TIN TỨC

Người chiến sĩ Điện Biên Nguyễn Thiện Thuật - Mùa hoa ban đẹp mãi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-04-25 12:09:37
mail facebook google pos stwis
1707 lượt xem

Phùng Văn Khai

Đối với mỗi người Việt Nam chúng ta hôm nay, cái tên Điện Biên Phủ đã như một dấu mốc luôn hiện lên sừng sững mỗi khi nhắc đến. Ai cũng rưng rưng xúc động bởi máu xương của cha anh, của nhân dân đã đổ xuống để làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là không thể đo đếm hết được.

Nhà văn Nguyễn Thiện Thuật

Nhà thơ Chính Hữu, trong bài thơ Giá từng thước đất đã viết:

Năm mươi sáu ngày đêm mưa dầm pháo giội

Ta mới hiểu thế nào là đồng đội

Đồng đội ta là hớp nước uống chung

Nắm cơm bẻ nửa

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

Chia khắp anh em một mẩu tin nhà

Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.

 

... Khi bạn ta

Lấy thân mình

Đo bước

Chiến hào đi

Ta mới hiểu

Giá từng thước đất...

Từng câu thơ đã trên nửa thế kỷ vẫn luôn găm sâu vào trí óc chúng ta mỗi khi nhắc tới Điện Biên Phủ. Ở đó, tinh thần và ý chí chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, tuyệt không quản ngại hy sinh, ai cũng sẵn sàng lấy thân mình đo bước chiến hào đi chính là vẻ đẹp của đoàn quân chính nghĩa đã đem tất cả sức lực và trí tuệ, máu thịt và niềm tin để làm nên chiến thắng lịch sử. Âm hưởng của Điện Biên Phủ tới hôm nay vẫn không một chút suy suyển mà càng được nâng cao trong vị thế mới của dân tộc Việt Nam.

Thật thú vị khi được tiếp xúc với tiểu thuyết Mùa hoa ban đẹp mãi của tác giả Nguyễn Thiện Thuật. Ông đã trở về với thế giới của người hiền, nhưng văn chương của ông, các tác phẩm của ông, trong đó có Mùa hoa ban đẹp mãi vẫn ở lại, từng trang sách vẫn sống trong lòng bạn đọc. Đó chính là vẻ đẹp của văn chương!

Mùa hoa ban đẹp mãi là tiểu thuyết viết trực tiếp về cuộc chiến đấu ở Điện Biên, về Chiến dịch Điện Biên Phủ, về Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi ngủ hầm mưa dầm cơm vắt/ Máu trộn bùn non/ Gan không núng/ Chí không mòn/ Những đồng chí thân chôn làm giá súng/ Đầu bịt lỗ châu mai/ Băng mình qua núi thép gai/ Ào ào vũ bão/ Những đồng chí chèn lưng cứu pháo/ Nát thân nhắm mắt còn ôm... (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên - Tố Hữu) chính là khoảnh khắc đặc biệt nhất của công cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta, nhân dân ta.

Đặt trong bối cảnh ấy, Mùa hoa ban đẹp mãi lấy cảm hứng từ cuộc chiến đấu rộng lớn của nhân dân ta, những người dân vừa mới giành quyền độc lập, tự do đã đứng trước sự phản bội của thực dân, đế quốc, thì chúng ta chỉ có thể dùng súng đạn để nói chuyện và đập tan kẻ bạo quyền như lời Bác Hồ kêu gọi trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Lời kêu gọi cũng là lời hịch non sông ấy đã ngấm sâu vào trong trái tim và trí óc của mỗi người chiến sĩ Điện Biên.

Ông Nguyễn Quân - con trai Nhà văn Nguyễn Thiện Thuật làm việc với NXB về sách Mùa Hoa Ban đẹp mãi 

Mùa hoa ban đẹp mãi luôn tuân thủ lối viết hiện thực. Những câu văn giản dị, chân thành đã tạo dựng môi trường thẩm mỹ của tiểu thuyết, vừa nhất quán vừa đưa ra những thông điệp nhân văn từ cuộc sống chiến đấu vô cùng quả cảm của bộ đội ta ở Điện Biên Phủ. Các trường đoạn trong Mùa hoa ban đẹp mãi được liên kết với nhau chặt chẽ theo diễn biến gay cấn, quyết liệt, căng thẳng của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Không khí có lúc như đông đặc lại trong các trận đánh quyết liệt, giành giật từng tấc chiến hào. Nổi bật nhất là tinh thần chiến đấu ngoan cường và sự lạc quan, tinh thần đoàn kết, sẵn sàng hy sinh vì đồng đội, vì Tổ quốc. Các chiến sĩ Điện Biên - Chiến sĩ anh hùng/ Đầu nung lửa sắt đã lấy máu xương mình tạc nên tượng đài lịch sử hiện ra bằng xương bằng thịt trong tiểu thuyết của Nguyễn Thiện Thuật. Họ thậm chí rất lạc quan, tếu táo trước bom đạn mịt mùng và cái chết luôn kề cận. Không khí trong tiểu thuyết chính là không khí của chiến trận với những câu thoại rất tự nhiên:

“Sau khi phổ biến nhiệm vụ cho anh em, Kỳ len lỏi tới từng người. Ngồi cạnh Tuấn, Kỳ hỏi:

- Có cậu nào đau bụng, đau bão gì không? Ăn uống phải cẩn thận nhé!

Tuấn đáp:

- Dạ. Chúng em còn ‘tốt bụng’ lắm anh ạ.

Kỳ mỉm cười:

- Ừ, được. Phải giữ sức khỏe cho tốt. À này Tuấn! Chuẩn bị làm bài thơ cho báo tường nhé!

- Dạ. Em chỉ biết ngâm mấy bài thơ cũ thôi ạ. Làm thơ thì khó lắm...

- Làm ca dao có được không?

- Dạ, em sẽ làm ca dao...”

Cuộc sống đời thường của người lính Điện Biên trước những giờ nổ súng là như thế đấy.

Mùa hoa ban đẹp mãi sau dấu mốc chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954) đã mở ra những trang mới thì không khí trong tiểu thuyết cũng chuyển động mới mẻ nhưng thống nhất giọng văn hiện thực của nó. Những trang nhật ký mà Tuấn viết cho Dung, cho Lan như tiếng reo mừng của trẻ thơ trước chiến thắng lịch sử chính là một dụng công của tác giả đã thi vị hóa đời sống người chiến sĩ sau chiến thắng với những niềm vui bất tận, sự bay bổng, sự lãng mạn đầy chất thơ cũng là những dòng hay nhất trong Mùa hoa ban đẹp mãi. 

Nhà văn Nguyễn Thiện Thuật sinh ngày 12/9/1926, là con thứ sáu trong một gia đình nông dân ở thôn Thọ Bi, xã Tân Hòa, huyện Thư Trì (nay là huyện Vũ Thư), tỉnh Thái Bình. Là con trai út nên được cha mẹ ưu ái cho đi học ở thị xã Thái Bình. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông tham gia cách mạng và trở thành Thanh niên cứu quốc. Ông được cấp trên cử làm cán bộ tuyên truyền vì có khả năng viết lách và có chút vốn tiếng Pháp, 19 tuổi đã thoát ly gia đình lên Hà Nội làm cán bộ của Sở Thông tin Hà Nội, giúp việc cho nhà báo Hồng Lĩnh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ông cùng cơ quan sơ tán lên chiến khu hoạt động trong lĩnh vực tuyên truyền suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông cùng đơn vị bộ đội về tiếp quản thị trấn Phát Diệm (Ninh Bình), làm công tác vận động bà con công giáo không di cư vào Nam, sau đó chuyển ngành sang Công ty lương thực tỉnh Ninh Bình.

Nhà văn Nguyễn Thiện Thuật từng viết nhiều truyện ngắn và bút ký đã được in chung với các tác giả khác là bạn bè thân thiết cùng thời của ông như Hà Ân, Nguyễn Đức Mưu… trong tập ký “Hạt gạo nghĩa tình” của Nhà xuất bản Hà Nội 1979. Ông có tập truyện ký được in riêng “Sắn về nhà máy” viết khi đi thực tế ở Vĩnh Phú những năm 1969-1970.

Tài sản lớn nhất mà Nhà văn Nguyễn Thiện Thuật để lại còn lưu giữ được chính là hơn 20 cuốn tiểu thuyết mà ông đã miệt mài viết sau khi nghỉ hưu. Xuất phát từ nguồn tư liệu của cuộc đời qua hai cuộc kháng chiến và tư liệu của các vụ án lớn trong thời bình sau 1975, ông đã cho ra đời nhiều tiểu thuyết hình sự và tiểu thuyết lịch sử, trong đó có tiểu thuyết “Đường đi ra biển” được xuất bản năm 1997 nói về những ngày tháng hào hùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, và đặc biệt là cuốn tiểu thuyết “Mùa hoa ban đẹp mãi” được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành lần đầu năm 1994, được tái bản lần thứ nhất năm 2004 - năm ông đi xa - và tái bản lần thứ hai này nhân kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Mùa hoa ban đẹp mãi đã tái hiện bối cảnh lịch sử những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và những ngày hòa bình đầu tiên sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, sự hy sinh lớn lao của chiến sỹ và nhân dân, sự kiên trinh và thủy chung của họ khi trở về với cuộc sống hòa bình, đối mặt với bao cám dỗ và khó khăn, lại phải chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới ở phương Nam. Hình ảnh của những anh bộ đội Điện Biên như tiểu đoàn trưởng Mai Cương, tiểu đội trưởng Kỳ, các chiến sỹ Tuấn, Minh…đọng lại trong tâm trí người đọc như biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tấm gương chiến đấu hy sinh cao cả vì Tổ quốc và tình yêu vô bờ bến đối với gia đình, người thân và nhân dân.

Càng về những trang viết cuối, Mùa hoa ban đẹp mãi càng nhất quán và sẵn sàng trực diện với cả biểu hiện tha hóa đã bắt đầu phát sinh từ lòng tham, sự dao động của một số nhân vật như là một tất yếu trong cuộc sống. Song, những điều đó chỉ là những rạn nứt nhỏ, rồi sẽ mau chóng bị xóa đi bởi sự cao thượng và tấm lòng bao dung của con người bởi công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam vẫn còn đang ở phía trước.

Khi trang viết cuối cùng của Mùa hoa ban đẹp mãi khép lại cũng là lúc mở ra một trang mới của người chiến sĩ dưới tán phong lan rừng Trường Sơn hùng vĩ đang chung một trái tim, chung một con đường giải phóng miền Nam.

 

P.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm