TIN TỨC

Người suốt đời nhập cuộc thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-27 16:54:41
mail facebook google pos stwis
1380 lượt xem

NGÔ XUÂN HỘI

Các nhà thơ nước ta (và có lẽ cả thế giới) nhiều người lơ ngơ trước cuộc đời, trong số đó nhà thơ Quang Chuyền xứng đáng được xếp vào top đầu. Ông có thơ in báo năm 1964 khi đang là giáo sinh trường Trung cấp Sư phạm Việt Bắc. Năm 1965 tốt nghiệp, anh giáo sinh chưa kịp trở thành giáo viên thì nhà thơ Bàn Tài Đoàn - Hội trưởng Hội Văn Nghệ Khu tự trị Việt Bắc đã nằng nặc xin anh về tạp chí Văn nghệ khu công tác. Quang Chuyền ở Hội Văn Nghệ Việt Bắc ba năm, năm 1968 chích máu viết đơn xin đi bộ đội, ở binh chủng Thông tin cho tới ngày nghỉ hưu.


Nhà thơ Quang Chuyền (2023)

Hơn năm mươi năm kể từ ngày ấy trôi qua, hầu như ở đâu, lúc nào ông cũng làm thơ, in thơ, cũng đau đáu trước những vấn đề cuộc sống đặt ra cho thơ. Hai lần (1971, 1985) dự Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Thơ ông xuất hiện đều trên các báo, tạp chí, các tuyển tập thơ của Hội Nhà văn Việt Nam và các báo khác, nhận nhiều giải thưởng, tên tuổi được nhiều người biết. Vậy mà mãi tới năm 2003, sém sáu mươi tuổi đời, bốn mươi tuổi văn chương ông mới được kết nạp vào Hội. Có sự muộn ấy là do ông “bé cái nhầm”, nghĩ mình cứ viết, đến một lúc nào đấy Hội Nhà văn xem được, sẽ mời vào. Vì thế ông rất lấy làm lạ khi thấy quanh mình nhiều người viết sau, thơ thì cũng thường thường bậc trung mà vào Hội cứ như không, trong khi đó mình dù đã nỗ lực hết mức vẫn không sao lọt được vào con mắt xanh của các nhà tuyển trạch ở Hàn lâm viện 65 Nguyễn Du đáng kính.

Chuyện tình cờ xảy ra, mọi thắc mắc của ông phút chốc sáng tỏ. Năm 2002, Văn nghệ Quân đội kỷ niệm 45 năm ra số đầu tiên. Quang Chuyền được mời dự lễ, bởi ông là cộng tác viên thơ thân thiết của Tạp chí. Đón ông ở sảnh, nhà văn Nguyễn Quốc Trung bảo:

“Anh phải vào Hội đi chứ, cứ ở ngoài mãi thế coi sao tiện?”

“Ờ… vào chứ, vào chứ… nhưng Hội đã mời đâu?” – Quang Chuyền rụt rè.

Nguyễn Quốc Trung ngạc nhiên:

“Lại còn thế nữa. Em nói cho anh biết nhé, Hội Nhà văn Việt Nam thành lập năm 1957, đến nay tròn 45 năm. Trong 45 năm ấy, trừ 25 Hội viên sáng lập ở Đại hội lần thứ nhất là các nhà văn, nhà thơ Nông Quốc Chấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Anh Thơ, Mộng Sơn, Cầm Biêu… đến nay mới chỉ có một người là nhà thơ Trần Vàng Sao, tác giả “Bài thơ của một người yêu nước mình” được Hội mời (nhưng không vào), số còn lại ai muốn vào cũng phải đảm bảo tiêu chuẩn đã xuất bản ít nhất hai quyển sách văn học, sau đó viết đơn cam kết hoạt động theo tôn chỉ, quy tắc của Hội gửi Ban Tổ chức Hội viên để Hội xét. Ngay cả ông Tổng Thư ký kính mến của chúng ta hiện nay là Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng vậy. Vì thế, việc vào Hội với anh bây giờ, tác phẩm thì đủ rồi nhưng phải viết đơn. Đơn phải có hai người giới thiệu. Anh viết đơn đi, nếu không để em viết cho”

“Ồ, thế mà tôi cứ tưởng…”

Quang Chuyền chưng hửng.

Trở về, ông viết đơn ngay. Năm sau, 2003 ông được Hội Nhà văn Việt Nam xét, kết nạp. “Vừa tiểu đăng khoa lại đại đăng khoa” (chả là trước đó một tuần, Quang Chuyền được Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh kết nạp vào Hội). Quang Chuyền mừng lắm. Kể tôi nghe chuyện này, hơn mười năm trôi qua nhà thơ vẫn ngạc nhiên không hiểu sao mình lại “ngu lâu” đến thế. Nghe xong tôi cười, băn khoăn nếu không có Nguyễn Quốc Trung tình cờ mách cho, không biết đến bây giờ ông đã vào Hội Nhà văn được chưa?

Với thơ là điều quan thiết hàng ngày mà ông còn lơ ngơ vậy, thì trước muôn nẻo đường đời ông có lơ ngơ cũng là sự thường. Vì thế mới có chuyện thời loạn, tính cuộc vuông tròn bộ đội nhiều người chỉ cần về quê một tuần là đủ hoàn tất quy trình ba công đoạn: Xác định đối tượng - yêu - cưới, mà vẫn sinh con đẻ cái, vẫn chung thủy, đợi chờ nhau cho đến ngày đất nước yên bình. Còn anh lính Trần Quang Chuyền và cô giáo Trần Thị Bích Loan, vợ anh, vờn nhau những tám năm, gần bằng chín năm quân dân ta kháng Pháp, mười năm Lê Lợi đánh quân Minh, một sự lãng phí hết sức về thời gian và cơ hội. Mới có chuyện năm 1988, thiếu tá Trần Quang Chuyền được Bộ Tư lệnh Thông tin bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 596 Viễn thông đóng ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông vào, đang chân ướt chân ráo thì chi bộ cơ sở nơi ông công tác tổ chức đại hội nhiệm kỳ. Nghĩ mình đường đường Phó Chủ nhiệm, lại là người của Bộ Tư lệnh điều vào, cơ cấu cấp ủy là chuyện đương nhiên. Nhưng kết quả bầu cử, ông bị gạt… cũng làm ông ngơ ngác. Mới có chuyện đổi đất lấy cơ sở hạ tầng hết sức lãng phí như ông đã làm (mà tôi không tiện kể). 

Ấy thế mà từ nhỏ, ông đã phải vật lộn kiếm sống. Có cái gì mâu thuẫn ở đây, vì những người vào đời sớm thường rất từng trải. Quang Chuyền có từng trải không? Tôi không biết. Nhưng tôi biết ông sinh trong một gia đình nghèo ở vùng đồng trũng tỉnh Vĩnh Phúc, nơi hợp lưu của hai con sông Lô và sông Phó Đáy. Cha ông mất năm 1954, khi mới 36 tuổi. Mẹ ông 32 tuổi, ở vậy nuôi con. Một nách nuôi năm con dại với vài sào ruộng khoán, sự khó khăn không thể nói hết. Mười tuổi, Quang Chuyền vào lớp một, vừa học vừa giúp mẹ làm đồng; đến lớp sáu, một hôm mẹ bảo cậu trưởng:

“Con đã lớn, học thế thôi, ở nhà giúp mẹ cho các em đi học!”

Câu nói ấy, cách đấy không lâu Chuyền đã nghe mẹ nói với chị Hạc, con gái nuôi của bố mẹ anh. Buồn, chị trốn mẹ đi làm công nhân đường sắt trên Yên Bái. Bây giờ đến lượt Quang Chuyền. Không, anh sẽ không trốn nhà ra đi như chị mình, nhưng cũng không thể giữa đường đứt gánh. Một ý nghĩ mới mẻ, táo bạo hình thành trong anh. Anh thưa với mẹ:

“Mẹ cho con lên Tuyên Quang, con sẽ tự kiếm sống, đi học.”

Ấy là anh nghĩ tới ông bà ngoại ở thị xã Tuyên Quang. Dịp nghỉ hè năm ngoái anh được mẹ cho lên Tuyên thăm ông bà, vì thế mà bây giờ Tuyên Quang bỗng trở thành miền đất hứa. Thấy mẹ có vẻ chần chừ, anh dấn thêm:

“Con đi, nhà bớt một miệng ăn, mẹ có thể cho ba em tới trường…”

Cuối cùng mẹ đồng ý. Thế là “Người ra đi đầu luôn ngoảnh lại”(*), hết lớp sáu Quang Chuyền rời nhà, sống tự lập.

Ngày ấy ở thị xã Tuyên Quang, nhà cửa hầu hết được làm bằng tre, nứa. Anh xin với ông bác họ, một chủ thầu xây dựng cho làm thợ phụ, tranh thủ ba tháng hè kiếm ít tiền. Bác đồng ý. Công việc hàng ngày của thợ phụ là vận chuyển tre nứa, đưa rui mè, đòn tay cho thợ chính lợp nhà. Lương thợ chính đồng hai năm xu một ngày công, thợ phụ bằng ½ thợ chính. Dù vậy, với một đứa trẻ choai lần đầu xa nhà, cũng quá tốt. Anh chia tiền nhận được ra làm nhiều khoản: ăn uống, mua quần áo, sách vở cho niên học tới. Ít ngày sau quen việc, thợ phụ Chuyền đã có thể leo lên mái nhà lợp lá cọ, tấm gianh như thợ chính.

Hết hè Quang Chuyền vào học lớp 7E trường cấp II thị xã, vừa tách từ trường Tân Trào ra. Học trò hầu hết là con em Việt kiều ở Tân Đảo về, lớn hơn anh một cái đầu, anh thành người nhỏ nhất lớp.

Thời gian biểu hàng ngày của Chuyền chật kín công việc: sáng lên lớp, chiều làm thợ, buổi tối đi vác thuê tre nứa; chủ nhật thì xách dao vào rừng chặt nứa. Mỗi ngày một trăm cây nứa bảy, to bằng cổ tay, dài 4m. Tập kết nứa ra bờ sông xong, Chuyền bó lại thành bó, mỗi bó hai mươi cây, ghép làm bè mảng. Trên mảng để thêm vài bó củi, rồi thả trôi theo sông về thị xã.

 “Sông Lô sông ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u… Sông Lô, sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn trang. Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn màu nước sông Lô xưa…”. Không, khi đó cậu trưởng Chuyền chẳng biết gì về một sông Lô hùng tráng trong âm nhạc Văn Cao, hát về những sự kiện trong cuộc kháng chiến chống Pháp xảy ra trên sông cách đấy không lâu. Nhưng nhẩm tính số tiền sẽ thu được, trong lòng cậu có một cái gì đấy cứ muốn ngân lên thành lời. Chịu thương chịu khó, một ngày chủ nhật cậu kiếm đủ tiền chi dùng cho cả tuần. Bây giờ mỗi khi nhớ lại, anh vẫn không hình dung nổi làm sao trong hoàn cảnh ấy anh vẫn thuộc bài, làm bài đầy đủ, vẫn là một học sinh trong top đầu của lớp.

Hết lớp 7, tức là hết cấp II Quang Chuyền thi và đỗ vào trường Sư phạm Việt Bắc. Đây là một vinh dự lớn của đời anh, bởi ngày ấy cả khu tự trị 6 tỉnh chỉ có một trường Sư phạm cấp hai này. Từ đây anh được Nhà nước nuôi ăn học, không còn phải vất vả kiếm sống. Căn cứ kết quả thi, nhà trường xếp Quang Chuyền vào học khối Tự nhiên. Khi các giáo sinh bước vào huấn luyện quân sự, để tạo không khí học đường, Ban Giám hiệu trường phát động một cuộc thi thơ. Với hơn 2.000 tân sinh viên, cuộc thi bề thế lắm. Kết thúc chấm giải, bài thơ “Buổi diễn tập đầu tiên trên thao trường” của anh giáo sinh khối Khoa học Tự nhiên Trần Quang Chuyền được trao giải Nhất. Nhà trường bèn chuyển anh sang học khối Xã hội. Quang Chuyền như cá gặp nước, học hành ngày một tấn tới. Năm học thứ hai được kết nạp Đảng, được báo cáo kinh nghiệm học tập và phấn vào Đảng khắp toàn trường. Tốt nghiệp đỗ Thủ khoa ngành Khoa học Xã hội, trở thành một “hot boy” trong mắt các giáo sinh nữ.

Tất cả những sự ấy được Quang Chuyền ghi lại trong thơ: “Chiều thành Tuyên/ Nắng khép dần cửa sổ/ Đáy sông Lô nở chùm hoa lửa/ Chim về sải cánh qua soi/ Sông thở bồi hồi/ Giục phà sang Nông Tiến…” Những câu thơ không chỉ được viết từ sự quan sát bình thường, mà bằng sự cảm thấu của một tâm hồn đã gắn bó với vùng đất yêu thương qua nhiều năm tháng.

Đọc thơ Quang Chuyền, muốn lĩnh hội đầy đủ những dở hay, đạt và chưa đạt, ta phải đặt trong văn cảnh chung của nền thơ chống Mỹ. Một nền thơ lấy thành công của cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện của dân tộc làm mục đích sáng tạo. Mọi chất liệu cảm xúc, đề tài, chủ đề đều từ đó mà ra. Với hoàn cảnh xuất thân, kiến thức được trang bị, thời điểm xuất hiện, Quang Chuyền là một ca tiêu biểu của lớp nhà thơ chống Mỹ. Ông nhập cuộc thơ, nhập cuộc kháng chiến ngay từ buổi đầu. Năm 1964, khi Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc, cũng là lúc Quang Chuyền công bố những bài thơ đầu tiên. Thơ ông viết trong thời kỳ này chủ yếu khai thác vào khía cạnh thơ mộng, rất học trò, thấm đẫm hương kỷ niệm của tuổi thơ thân thuộc: “…Tao với mày cùng làng Gốm sinh ra/ Cái làng nhỏ quanh năm hạn úng/ Bởi vì thế khi hai thằng cầm súng/ Có bệ tì là nỗi khổ xa xưa…” (Gửi bạn nơi xa). Hoặc: “Hát về mảnh đất yêu thương/ Bến sông trải nắng, con đường xanh cây/ Hát về cánh trắng cò bay/ Lô xô đồi đất, vơi đầy đồng chiêm/ Từ trong câu hát lớn lên/ Đời tôi tha thiết một miền quê hương…” (Đất ơi).

Mỹ leo thang chiến tranh, bom đạn lan rộng dần. Đổ nát, thương vong đã vào nhiều đô thị, vào cả Hà Nội. Trên đất nước chẳng còn nơi nào bình yên. Anh bộ đội Quang Chuyền vượt Trường Sơn vô chiến trường. Một lần tới ngã ba làng Nút, phía Tây Quảng Trị. Do lỡ đường, trời tối, anh phải ngủ lại trong một lòng cống đặt ngang dưới đường xe tăng đi. Suốt đêm ấy anh và mấy người đồng đội nằm trong sự đu đưa đánh võng của đạn pháo địch. Tai ù đặc vì tiếng nổ. Sáng ra cửa cống bị đất đá lấp gần hết. Giày, dép, ba lô, vật dùng bị đất cát vùi chôn. Cùng lúc ấy cách cống các anh nằm chừng năm chục mét, mấy đồng đội khác đang gọi nhau, đào bới, thu nhặt xác của ba đồng đội đêm qua bị đạn pháo nổ trúng hầm. Từng chút xương, chút thịt vương vãi trong máu, trong đất, trong cát được thu nhặt lại, đặt vào các tấm tăng. Xong, mọi người moi đất bên cạnh, đặt các bó tăng xuống, lấp đất chôn cất liệt sĩ. Mộ chí là những mảnh cây khắc họ, tên từng người: “Cây trẻ rừng già/ Tôi qua năm ấy/ Vết khắc đoạn cây/ Vết gãy/ Ngang câu thơ mình/ Chấm mỗi dấu than/ Lại thấy/ Hiện về gương mặt các anh!...”. Sự kiện trên được Quang Chuyền ghi thành thơ như những dòng nhật ký.

Tiêu biểu cho việc đưa hiện thực chiến trường vào thơ trong giai đoạn này của Quang Chuyền, theo tôi, là bài Qua khu rừng trắng, viết ở Quảng Đà năm 1974:

Từng đi qua bao nhiêu rừng xanh

Mới thấm hết nỗi đau trước vùng rừng trắng

Mênh mông im lặng

Cơn gió lùa buốt tim

 

Nhức nhối mắt nhìn

Triền miên màu trắng

Cây thấp, cây cao, cay cong, cây thẳng

Cùng chung dáng hình

Những thân cây đầy vết đạn, giơ cành

Trần trụi lá nên không thành cây nữa

 

Đâu rồi vị chua lá bứa

Đâu rồi màu lửa hoa chuối đỏ bừng

Đâu rồi tiếng chim say lòng rưng rưng

Đâu dòng suối bâng khuâng cánh bướm?

 

Chỉ còn đây màu trắng

màu trắng còn lại đây

Dáng hình của cây

Tạc lên nền trời

tạc vào mặt đất

Tạc trong lòng người

Là dấu hỏi treo ngang tầm mắt

 

Đi qua rừng trắng bao nhiêu con người

Nhấp nhô ba lô, nòng súng

Thậm thịch bàn chân bước trong tim lặng

Nhìn đồng đội đi tôi chợt hiểu điều này

Áo quần chúng tôi xanh đậm màu cây”.

Bài thơ mở đầu như một bài ký (khổ 1, 2), nhưng chất liệu ký trong đó được tác giả sử dụng như là phương tiện cho sự phát triển của tứ thơ, và ngay ở cả những câu thơ - ký sự này, mỗi câu đều được viết với một sự kìm nén lớn tạo nên một cảm xúc thẩm mỹ cao trong lòng người đọc. Câu thơ hay nhất bài: “Trần trụi lá nên không thành cây nữa” là sự bật thốt của cảm xúc, làm rung chuyển chúng ta và chúng ta cảm thấy hết cái sức nặng của chiến tranh, của những mất mát, hy sinh mà chúng ta phải gánh chịu. Không sa vào kể lể, những liên tưởng tiếp theo (khổ 3, 4) tiếp tục đào sâu cảm xúc, làm thành một mạch ngầm mãnh liệt, tương ứng với hiện thực trần trụi bên ngoài. (Khổ 5) kết thúc bật lên bất ngờ, đem lại cho ta một niềm tin, một hy vọng về chính nghĩa của chúng ta, về sự sống sẽ được chúng ta bảo vệ…

Quang Chuyền làm thơ nhiều thể loại, nhưng sở trường thể lục bát. Lục bát chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp thơ anh. Lật mở mười bảy tập thơ nhà thơ đã xuất bản, tập nào thơ lục bát cũng chiếm số lượng lớn. Hơn thế, anh còn dành hẳn một tập chuyên về lục bát (Bốn câu lục bát, nxb VHVNTP Hồ Chí Minh, 2014).Vẫn là hai câu 6 – 8, vẫn B-T-B/ T-T-B ở câu lục. B-T-B-B/ T-B-T-B ở câu bát, lục bát Quang Chuyền mang dấu ấn riêng của hồn thơ anh, không lẫn với những nhà thơ lính khác: một mối tình dang dở, một bến nước thân quen, một con phố nhỏ nơi sơ tán, những người thân, bạn  bè cũ… những gì níu giữ anh với quê nhà, đúng như anh tuyên ngôn: “…Nổi nênh đắng đót ngọt ngào/ Mượn hồn tục ngữ ca dao đi về…”

Đọc lục bát Quang Chuyền, thấy anh không cố ý làm mới thể thơ cũ của cha ông bằng những ngắt nhịp, bẻ từng tiết một rồi viết xuống dòng như  thơ tự do. Tức là anh không cố ý làm mới lục bát về hình thức, mà chủ yếu bằng nội dung, bằng sự tinh tế, hóm hỉnh  trong nhìn nhận sự việc, luyện đạt nhân tình. Bằng cách ấy, anh đã ghi được dấu ấn của mình trong lòng người đọc đối với thể thơ truyền thống của dân tộc. Bên cạnh Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh… những nhà thơ cùng trang lứa có nhiều thành công về lục bát, người đọc không thể không nhắc tới Quang Chuyền. Không như  anh tự vịnh: “Tôi từ ít nhớ nhiều quên/ Sân ga lẻ bóng mình lên một tàu…”

* Thơ Nguyễn Đình Thi: “…Người ra đi đầu không ngoảnh lại…”

 4 – 2017

Nguồn: Tuần báo Văn nghệ số 27 (2994) ra ngày 8-7-2017

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm