ miền nhớ - vốn dĩ rất lặng lẽ, ngọt bùi, ân cần và tràn dư thao thiết. Trương Nam Hương đã xử lý chính xác tuyệt đối, cho âm thanh của trí tưởng sau cùng, gu vị còn đọng lại vẫn mượt mà không một gút sợi. Vừa cầu kì, vừa giản dị, vừa trong trẻo lại rất thanh tân. Có thể nói trong thơ Trương Nam Hương có bối cảnh nghệ thuật hương thôn mang điệu hồn Nguyễn Bính, nhưng giữa bầu không mướt như nhung lại được uốn cong chiều kích để “chuyển đổi cảm giác”, tạo thành khối hình tưởng tượng cho cảm xúc và kí ức đắp bồi thành sáp mềm lấp lánh:

- Nến tiễn buồn thương- lệ ngún thân

- Trăng chếch sân đình đỏ miếng cau

- Ta ngồi ngóng khoảng chiều im, thót buồn

- Em vít tình anh… tưởng bóng cây

- Sóng nhớ nghiêng duềnh cả mép ghe

- Nắng trong mắt những ngày thơ bé/ Cũng mơn xanh như thể lá trầu.

- Hoa sữa muộn mùa thơm thắc thỏm

- Lêu têu chân đất quạt mo thằng bờm

Các thanh trắc được lựa lọc và xếp đặt một cách sắc sảo đã kiến tạo sự cách tân trong thi pháp nhưng ảnh tượng nghệ thuật quá đỗi “ước lệ”- trong trẻo trắng ngần bầu không thôn ấp, cỏ, gió và nắng và bóng làng xa, vãn chợ chiều lại thể hiện cái bình yên sâu sắc trong thánh địa tâm hồn. Sự đan xen cũ mới tài tình đã làm cho thơ Anh trẻ trung, yêu đời - Dễ “đánh lừa tri giác”, để rồi thò sâu được vào trong lòng thế hệ hôm nay mà bắt đầu sửa sang/ chữa lành cho một căn bệnh mang tầm vóc thời đại: Vô cảm.

Không đứng “Góc sân” nhìn “khoảng trời” như Thần Đồng, Trương Nam Hương chọn “nhân sinh quan” “Góc cỏ” để nhìn những “nem nép” thân phận đang thể nghiệm hành vi thế thái nhân tình một cách trộm giấu xấu hổ. “Trong im lặng biếc xanh”, ta thấy xanh biếc màu sắc sự sống tồn tục nghiệt ngã của những sinh linh. Nhưng rồi sau tất cả, tất cả những “hành giả”, những “động tác” “cơ man là đê hèn trơ trụi” vẫn có một chồi non ủ đất, no sương, đợi chờ để một ngày tách vỡ, bỡ ngỡ gặp người…

"Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man gió và vầng trăng

Có nụ hôn lắm mùi mặc cả

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man nắng và tự do

Có dâng hiến không đòi giá thú

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man nhớ và cô đơn

Có câu thơ quặn đau sinh nở

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man quên và vô ơn

Có điếu thuốc vội vàng dụi lửa

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man bụi và chúng sinh

Có ánh mắt khóc cười khép mở

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man sương và lá đêm

Có thổn thức đợi mùa… để vỡ!"

Đọc thơ Anh từ thưở mười ba cho đến bây giờ tôi vẫn thế - “vẹn nguyên”: Một tình yêu được vẽ ra “lồm cồm” nơi nền đất, sàn nhà - Nguệch ngoạc những nét đầu tiên tôi tập làm thầy giáo chép lên cánh cửa hình ảnh quê cha, “người lạ kẻ quen”: “Ta nghe trong lời mẹ hát… / Chòng chành nhịp võng ca dao…”.

Ra đời vượt núi băng sông, lăn mình quay quắt qua những ngọn cao cuộc sống với nhiều thử thách chông gai. Cho đến khi trở lại với “THỜI NẮNG XANH”, vẫn vậy trong tôi: cúi nhìn về phía hương thôn - một bóng nước thẫm in nền trời chiều hôm nắng quái. Tôi náu trong tiếng thơ ấy như nép mình sau vạt áo lưng mẹ, một tấm khiên vòng tay vững chãi cha ôm. Có thể chăng một lớp vải liệm, một nắp áo quan ngày gánh nội ra đồng. Hay tôi đã luôn ở trong tiếng thơ Anh như cái bóng đứa trẻ ngây thơ hồn hậu náu sau bờ tre mái rạ để nghe:Run trên gốc rễ cũ càng/ Tôi trong dáng ngoại, bóng làng chở che”.

Bài in trên tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 10/2025

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm