TIN TỨC

Người chiến sĩ Điện Biên Nguyễn Thiện Thuật - Mùa hoa ban đẹp mãi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-04-25 12:09:37
mail facebook google pos stwis
1930 lượt xem

Phùng Văn Khai

Đối với mỗi người Việt Nam chúng ta hôm nay, cái tên Điện Biên Phủ đã như một dấu mốc luôn hiện lên sừng sững mỗi khi nhắc đến. Ai cũng rưng rưng xúc động bởi máu xương của cha anh, của nhân dân đã đổ xuống để làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là không thể đo đếm hết được.

Nhà văn Nguyễn Thiện Thuật

Nhà thơ Chính Hữu, trong bài thơ Giá từng thước đất đã viết:

Năm mươi sáu ngày đêm mưa dầm pháo giội

Ta mới hiểu thế nào là đồng đội

Đồng đội ta là hớp nước uống chung

Nắm cơm bẻ nửa

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

Chia khắp anh em một mẩu tin nhà

Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.

 

... Khi bạn ta

Lấy thân mình

Đo bước

Chiến hào đi

Ta mới hiểu

Giá từng thước đất...

Từng câu thơ đã trên nửa thế kỷ vẫn luôn găm sâu vào trí óc chúng ta mỗi khi nhắc tới Điện Biên Phủ. Ở đó, tinh thần và ý chí chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, tuyệt không quản ngại hy sinh, ai cũng sẵn sàng lấy thân mình đo bước chiến hào đi chính là vẻ đẹp của đoàn quân chính nghĩa đã đem tất cả sức lực và trí tuệ, máu thịt và niềm tin để làm nên chiến thắng lịch sử. Âm hưởng của Điện Biên Phủ tới hôm nay vẫn không một chút suy suyển mà càng được nâng cao trong vị thế mới của dân tộc Việt Nam.

Thật thú vị khi được tiếp xúc với tiểu thuyết Mùa hoa ban đẹp mãi của tác giả Nguyễn Thiện Thuật. Ông đã trở về với thế giới của người hiền, nhưng văn chương của ông, các tác phẩm của ông, trong đó có Mùa hoa ban đẹp mãi vẫn ở lại, từng trang sách vẫn sống trong lòng bạn đọc. Đó chính là vẻ đẹp của văn chương!

Mùa hoa ban đẹp mãi là tiểu thuyết viết trực tiếp về cuộc chiến đấu ở Điện Biên, về Chiến dịch Điện Biên Phủ, về Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi ngủ hầm mưa dầm cơm vắt/ Máu trộn bùn non/ Gan không núng/ Chí không mòn/ Những đồng chí thân chôn làm giá súng/ Đầu bịt lỗ châu mai/ Băng mình qua núi thép gai/ Ào ào vũ bão/ Những đồng chí chèn lưng cứu pháo/ Nát thân nhắm mắt còn ôm... (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên - Tố Hữu) chính là khoảnh khắc đặc biệt nhất của công cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta, nhân dân ta.

Đặt trong bối cảnh ấy, Mùa hoa ban đẹp mãi lấy cảm hứng từ cuộc chiến đấu rộng lớn của nhân dân ta, những người dân vừa mới giành quyền độc lập, tự do đã đứng trước sự phản bội của thực dân, đế quốc, thì chúng ta chỉ có thể dùng súng đạn để nói chuyện và đập tan kẻ bạo quyền như lời Bác Hồ kêu gọi trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Lời kêu gọi cũng là lời hịch non sông ấy đã ngấm sâu vào trong trái tim và trí óc của mỗi người chiến sĩ Điện Biên.

Ông Nguyễn Quân - con trai Nhà văn Nguyễn Thiện Thuật làm việc với NXB về sách Mùa Hoa Ban đẹp mãi 

Mùa hoa ban đẹp mãi luôn tuân thủ lối viết hiện thực. Những câu văn giản dị, chân thành đã tạo dựng môi trường thẩm mỹ của tiểu thuyết, vừa nhất quán vừa đưa ra những thông điệp nhân văn từ cuộc sống chiến đấu vô cùng quả cảm của bộ đội ta ở Điện Biên Phủ. Các trường đoạn trong Mùa hoa ban đẹp mãi được liên kết với nhau chặt chẽ theo diễn biến gay cấn, quyết liệt, căng thẳng của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Không khí có lúc như đông đặc lại trong các trận đánh quyết liệt, giành giật từng tấc chiến hào. Nổi bật nhất là tinh thần chiến đấu ngoan cường và sự lạc quan, tinh thần đoàn kết, sẵn sàng hy sinh vì đồng đội, vì Tổ quốc. Các chiến sĩ Điện Biên - Chiến sĩ anh hùng/ Đầu nung lửa sắt đã lấy máu xương mình tạc nên tượng đài lịch sử hiện ra bằng xương bằng thịt trong tiểu thuyết của Nguyễn Thiện Thuật. Họ thậm chí rất lạc quan, tếu táo trước bom đạn mịt mùng và cái chết luôn kề cận. Không khí trong tiểu thuyết chính là không khí của chiến trận với những câu thoại rất tự nhiên:

“Sau khi phổ biến nhiệm vụ cho anh em, Kỳ len lỏi tới từng người. Ngồi cạnh Tuấn, Kỳ hỏi:

- Có cậu nào đau bụng, đau bão gì không? Ăn uống phải cẩn thận nhé!

Tuấn đáp:

- Dạ. Chúng em còn ‘tốt bụng’ lắm anh ạ.

Kỳ mỉm cười:

- Ừ, được. Phải giữ sức khỏe cho tốt. À này Tuấn! Chuẩn bị làm bài thơ cho báo tường nhé!

- Dạ. Em chỉ biết ngâm mấy bài thơ cũ thôi ạ. Làm thơ thì khó lắm...

- Làm ca dao có được không?

- Dạ, em sẽ làm ca dao...”

Cuộc sống đời thường của người lính Điện Biên trước những giờ nổ súng là như thế đấy.

Mùa hoa ban đẹp mãi sau dấu mốc chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954) đã mở ra những trang mới thì không khí trong tiểu thuyết cũng chuyển động mới mẻ nhưng thống nhất giọng văn hiện thực của nó. Những trang nhật ký mà Tuấn viết cho Dung, cho Lan như tiếng reo mừng của trẻ thơ trước chiến thắng lịch sử chính là một dụng công của tác giả đã thi vị hóa đời sống người chiến sĩ sau chiến thắng với những niềm vui bất tận, sự bay bổng, sự lãng mạn đầy chất thơ cũng là những dòng hay nhất trong Mùa hoa ban đẹp mãi. 

Nhà văn Nguyễn Thiện Thuật sinh ngày 12/9/1926, là con thứ sáu trong một gia đình nông dân ở thôn Thọ Bi, xã Tân Hòa, huyện Thư Trì (nay là huyện Vũ Thư), tỉnh Thái Bình. Là con trai út nên được cha mẹ ưu ái cho đi học ở thị xã Thái Bình. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông tham gia cách mạng và trở thành Thanh niên cứu quốc. Ông được cấp trên cử làm cán bộ tuyên truyền vì có khả năng viết lách và có chút vốn tiếng Pháp, 19 tuổi đã thoát ly gia đình lên Hà Nội làm cán bộ của Sở Thông tin Hà Nội, giúp việc cho nhà báo Hồng Lĩnh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ông cùng cơ quan sơ tán lên chiến khu hoạt động trong lĩnh vực tuyên truyền suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông cùng đơn vị bộ đội về tiếp quản thị trấn Phát Diệm (Ninh Bình), làm công tác vận động bà con công giáo không di cư vào Nam, sau đó chuyển ngành sang Công ty lương thực tỉnh Ninh Bình.

Nhà văn Nguyễn Thiện Thuật từng viết nhiều truyện ngắn và bút ký đã được in chung với các tác giả khác là bạn bè thân thiết cùng thời của ông như Hà Ân, Nguyễn Đức Mưu… trong tập ký “Hạt gạo nghĩa tình” của Nhà xuất bản Hà Nội 1979. Ông có tập truyện ký được in riêng “Sắn về nhà máy” viết khi đi thực tế ở Vĩnh Phú những năm 1969-1970.

Tài sản lớn nhất mà Nhà văn Nguyễn Thiện Thuật để lại còn lưu giữ được chính là hơn 20 cuốn tiểu thuyết mà ông đã miệt mài viết sau khi nghỉ hưu. Xuất phát từ nguồn tư liệu của cuộc đời qua hai cuộc kháng chiến và tư liệu của các vụ án lớn trong thời bình sau 1975, ông đã cho ra đời nhiều tiểu thuyết hình sự và tiểu thuyết lịch sử, trong đó có tiểu thuyết “Đường đi ra biển” được xuất bản năm 1997 nói về những ngày tháng hào hùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, và đặc biệt là cuốn tiểu thuyết “Mùa hoa ban đẹp mãi” được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành lần đầu năm 1994, được tái bản lần thứ nhất năm 2004 - năm ông đi xa - và tái bản lần thứ hai này nhân kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Mùa hoa ban đẹp mãi đã tái hiện bối cảnh lịch sử những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và những ngày hòa bình đầu tiên sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, sự hy sinh lớn lao của chiến sỹ và nhân dân, sự kiên trinh và thủy chung của họ khi trở về với cuộc sống hòa bình, đối mặt với bao cám dỗ và khó khăn, lại phải chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới ở phương Nam. Hình ảnh của những anh bộ đội Điện Biên như tiểu đoàn trưởng Mai Cương, tiểu đội trưởng Kỳ, các chiến sỹ Tuấn, Minh…đọng lại trong tâm trí người đọc như biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tấm gương chiến đấu hy sinh cao cả vì Tổ quốc và tình yêu vô bờ bến đối với gia đình, người thân và nhân dân.

Càng về những trang viết cuối, Mùa hoa ban đẹp mãi càng nhất quán và sẵn sàng trực diện với cả biểu hiện tha hóa đã bắt đầu phát sinh từ lòng tham, sự dao động của một số nhân vật như là một tất yếu trong cuộc sống. Song, những điều đó chỉ là những rạn nứt nhỏ, rồi sẽ mau chóng bị xóa đi bởi sự cao thượng và tấm lòng bao dung của con người bởi công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam vẫn còn đang ở phía trước.

Khi trang viết cuối cùng của Mùa hoa ban đẹp mãi khép lại cũng là lúc mở ra một trang mới của người chiến sĩ dưới tán phong lan rừng Trường Sơn hùng vĩ đang chung một trái tim, chung một con đường giải phóng miền Nam.

 

P.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm