TIN TỨC

Ngược dòng Lam anh tìm lại chính mình

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2023-07-17 09:40:38
mail facebook google pos stwis
2426 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Tìm em ngược dòng sông nhớ” thơ của tác giả Nguyên Hùng, đăng Tuần báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam số 24 (3303) ra ngày 17/6/2023 và báo Giáo dục & Thời đại số Tết Kỷ Hợi, là bài thơ mang dư âm buồn.


Góc nhìn của văn chương

Tựa đề bài thơ đã là câu thơ có âm hưởng, đậm chất thơ và kích thích dòng suy tưởng.

Trong tự nhiên, chỉ có dòng sông xuôi về biển theo chiều thời gian thực trên trái đất này. Người con trai đi chính trên dòng sông theo chiều ngược của thời gian nên sự kiện được cô đậm lại trong trí nhớ của mình.

“Anh tìm em ngược dòng sông nhớ” mục đích “Tìm lại chốn xưa” nơi gắn với mối tình đầu vốn trong trắng thơ ngây; trong miền sinh thái sông nước miền Trung: nơi có “cánh buồm nâu”. Người yêu lúc đó còn nhỏ, ra đứng bến sông “chờ thuyền cha trên bến”. Chính “dáng em” trong đợi chờ đó làm nên xuyến xao, khiến chàng trai không chút đắn đo lựa chọn đã “gửi nụ hôn đầu”.

Con thuyền có cánh buồm nâu thời ấy nhuộm “hương biển”“vị mặn” hòa trong âm thanh “tiếng sóng” phải là con thuyền đi biển; có thể gặp bão dông và vĩnh viễn không về. Nỗi lo cho cha trên các chuyến khơi xa vẫn không át nổi mối tình đầu với trai nghèo chấp nhận lễ cầu hôn bằng “nhẫn cỏ” thứ có sẳn trong tự nhiên nhưng lại hiếm nơi những cồn cát nối nhau về với biển được “ủ xanh” và xanh mãi trong trí nhớ của chàng.

4 câu thơ khổ 3, tái hiện làng chài ấm cúng, người vợ tảo tần trong buổi chợ chiều bán cá do chồng đánh bắt được. “Em gánh ước mơ theo mẹ chuyến chợ chiều”. Ước mơ của một cô gái nghèo giản dị lắm: một mái ấm gia đình với người mình yêu để chung lưng đấu cật, hằng ngày được “Khơi bếp lửa hồng sưởi mái tranh nghèo” để rồi theo vòng tròn tự nhiên, em lại được làm mẹ, hát lại câu dân ca em thuộc từ “lời ru của mẹ” thường hát ru em.

Có vẻ như lúc đó không có điện thoại di động, đường thư… chiến tranh loạn lạc: “Mấy mươi năm cuộc đời bao dâu bể”; làm mỗi người “trôi dạt” đến những “mấy góc trời” và họ bị tách rời với nhau, với miền quê của họ. Chàng trai vẫn thương nhớ cô bé như tình quê vẫn đầy con nước. Để đến hôm nay chàng trai lúc này đã không còn trai trẻ nữa “Ngược dòng Lam anh tìm lại” chính mình.

Đến đây, dữ liệu đã đủ đầy để khẳng định con sông nhớ chính là sông Lam; bắt nguồn từ vùng Nậm Căn nước Lào. Đoạn sông chính chảy qua Nghệ An, đoạn cuối hợp lưu với sông La trên đất Hà Tĩnh; tạo thành biên giới hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh và đổ ra biển Đông qua Cửa Hội.

Khổ thơ cuối cho thấy tác giả đang ở phương trời Tây, nơi “Gió lạnh lùa và tuyết trắng cứ rơi”. Tác giả “Gặp dáng em ngồi hát phía chân trời”, là chân trời biểu tượng: chân trời quê hương tác giả nằm ở phía đông. Ở đó, tác giả hy vọng, tin tưởng người yêu mình được hạnh phúc như thuở “Má em hồng trở về thời thiếu nữ”. Một loại hạnh phúc cao cả lấy hạnh phúc của người mình yêu làm hạnh phúc của riêng mình; bởi vì hạnh phúc sẽ dễ dàng đạt được hơn vì người yêu đang ở quê hương nơi bến đợi...

Vậy là chúng ta đang đi theo nhà thơ Nguyên Hùng về lại quá khứ cửa biển có tên Cửa Hội. Chúng ta được tác giả đưa đi cùng lúc theo 3 dòng sông:

Dòng sông thời gian chảy xuôi từ lúc chàng trai lần đầu nhìn thấy dáng em gái chờ cha, nó là bức tranh buồn, cô đơn của một cô gái tuổi xuân thì trông ngóng một cánh buồm chỉ cô phân biệt được khi nó bắt đầu nhô lên mặt biển, ở trên đó có cha mình. Nó cũng là tín hiệu trong tiềm thức về sự tan vỡ và chờ mong như bao người con gái trước cảnh dâu bể; đẩy họ vào cảnh chia xa đến mức vô vọng.

Dòng sông thứ hai là dòng sông tình yêu, từ nụ hôn đầu cho đến ngày biệt ly và chờ đợi đến thì hiện tại vẫn không có ngày gặp mặt, không hiểu những gì đã xảy ra cho nhau, nhưng vẫn son sắt niềm tin như con nước ngày một lần lên xuống.

Bài thơ có nhịp điệu buồn, nhiều hình ảnh đẹp như cánh buồm nâu, như dáng đứng chờ cha, chiếc nhẫn bằng cỏ xanh, gánh chợ chiều, bếp lửa dưới mái tranh... Nó tạo ra dòng sông thứ ba đứng yên: là miền sinh thái ven cửa biển của những con người hiền hòa, tảo tần và sống trong khung cảnh nghèo ấm cúng, luôn giữ được truyền thống qua cách truyền nghề bằng gánh cá đi chợ cho con gái đi theo, là cách giữ gìn bản sắc văn hóa bằng lời ru của mẹ và khát vọng muôn đời cùng nhau lao động dựng xây cuộc sống nghèo chứa chan tình người...

Góc nhìn của tự nhiên

Cũng có vài đoạn sông chảy ngược, nhưng mặc định trong suy nghĩ con người, chiều dòng nước luôn xuôi về biển như sự tự nhiên và luôn sẵn có. Suy nghĩ của người luống tuổi thường hướng về việc đã qua cũng là tự nhiên. Đa số người già không thể tìm tình yêu trong trắng thơ ngây trong hiện tại. Họ không bó tay mà đi tìm lại tình yêu cũ qua năm tháng, bằng cách ngược dòng thời gian về quá khứ rồi vẫn quay trở lại theo con nước về hướng biển như một lẽ tự nhiên, để cảnh tỉnh lại mình; cũng đều thuận theo tự nhiên. Những thứ kể trên khi hoà quyện vào những câu thơ tinh tế và sâu lắng khiến người đọc người nghe đều cảm được tình yêu sâu lắng mênh mang cũng là sự lan tỏa tự nhiên theo dòng sông tâm hồn có thời gian trầm buồn nhiều hơn thời gian lũ...

Chúng ta thường nghe gió lào rát bỏng, bão tố ở miền trung. Bài thơ này chỉ ra quy luật: khi con người sống thân thiện với thiên nhiên, thiên nhiên sẽ bớt đi phần khắc nghiệt.

Dư âm

Bài thơ là cuốn phim quay chậm, nối tiếp nhau bằng những phân cảnh hiền hòa, trong nền những nốt nhạc trầm buồn của dư âm quá khứ buồn vang vọng…  khiến tôi xót xa. Nếu thời gian quay trở lại, nếu tôi là tác giả, tôi sẽ lấy người yêu đầu tiên dù cam chịu khó khăn, vất vả. Và nếu được chọn, tôi chọn miền sinh thái hiền hòa thuở xưa, nơi con người sống thân thiện với nhau, thân thiện với thiên nhiên với tình yêu thủy chung, son sắt…

Nó như là những nốt nhạc buồn tôi lỡ đánh rơi vào bài thơ. Do đó, độc giả bớt chút thời gian đọc toàn bộ bài thơ để có thêm góc nhìn riêng của bạn và do đó, sẽ hay hơn bài viết này.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm