TIN TỨC

Nghiên cứu truyện Nam Cao theo góc nhìn thi pháp

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-16 13:40:26
mail facebook google pos stwis
2367 lượt xem

Bằng cách ghi nhận từ các bài nghiên cứu, lời giới thiệu, chắt lọc những ý kiến nho nhỏ, có khi chỉ một vài nhận xét liên quan, có thể đưa ra một cách nhìn về tình hình nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao trên góc độ thi pháp học hiện đại.

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

So với những nhà văn hiện thực đương thời, Nam Cao khẳng định vị trí của mình trên văn đàn muộn hơn. Thế nhưng, không đi theo lối mòn của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…, Nam Cao tự vạch con đường riêng cho mình. Nhà văn không biết mệt mỏi kiếm tìm những hạt ngọc tiềm ẩn trong sa mạc bạt ngàn của cuộc sống. Cuộc sống vốn đa thanh, phức điệu. Người nghệ sĩ không thể là người vĩ đại đến độ ở cuộc đời có bao nhiêu mối tơ lòng thì trong tác phẩm của họ đòi hỏi phải dung tải hết bằng bấy nhiêu cung bậc. Để tự khẳng định mình, nhà văn phải tự chọn cho riêng mình một “nốt gam”. Ở đó, độ ngân nga, sâu lắng để lột tả một khía cạnh nào đó của đời sống đạt đến độ chín muồi. Nam Cao là nhà văn làm được điều đó.

Dựa vào chủ ý và cá tính sáng tạo của nhà văn mà các tác giả khẳng định Nam Cao có một phong cách, giọng điệu riêng không thể lẫn với bất kỳ ai. GS. Hà Minh Đức nhận xét: “… Nhưng không thể chỉ vì thế mà dễ lẫn lộn hoặc mờ cá tính. Cũng có thể có người thấy ở đây có một chút gì như tàn nhẫn, khinh bạc. Nếu có thật chăng thì điều đó chỉ dành cho cả chính mình và những nhân vật mang bóng dáng mình”. Trong khi đó, PGS. Trần Hữu Tá coi một số nhân vật trong tác phẩm là bóng dáng của nhà văn. Các tác giả Vương Trí Nhàn, Phong Lê, Huỳnh Lý, Nguyễn Hoành Khung… đều đồng quan điểm. Họ cùng gặp nhau ở kết luận: “Thật ra vấn đề chính để bộc lộ ra thái độ chính là ở nội dung, Nam Cao muốn có một thái độ khách quan để miêu tả nhân vật và cảnh ngộ”.

Nhóm ý kiến nhận xét nhà văn Nam Cao có tính chất châm biếm trào lộng cao, gồm các tác giả: Hà Văn Đức, Phan Cự Đệ, Trần Thị Việt Trung… Xin trích một ít dẫn chứng làm rõ vấn đề: “Nam Cao luôn đi vào sự thực của đời sống. Sự thực có bao nhiêu điều chua chát đau lòng… Ngòi bút của tác giả không khỏi có lúc chua chát, giận hờn, mỉa mai, trào lộng và chi phối đến chiều sâu của cảm hứng sáng tạo”. Hà Văn Đức nhấn mạnh: “Bên cạnh cái đôn hậu của Nguyên Hồng, cái thâm trầm sắc sảo của Ngô Tất Tố, Nam Cao đã góp thêm vào dòng văn học thực hiện phê phán một phong cách mới… lối văn mới, sâu xa, chua chát, và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con  người biết tin ở tài mình, ở thiên chức mình”.

Các tác giả Phan Cự Đệ, Hà Văn Đức, Hà Minh Đức, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Diễm Hương… đều cho rằng văn Nam Cao đầy những trang khái quát triết lý. “Nhà văn miêu tả một việc, một ý nhỏ mà nói đi nói lại vài lần là chuyện bình thường… Thế rồi khảm được vào trong tâm trí người đọc thật nhiều những chi tiết có vẻ vụn vặt về các số phận, cảnh đời rồi ông nhẹ nhàng đưa ra những câu khái quát triết lý”.

Loại ý kiến xung quanh vấn đề nhân đạo trong truyện ngắn Nam Cao khá lý thú. Trong truyện ngắn của mình, Nam Cao không phơi bày rõ tinh thần nhân đạo mà nó vẫn tiềm ẩn, chìm khuất sau những cung bậc, sắc thái tình cảm khá đặc biệt. Vương Trí Nhàn cho rằng “không hề vuốt ve an ủi, nhằm đánh vào tình thương người đọc – Chủ nghĩa nhân đạo hướng vào toàn bộ đời sống tinh thần nơi người đọc ấy, thức tỉnh suy nghĩ rồi để mỗi người tự xác định lấy thái độ, tình cảm của mình”. Còn Phan Cự Đệ, Hà Văn Đức thì cho rằng dường như cái giọng mỉa mai, chua chát chỉ là vẻ tỉnh táo bên ngoài của một tâm hồn đôn hậu, một chủ nghĩa nhân đạo sâu lắng bên trong…

Loại ý kiến xem xét mặt giọng điệu riêng biệt của Nam Cao dựa trên cấu trúc câu văn có tác giả Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Lê Thị Đức Hạnh, Vũ Tuấn Anh… Tất cả ý kiến cho rằng chính vì câu văn gọn, dồn dập, chồng chất các hiện tượng đã thể hiện “cảm giác ghê tởm, khủng khiếp trước hiện thực quá tồi tệ, quá mức chịu đựng của con người”. Chúng chẳng những làm cho cái hiện thực buồn thảm hiện lên mồn một, đầy ứa, mà còn vang mãi lên, đau đớn ở trong lòng. Dường như không phải Nam Cao viết mà ông đang “sống” cùng mỗi câu chuyện được viết ra. “Câu văn Nam Cao chỉ là thứ câu văn “bị xé rách” về ngữ điệu, chúng nhắm nhẳng, đứt rối, cắn rứt, chì chiết, nghẹn ngào đầy kịch tính”.

Bên cạnh cấu trúc câu văn có liên quan giọng điệu là tên gọi nhân vật. Nam Cao là nhà văn mà những đại từ có tính chất miệt thị được dùng cho nhân vật có tầng số cao nhất. Các tác giả Huỳnh Lý, Nguyễn Hoành Khung, Trương Thị Nhàn… đều cho rằng: “Đừng lầm khi nhà văn có vẻ đồng tình với những “cụ Bá” “bà Phó”… và dửng dưng khi nói đến những con người nghèo khổ thường bị gọi là “hắn”, là “y”, là “thị”, là “mụ”… Chính giọng văn bình thản lạnh lùng khi cảm xúc nén lại đó khiến cho sự phẩn uất, xót thương càng tăng lên trong lòng người đọc”.

Trương Thị Nhàn đi sâu vào tên gọi “hắn”: chung quy những cái mất – cái được, những cái giận – đáng thương vào trong một tên gọi “hắn”, Nam Cao đã bộc lộ một cái nhìn hiện thực hết sức khách quan và nhân đạo. Nhưng đồng thời vẫn có một cái gì đó rất riêng trong thái độ của tác giả, như là lạnh lùng, xa cách, tách biệt hẳn cái phần “tôi” của tác giả trong cách gọi những nhân vật là “hắn”.

Nhìn chung, các ý kiến phần lớn đều gặp nhau một điểm là tính chất đa giọng của Nam Cao. Tác giả Phan Diễm Phương trong bài viết “Ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao” nhận xét: “Văn Nam Cao giàu chất biểu lộ và biểu cảm. Điều này được tác giả lý giải qua nhiều mặt, với tư cách vừa kể chuyện vừa kể tâm trạng, truyện ngắn Nam Cao có thể ôm vào mình những cặp đối nghịch: sắc lạnh và tình cảm; tỉnh táo, nghiêm ngặt và chan chứa trữ tình. Những sự việc bé nhỏ, người thừa, hầu như suốt đời bị gắn chặt vào những bi kịch nhân sinh nho nhỏ, tụ vào trang sách của Nam Cao và ông rủ rỉ kể về nó một cách kỹ càng không biết nản. Lối kể chuyện của Nam Cao là lối kể nhiều giọng: nghiêm nghị và hài hước, trân trọng nâng niu và nhạo báng đay mỉa”. Cùng với loại ý kiến này có Phan Cự Đệ, Nguyễn Tri Niên, Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thị Dư Khánh… Đặc biệt là tác giả Phong Lê trong bài tổng kết “Nam Cao, năm 1991” đã khái quát đầy đủ: “Văn Nam Cao hầu như có đầy đủ chất liệu: hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lí và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ, thô thám và chất thơ… Mỗi khía cạnh có thể tách riêng ra mà bàn, và hứa hẹn không ít những điều thú vị”.

Chính ở sự đan xen nhiều chất giọng như vậy đã tạo ra thế giằng co và đối lập trong giọng điệu. Các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Thị Việt Trung… đều phát hiện ra thế “cheo leo” về tư tưởng của tác giả. Nam Cao tự thách thức mình “trên này là chủ nghĩa nhân đạo, dưới kia là thái độ nhục mạ con người, trên này là chủ nghĩa hiện thực vinh quang, dưới kia là chủ nghĩa tự nhiên đồi bại”. Ngoài ra còn một số tác giả khi đi vào khai thác mặt giọng điệu trong truyện ngắn Nam Cao có đôi chỗ đối chiếu, so sánh với tác giả khác, trào lưu văn học khác như Lại Nguyên Ân, Đào Tuấn Ảnh, Vũ Tuấn Anh, Trần Đình Sử…

Gần đây hơn, ngày 25-03-2013, trên Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, tác giả Pham Thi Luong (tên không dấu) đã vận dụng lý thuyết điểm nhìn trong tự sự học để nghiên cứu truyện ngắn của Nam Cao trước năm 1945. Người viết đã chỉ ra bốn kiểu điểm nhìn chính của chủ thể trần thuật, đó là: điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn phức hợp và điểm nhìn đơn tuyến. Sự đa dạng, linh hoạt các điểm nhìn trần thuật ấy đã tạo ra sự đa thanh, đa giọng điệu, sắc thái thẩm mỹ và giá trị nghệ thuật cho truyện ngắn của Nam Cao.

Trên Tạp chí VHNT, số 401, tháng 11-2017, tác giả Nguyễn Văn Tùng cũng đã nêu quan điểm: “Muốn có những nhận thức sâu sắc hơn, điều tất yếu là không thể bỏ qua những đặc điểm thi pháp thể loại của mỗi một nhà văn để tiếp nhận tác phẩm của họ. Bởi thế, qua bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn nữa đến việc cần dành một sự quan tâm thỏa đáng hơn nữa tới việc tìm hiểu nghiên cứu những đặc điểm thi pháp thể loại của mỗi nhà văn”. Về văn xuôi Nam Cao, tác giả Nguyễn Văn Tùng nhận xét khái quát thi pháp về phương diện như giọng điệu lời văn trần thuật; cách cấu tứ độc đáo; đóng góp vào sự trưởng thành của thể loại truyện ngắn ở năng lực phân tích tâm lý nhân vật tinh tế, tài tình; cách khai thác hiện thực xã hội; và tạo dựng một hệ thống các chủ đề tư tưởng mang nhiều ý nghĩa khái quát lớn... của Nam Cao.

Hiện nay, theo Chương trình GDPT mới - 2018, học sinh THPT được tiếp cận truyện ngắn Nam Cao ở phương diện thể loại. Đó cũng là một cách tìm hiểu theo thi pháp học hiện đại.

Chính những nghiên cứu, đánh giá trên, có thể coi Nam Cao đại diện tiêu biểu xuất sắc cho trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945. Và là nhà văn hiện đại với biệt tài biết “đào sâu”, biết “khơi những nguồn” sâu thẳm nhất ở mỗi con người, ở cuộc sống. Vì vậy, thế giới truyện ngắn của Nam Cao luôn là mảnh đất phì nhiêu cho bao thế hệ độc giả, cho các nhà nghiên cứu yêu mến tìm hiểu, khám phá.

(Viết năm 1997, bổ sung ý tháng 8-2025)

T.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm