TIN TỨC

Nếp nhà xưa cũ trong Về nơi nguồn cội của nhà văn Đới Xuân Việt

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-24 09:22:23
mail facebook google pos stwis
1383 lượt xem

TRƯƠNG NAM HƯƠNG

Cuốn sách "Về nơi nguồn cội" kể về dòng họ nội, họ ngoại của nhà văn Đới Xuân Việt. Tác phẩm phản ánh gần như bức tranh toàn cảnh của gia tộc tác giả những năm đầu thế kỷ trước cho đến khi đất nước độc lập, giang sơn thu về một mối, qua đó ghi nhận những đóng góp của các vị đức cao vọng trọng trong dòng tộc cho xã hội và cho dòng họ.
 


Nhà văn, đạo diễn Đới Xuân Việt.

Tác phẩm còn nhắc nhở chúng ta công lao của các bậc tiền nhân trong việc khai sơn phá thạch, đã xây dựng và để lại cho chúng ta giang sơn gấm vóc như ngày nay.

Tôi đặc biệt ấn tượng với những hồi ức của tác giả về những bậc tiên tổ trong dòng họ. Ông nội tác giả, một thầy đồ Nho hay chữ, một lang y bốc thuốc chữa bệnh cứu người có tiếng ở vùng Quảng Xương - Thanh Hóa. Cụ có lòng yêu thương con cháu đặc biệt. "Năm nào ông cũng nấu cao ban long bồi dưỡng cho người đau yếu. Sáng ra, ông thường cho người nấu một nồi cháo với củ hoàng tinh rồi cho cao ban long đã thái hạt lựu vào bát cháo cho các cháu ăn trước khi đi học". Cụ dạy bảo con cháu rất cẩn thận, tỉ mỉ từ nếp ăn, nếp ở đến công việc nhà nông, giáo dục con cháu sống có đức độ, sống tốt, sống có trên, có dưới. Đặc biệt, cụ luôn bảo ban con cháu phải biết giữ gìn của cải, sống tiết kiệm, tránh xa cờ bạc, rượu chè bê tha. Cụ luôn ý thức về dòng họ, chăm lo các điều kiện cho con cháu làm ăn, lập nghiệp, giao trách nhiệm cho người đi trước giúp đỡ người đi sau làm cho dòng họ ngày càng phương trưởng. Cụ như cây đại thụ xum xuê chở che cho con cháu.

Cùng với ông nội, bà nội của tác giả cũng để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Cụ bà là người phụ nữ Việt Nam điển hình cần cù, chăm chỉ, lo toan việc nhà và thương yêu con cháu. Cả một đời lao động vất vả, hầu như ngày nào cũng có mặt ở vườn trước, vườn sau, trồng đủ loại rau mùa nào thức ấy, tự cung cấp rau quả cho bữa ăn gia đình. Cả đời bà làm việc lam lũ, đến già lưng cụ còng xuống nhưng không lúc nào rời mắt khỏi con cháu. "Nhà tôi ở phía trước nhà ông bà. Bà tôi đã ngoài bảy mươi tuổi, mỗi lần sang nhà tôi đều phải chống gậy. Ấy vậy mà ngày nào bà cũng sang thăm một, hai lần. Lúc thì mang cho rổ rau, rổ khoai lang, lúc thì dăm bơ lạc, bơ vừng. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in hình ảnh bà lưng còng, mặc váy đen, áo nâu sồng, da nhăn nheo chống gậy lững thững sang nhà tôi mà thương bà vô hạn".

Khi nhìn sang bên họ ngoại của tác giả, ta được chiêm ngưỡng một dòng họ trâm anh thế phiệt. Là hậu duệ của vị vua có nhiều con nhất Việt Nam - Vua Minh Mạng, ông ngoại của tác giả, cụ Công Tôn Ưng Dinh là tấm gương sáng về rèn luyện, học tập, phấn đấu tu dưỡng đạt được các kết quả đáng mơ ước trên con đường công danh sự nghiệp. Là một thượng thư, tổng đốc tỉnh Thanh Hóa, một tỉnh có diện tích lớn vào bậc nhất Việt Nam, ngoài việc làm tròn bổn phận của một quan đầu tỉnh, cụ còn có công khai khẩn đất hoang, lập làng, lập ấp, xây dựng hệ thống cống dẫn thủy nhập điền góp phần biến một vùng đất hoang hóa, sình lầy rộng lớn thành đồng ruộng.

Là một vị quan to nhưng cụ không nề hà việc nhà nông chân lấm tay bùn. Cụ vẫn xắn quần đi cày bừa, nhổ mạ, làm quần quật ngoài đồng không kể nắng mưa, lao động cần cù chăm chỉ như một nông dân thực thụ. Ngoài bảy mươi tuổi, cụ vẫn chống ba-toong ra đồng kiểm tra lúa má, nước nôi. Cụ có một tình yêu đặc biệt đối với đất đai và cây lúa.


Bìa sách của nhà văn Đới Xuân Việt.

Cụ ngoại của nhà văn cũng sống rất tiết kiệm, không xa hoa lãng phí. Ra ngoài chỉ đội khăn xếp, áo the thân dài. Đi tàu hỏa chỉ lựa hạng 3. Bữa cơm thường nhật đạm bạc với canh cá kình, cá bống kho khô… Cụ cũng rất quan tâm đến việc giáo dục con cái, rất trân trọng, khuyến khích từng thành quả học vấn nhỏ nhoi của con cháu… Các bậc tiên tổ trong dòng họ của tác giả đều có lối sống giản dị, tiết kiệm, yêu thương con cháu hết mực và chăm lo đến sự nghiệp của con cháu. Đó chính là cái gốc đạo đức của các dòng họ Việt Nam, góp phần vào việc ổn định và phát triển xã hội từ đời này qua đời khác.

Cuốn sách cũng đề cập những vấn đề nhạy cảm, thường rất khó truyền tải suôn sẻ. Song, với giọng văn chân thật và trân trọng, những vấn đề gai góc bỗng trở nên đơn giản, dễ chấp nhận. Trong truyện, có những đoạn đời, phần đời gắn với những sự kiện lớn của đất nước, ví dụ cách mạng ruộng đất ở nông thôn miền Bắc những năm năm mươi của thế kỷ trước, tác giả đã kể cho ta biết những câu chuyện đau lòng, cười ra nước mắt nhưng không đi sâu vào nỗi đau quá khứ mà chủ yếu phản ánh những con người, những số phận chịu nhiều thiệt thòi, mất mát đã đứng dậy ra sao, đã phấn đấu ra sao cho một cuộc sống bình yên và tốt đẹp hơn. Những đau khổ, đắng cay của cuộc đời đã không đẩy họ đến những hành động tiêu cực. Họ vẫn phấn đấu hướng đến những điều tốt đẹp, tiếp tục có những đóng góp tích cực cho xã hội, cho đất nước. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, con cháu của nhiều địa chủ trong dòng họ của tác giả đã đi bộ đội chiến đấu ở các chiến trường và đã hoàn thành nhiệm vụ của người lính. Tác giả luôn có xu hướng nghiêng về tính tích cực của các sự kiện. Cuốn sách đề cao truyền thống quý báu của dòng họ, niềm tự hào cho con cháu noi theo. Nó cũng là nguồn động lực tiếp sức cho các thế hệ sau phấn đấu và vươn lên.

Truyện còn kể về một người bà con của tác giả, một ông Cai Tổng trong chính quyền của thực dân Pháp, một đại địa chủ lại là người giác ngộ tham gia cách mạng ngay từ khi Đảng mới thành lập. Ngôi nhà của ông là nơi thành lập và hoạt động của chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của vùng phía Nam huyện Quảng Xương, Thanh Hóa, đã được công nhận là di tích cách mạng cấp tỉnh.

Nhiều tấm gương sáng của các bậc tiền bối trong dòng họ của tác giả mang tính khái quát, đại diện cho những đức tính tốt của các bậc tiên tổ trong các dòng họ ở Việt Nam. Ví dụ, truyền thống hiếu học, tính cần cù lao động, sống tiết kiệm, tích cóp tiền của xây dựng cơ nghiệp để lại cho con cháu. Hoặc lòng yêu nước, thương nòi thì ở dòng họ nào cũng có. Và ta có cảm giác, dường như số phận của dòng họ gắn liền với sự thăng trầm của đất nước.

Hướng về cội nguồn là tâm tưởng của người Việt từ bao đời nay. Điều này được thể hiện qua các ngày giỗ chạp. Giỗ ông bà, giỗ cha mẹ. Giỗ quốc Tổ Hùng Vương…  Cũng từ đó, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được gìn giữ và phát huy từ đời này sang đời khác. Đó là truyền thống rất quý báu của dân tộc ta.

"Về nơi nguồn cội" là một thiên truyện ký, một truyện dài về dòng họ đã trải qua hơn một thế kỷ từ khi đất nước còn chìm đắm trong đêm dài nô lệ cho đến khi hoàn toàn được độc lập. Bao nhiêu vui buồn, bao nhiêu khổ hạnh và sung sướng tưới đẫm số phận các nhân vật, đem lại cho chúng ta những cảm xúc nhiều chiều. Tác phẩm, với các chi tiết, sự kiện phong phú, ngồn ngộn trải ra trước mắt người đọc, khiến cuốn sách, dù là ở thể hồi ký, nhưng đọc rất hấp dẫn, không khô khan, đơn điệu. Đã 70 năm trôi qua, nhưng nhiều sự kiện, sự việc vẫn rõ mồn một, hiển hiện trên từng trang sách. Hy vọng cuốn sách sẽ đem đến cho bạn đọc niềm tự hào về dòng họ, về ông cha với một tình yêu và lòng kính trọng dành cho các bậc tiên tổ.

Tháng 5/2024

Một vài hình ảnh nhà văn Đới Xuân Việt và bạn bè tại TP. Hồ Chí Minh
 
Từ trái: Đới Xuân Việt, Trần Mạnh Hảo, Nguyên Hùng và Trương Nam Hương
 

 
Từ trái: Trương Nam Hương, Lê Minh Quốc, Bùi Quang Lâm, Đới Xuân Việt, Nguyên Hùng.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm