TIN TỨC

Nguyễn Bính ở phương Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-03-25 17:00:05
mail facebook google pos stwis
2607 lượt xem

Đan Thanh

Nguyễn Bính (1918-1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính (có lúc tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở Nam Định nhưng sống khắp ba miền đất nước. Ông có phong cách một nhà thơ lãng tử, sáng tác về chủ đề tình cảm làng quê và tình yêu, tổ quốc. Thơ tình cảm mộc mạc của ông được rất nhiều người thuộc. Tác phẩm gồm 26 thi tập trong đó có : + 1 kịch thơ : Bóng giai nhân (1942): + 3 truyện thơ : Truyện Tỳ Bà (1942); Trong bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958): + 1 vở chèo : Người lái đò sông Vỹ (1964) và rất nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được nhạc sĩ phổ thành ca khúc : Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, Quốc Hương ca);  Cô hái mơ (Phạm Duy); Ghen (Trọng Khương), Cô lái đò (Nguyễn Đình Phúc); Chân quê (Minh Quang). Hiện nay, nhiều thành phố có những con đường mang tên ông. Nhà thơ Nguyễn Bính nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (2000) cùng với Hoài Thanh, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, …

Trong số những nhà thơ nổi tiếng từ trước Cách mạng tháng Tám như Xuân Diệu (1916-1985), Huy Cận (1919-2005), Chế Lan Viên (1920-1989),…Nguyễn Bính được coi là một hồn thơ đặc biệt, có nét chung và nét riêng với những thi sĩ cùng thời. Có thể nói, tính trữ tình trong thơ mới Nguyễn Bính là điểm tương đồng ở ông với đa phần các nhà thơ tiền chiến. Nhưng đi sâu vào thi tứ và bút pháp, ta thấy Nguyễn Bính có nét gần gũi hơn với các nhà thơ : Đoàn Văn Cừ (1913-2014), Anh Thơ (1921-2005), Hồ Dzếnh (1916-1991),…Nguyễn Bính sinh ra trong một gia đình giáo dục. Cha là nhà giáo Nguyễn Đạo Bình, và mẹ là Bùi Thị Miện, con một nhà khá giả. Hai anh trai Nguyễn Bính là : Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường – nhà viết kịch), Nguyễn Ngọc Thụ và 4 người em cùng cha khác mẹ. Mẹ Nguyễn Bính chẳng may bị rắn độc cắn, mất lúc 24 tuổi khi Nguyễn Bính mới được 3 tháng : Còn tôi sống sót là may/ Mẹ hiền mất sớm, giời đày làm thơ (Nhà

tôi). Dì Giần và cậu ruột Bùi Trình Khiêm thương cháu, đem ba anh em Nguyễn Bính về nuôi, lo cho ăn học. Kém may, không được đi học ở trường, Nguyễn Bính chăm chỉ học ở nhà với cậu và cha, được cái là làm thơ hay từ bé, nên được cậu cưng và ngợi khen. Năm 1932, mới 13 tuổi, Bính đã đoạt giải nhất về thơ do Hội Phủ Giầy tặng nhân một cuộc thi Hát Trống quân đầu xuân : …Anh đố em này:/ Làng ta chưa vợ mấy người/ Chưa chồng mấy ả, em thời biết không/ Đố ai đi khắp tây đông/ Làm sao kiếm được tấm chồng như chúng anh đây/…Làm sao cho tỏ hơi đèn/ Làm sao cho bút gần nghiên suốt đời ?…  Mới 15 tuổi, Bính phải lang thang tìm hướng lập thân, làm nghề bán báo và làm thơ.

 Nguyễn Bính thật sự bước chân vào làng thơ từ năm 1935. Qua sự giới thiệu của họa sĩ Nguyệt Hồ với ông Lê Tràng Kiều là chủ bút báo Tiểu thuyết Thứ Năm, bài thơ được đăng báo đầu tiên : Cô hái mơ, (Phạm Duy đã phổ nhạc), làm theo lối thơ mới 7 chữ, với tứ thơ tinh tế, hóm hỉnh, lời thơ giản dị, trong sáng đã cho thấy trước sự ấp ủ mầm xanh của một thi tài. Thời gian sau đó, tập thơ Tâm hồn tôi được giải khuyến khích của Tự lực Văn đoàn (1937). Khi được 22 tuổi, chỉ trong vòng 9 năm, Nguyễn Bính đã làm được khoảng 1.000 bài thơ. Năm 1940, trong đang ở Hà Nội cùng anh là nhà thơ Trúc Đường (1911-1983), và đã bắt đầu nổi tiếng với nhiều bài thơ tình với chủ đề phong phú trên báo chí, Nguyễn Bính bắt đầu nổi máu giang hồ, muốn hành phương Nam, định vào Huế tìm đề tài sáng tác. Ông anh thương em, đồng ý nhưng không có tiền, cho Nguyễn Bính chiếc máy ảnh và về quê bán dãy thềm đá xanh vốn là vật báu duy nhất của gia đình còn lại, rồi đưa tất cả số tiền cho Nguyễn Bính. Ở cố đô Huế, Nguyễn Bính làm thơ và gởi ra Hà Nội cho Trúc Đường đọc rồi đăng báo sau. Giai đoạn này, Nguyễn Bính đã có được các bài : Xuân tha hương và Oan nghiệt. Một thời gian sau, Nguyễn Bính rời mảnh đất thần kinh thơ mộng, trở về Hà Nội. Năm 1943, nhà thơ từ giã anh để vào Nam nhưng tin tức giữa hai anh em bắt đầu thưa dần. Bài thơ Hành phương Nam  của Nguyễn Bính được làm trong thời gian này : Đôi ta lưu lạc phương Nam này / Trải mấy mùa qua, én nhạn bay / Xuân đến khắp trời hoa rượu nở / Mà ta với ngươi buồn vậy thay /…Ta đi

nhưng biết về đâu chứ / Đã dấy phong yên lộng bốn trời / Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ /  Uống say mà gọi thế nhân ơi ! /… Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ / Ta với nhà ngươi cả tiếng cười / Dằn chén hất cao đầu cỏ dại / Hát rằng phương Nam ta với ngươi (Dakao, 1943). Năm 1947 ở Nam bộ, Nguyễn Bính có dịp gặp nhà thơ Đông Hồ (1906-1969), nữ thi sĩ Mộng Tuyết (1914-2007),: “Người khách thâm thấp. Phong trần hiện lên mớ tóc đen rậm, rối bồng dài tới mang tai. Bộ Âu phục cũ, nhầu nát làm cho người tăng thêm phần tiều tụy…” (Mộng Tuyết – Để nhớ Nguyễn Bính những ngày ghé bến Hà Tiên, Văn số 60, ra ngày 15/06/1966 tại Sài Gòn). Và  nhà thơ Kiên Giang (1929-2014) tại Rạch Giá. Nguyễn Bính ban ngày tá túc, ăn uống kham khổ tại nhà Kiên Giang, đêm khệ nệ mang nóp ra ngủ ở đình Nguyễn Trung Trực. Đây là không gian đặc biệt để hai nhà thơ đồng điệu và đồng chí ở hai đầu đất nước, cùng cảnh ngộ có dịp chân tình tâm sự, được xem là “những giây phút thần tiên của hai thằng điên” (Kiên Giang), để  nhả ngọc phun châu, và cùng nhau bày tỏ mọi góc khuất của cõi lòng cuộc đời hàn sĩ truân chuyên trong thời tao loạn : Có những giòng sông chảy rất mau / Nhớ chi nghĩa bến với duyên cầu / Lá vàng hoa dỏ trôi không kịp / Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau (Tặng Kiên Giang) // Từ độ về đây sống rất nghèo / Bạn bè chỉ có gió trăng theo / Những thằng bất nghĩa xin đừng đến / Hãy để thềm ta xanh sắc rêu. Trong  mùa mưa bão, ngày ngày, Nguyễn Bính làm bếp, Kiên Giang đi mua chịu rượu. Khi trở lại đến gần nhà, tác giả “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” đã nghe giọng Bính ngâm vang : Ở đây mưa ngày lại ngày / Nhà không mở ngõ mưa đầy tuần trăng (Hai câu trong một bài thơ Nguyễn Bính viết trong cơn say để tặng Kiên Giang). Cơ hội gặp gỡ hiếm có này đã tạo ra một giai thoại thú vị trong làng văn nghệ kháng chiến chống Pháp ở Tây Nam bộ.

Nhớ lại, cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công nhưng sau đó thực dân Pháp lật lọng, quay đầu trở lại với ý đồ xâm chiếm Nam bộ. Cùng với các văn nghệ sĩ yêu nước khác lúc bấy giờ như : Sơn Nam (1926-2008), Kiên Giang , Truy Phong (1925- 2005) … Nguyễn Bính vào chiến khu U Minh, hòa mình vào cuộc đấu tranh chống thực dân xâm lược của nhân dân.

Dù làm công tác chính trị là chủ yếu trong giai đoạn này, đôi lúc, với tâm hồn lãng mạn đa tình, Nguyễn Bính cũng để lộ nguyên hồn cốt của một nhà thơ tình với bao nỗi nhớ nhung diệu vợi về cảnh, về người … : Thấy dừa thì nhớ Bến Tre / Thấy sen lại nhớ đồng quê Tháp Mười / Thấy trăng lại nhớ đến người / Thấy sao lại nhớ đến lời thề xưa. Sớm đến với cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám, trong thời gian theo Việt Minh ở chiến khu (1947), Nguyễn Bính đã được nhà thơ Bảo Định Giang (1919-2005) gởi gắm cho cấp Chỉ huy Bộ Tư lệnh là ông Trần Văn Trà, nhờ quan tâm và đối đãi đàng hoàng, chăm sóc chu đáo tác giả “Lỡ bước sang ngang”. Qua giới thiệu của ông Lê Duẩn, Nguyễn Bính kết hôn với bà Nguyễn Lục Hà tức Nguyễn Hồng Châu, cán bộ Việt Minh và sinh được một con gái là Nguyễn Bính Hồng Cầu (nay là nhà thơ Hội Nhà Văn Việt nam). Tài hoa và đa tình, dù có gia đình nhưng chưa thấy mãn nguyện. Nhà thơ lãng tử vẫn coi gia đình như một trạm dừng chân, một bến đỗ tình yêu, để chuẩn bị hành tranh lên đường, đi kiếm tìm một bến tình mới. Sau đó không lâu, Nguyễn Bính lại kết hôn lần hai với bà Mai Thị Mới ở U Minh, có một con gái là Nguyễn Hương Mai. Và lần ba (không chính thức) với Phạm Vân Thanh rồi lần tư với bà Trần Thị Lai, ngoài những cuộc tình văn nghệ gió thoảng ở những nơi thi nhân đặt chân đến.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, thực dân Pháp rút hết quân về nước, theo Hiệp định Genève, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc cũng như bao cán bộ Việt Minh khác. Khi về Nam Hà, theo nhà văn Chu Văn (1922-1994), lúc bấy giờ : Nguyễn Bính tuổi gần năm mươi, gầy, đen, tóc cắt ngắn, như trọc, Nhà thơ ăn mặc thật giản dị : một sơ mi nâu, một quần ka ki bạc màu và đôi dép cao su. Toàn bộ hình thức ấy không gợi một vẻ gì là một nhà thơ lớn trước – sau này người ta gọi là “thi nhân tiền chiến”. Nhà thơ cười với đôi mắt nâu sắc sảo, ánh hơi lạnh và nụ cười khô, hàm răng ám khói thuốc lào. Nguyễn Bính về làm việc ở báo Văn nghệ rồi sau đó thay thế người anh – nhà thơ Trúc Đường- làm chủ bút tạp chí Trăm hoa, (bộ mới), một tờ báo tư nhân, đặt văn phòng tại số 15 Hai Bà Trưng, Hà Nội. Chính nhà văn Tô Hoài được phân công thuyết phục một tờ báo tư nhân, để có

tiếng nói chống lại những luận điệu ngang ngược của báo Nhân văn Giai phẩm. Dù có sự tiếp tay của tác giả Dế mèn phiêu lưu ký, báo Trăm hoa của Nguyễn Bính cũng bị phê bình và Nguyễn Bính tuyên bố đóng cửa với Tô Hoài sau đó.

Dựa vào toàn bộ sự nghiệp văn chương không nhỏ của Nguyễn Bính, ta có thể nói thi ca của nhà thơ phân làm hai dòng : trữ tình và cách mạng. Là nhà thơ lãng mạn có tài bẩm sinh, ngay từ thuở mới mười ba tuổi, lần đoạt giải thơ đầu tiên cho tới những bài thơ làm lúc cuối đời, Nguyễn Bính đã tỏ ra rất nhạy bén, tinh tế và sâu sắc trong việc cấu tứ, tìm vần. Trí tưởng tượng phong phú trời cho, kết hợp với cuộc đời lãng tử ngược xuôi đây đó, được coi là những chuyến đi thực tế tự do, đã làm nên cái chất liệu cảm hứng quý báu để nhà thơ dễ dàng sáng tác. Thơ tình yêu cũng như thơ cách mạng, Nguyễn Bính bao giờ cũng sử dụng ngôn ngữ dung dị, tự nhiên như ca dao, không phải tỉa gọt bay bướm, cầu kỳ đến mức độ khó hiểu. Do vậy, hầu như bài thơ nào, thi tập của Nguyễn Bính cũng đã đi sâu vào lòng người yêu thơ, và ai cũng chân thành cảm nhận được thơ ông với tấm lòng trân trọng. Nhiều nhà phê bình gọi ông là nhà thơ chân quê, thực ra đó chỉ là dựa vào tính cách bút pháp mộc mạc dễ hiểu, gần gũi với người bình dân, chứ nội dung thơ Nguyễn Bính không chỉ nói về nông thôn và người nhà quê. Chủ đề thi ca của Nguyễn Bính phong phú, đa dạng và sâu sắc.

Người mẹ là điểm tựa ấm áp đầu tiên không thể thiếu trong quảng đời thơ ấu.

Nguyễn Bính không may sớm mất mẹ từ lúc ba tháng, thuở còn nằm nôi và chưa dứt sữa, nên đa phần thơ Nguyễn Bính, bài nào cũng man mác một nỗi buồn trống trải, cô đơn, lúc nào cũng khao khát một tình thương : Người có đôi, ta rất một mình / Phong trần, ai dám mắt ai xanh / Đêm nay trăng rụng về bên ấy / Gác trọ còn nguyên gió thất tình (Một mình). Dường như luôn hiện hữu mặc cảm chia xa, đỗ vỡ và đoạn tuyệt, triền miên ở tác giả trong những vần thơ mang giai điệu u hoài xa vắng : Hoa đào từng cánh rơi như tưới / Xuống mặt sân rêu những giọt buồn / Như những tim tình tan vỡ ấy / Nhện già giăng mắc sợi tơ đơn / Nàng hãy cùng tôi đoạn một lời / Từ nay, nàng sẽ hết yêu tôi/ Từ nay ta sẽ xa nhau mãi / Ta sẽ quên nhau đến trọn đời… (Thôi nàng ở lại) // Tàu chạy hình như để chở buồn / Chở người đi nhớ, kẻ về thương / Nâng niu bao gót chân xinh đẹp / Tàu chạy đêm nay có lạc đường… (Chuyến tầu đêm). Xuân đến như một định luật là để báo hiệu niềm vui và hy vọng cho con người, nhưng trong thơ Nguyễn Bính chỉ hiện lên màu nhớ mong mòn mỏi của bức tranh lỗi thề, ly cách : Xuân đã đem mong nhớ trở về / Lòng cô lái ở bến sông kia / Cô hồi tưởng lại ba xuân trước / Trên bến cùng ai đã hẹn thề / Nhưng mà người khách tình quân ấy / Đi biệt không về với bến sông/ Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi /Mấy lần cô lái mỏi mòn trông…(Cô lái đò). Ngay cả những tập thơ của Nguyễn Bính, chưa đọc bài nào trong đó, tên của nó cũng gợi cho ta một nỗi ngậm ngùi diệu vợi : Mây Tần, Một nghìn cửa sổ, Hương cố nhân, Mười hai bến nước,… Bóng dáng những cô gái quê xinh đẹp, dịu hiền của làng thôn thanh bình yên ả, hiện lên trong thơ tác giả Lỡ bước sang ngang với ý nghĩa của sự mất mác nét quê hồn hậu, ngây thơ bởi cát bụi đô thành : Hoa chanh nở giữa vườn chanh / Thầy u mình với chúng mình chân quê / Hôm qua, em đi tỉnh về / Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều / Khăn nhung quần lãnh rộn ràng / Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi…(Chân quê). Bài thơ Chân quê được nhiều người coi như Tuyên ngôn của Trường phái thơ Chân quê  của Nguyễn Bính, như có khuynh hướng đối lập với dòng Thơ mới ảnh hưởng thơ Tây, đại diện bởi Xuân Diệu, Nguyễn Vỹ (1912-1971), Phan Khôi (1887-1958)… Tính cách nhà quê – nhưng không phải là quê mùa – đó còn hiển thị trong các bài thơ : Anh về quê cũ, Cây bàng cuối mùa thu, Cô hái mơ, Cô hàng xóm…, trong đó Nguyễn Bính vẫn sử dụng thể thơ mới 7 chữ sở trường giàu thanh điệu và đặc biệt lối thơ lục bát truyền thống ngọt ngào, điêu luyện và dễ nhớ, đọc qua một vài lần, ta có thể thuộc hết cả bài. Nét quê trong thơ Nguyễn Bính đã được nhà phê bình văn học Hoài Thanh khẳng định : Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê ẩn náu trong ta. Khi hoạt động ở chiến khu trong kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ (1946-1947), một thời gian lãnh trách nhiệm Phó Chủ tịch Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Rạch Giá. Ông ký tên thay mặt Ban Thường vụ, sao y các công văn. Kèm theo công văn, đôi khi cấp dưới lại nhận được một đôi bài thơ ký tên Nguyễn Bính. Nguyễn Bính vẫn làm thơ nhưng chủ yếu là để cổ vũ, phục vụ cho cuộc chiến đấu chung của dân tộc. Nhà văn Sơn Nam kể lại : “Nguyễn Bính là nhà thơ yêu nước… Thời kháng Pháp, tôi đã gặp Nguyễn Bính uống rượu, uống trà, trao đổi tâm sự với nhau nhiều lần…Tại chợ Rạch Giá, anh vào chiến khu, khởi xướng việc thành lập Đoàn Văn hóa Cứu quốc và cho ra mắt Tập thơ yêu nước (gồm chừng 10 bài) sau khi vào chiến khu đôi tháng. Bài thơ yêu nước của Nguyễn Bính có đoạn : Những ai xứng đáng là người / Hãy hy sinh hết cho nòi giống ta / Hãy nên vì nước vì nhà / Coi thường thân sống mới là trượng phu. Bài chót tập thơ là Trận Cây Bàng :  Đánh ! Đánh ! Đánh ! Chỗ nào cũng đánh / …Nếu quân thù không đem binh tiếp viện / Thì quân ta quyết tiêu diệt quân thù ! / Nhưng thắng bại là lẽ thường chinh chiến / Trận Cây bàng lưu tiếng để muôn thu. Trong một bài thơ diễn tả nỗi đau buồn của người mẹ chờ con đã hy sinh cho tổ quốc : Con sống ngày nào, còn cứu nước / Còn đem xương máu để xây thành…/ Vì nước bỏ mình là bất tử / Xưa nay chinh chiến mấy ai về ? Những câu thơ của Nguyễn Bính lúc này đã là những vần thơ thép, mạnh mẽ và khảng khái, tác dụng như lời tuyên ngôn trước đồng bào, tinh thần hy sinh quyết tử vì sinh tồn của tổ quốc : Trái vú sữa thẳng căng niềm uất ức / Gai sầu riêng nhọn hoắt ý căm hờn / Cây cau già, ruột yếu cũng sôi lên / -“Thân lão đây ! Mau hãy chuốc làm tên” (Đây Nam bộ). Tại chiến khu, Nguyễn Bính phải làm việc trong một hoàn cảnh tối tăm, thiếu thốn điều kiện vật chất và thuốc men trong sự theo dõi, kiềm tỏa nghiêm ngặt cả đến việc chiêu dụ của kẻ thù : Ở chòi hẹp nhưng hồn trùm vũ trụ / Trái tim đau nhưng thương cả loài người / Đã nhiều hôm không thấy bóng mặt trời / Bởi làm việc liên miên và bí mật (Những người của ngày mai). Trong thời gian này, chính phủ tự trị thân Pháp của Nguyễn Văn Thinh có treo giải : Ai đưa được nhà thơ Nguyễn Bính dinh tê (về thành) sẽ được thưởng 1.000 đồng bạc Đông Dương. Nếu nhà thơ  tự vào cũng  được hưởng như thế –  Một kiểu kêu gọi chiêu hồi của chính phủ Cộng hòa từ sau năm 1954 – Nhiều thi sĩ bạn của Nguyễn Bính viết thư thuyết khách mời ông vào thành nhưng ông vẫn đinh ninh một lòng vì tổ quốc. Trong một bài thơ, ông đã khẳng định lập trường son sắt, thể hiện chí khí một sĩ phu yêu nước của mình : Mình không bỏ Sở sang Tề / Mình không là kẻ lỗi thề thì thôi. Trong kháng chiến 9 năm, Nguyễn Bính vẫn viết nhiều  nhưng tác phẩm đã chuyển sang chủ đề đấu tranh, thời sự, theo nhu cầu cần thiết của hoàn cảnh đất nước, dù in với phương tiện thô sơ, cũng phổ biến được rộng khắp Nam bộ : Ông lão mài gươm, Sóng biển cỏ (Trường ca Đồng Tháp Mười), Trong bóng cờ bay, Những dòng tâm huyết, Đây, Nam bộ… Sau khi tập kết ra Bắc, Nguyễn Bính vẫn sáng tác nhiều và hay hơn hết là bày tỏ được tình cảm thủy chung thương nhớ miền Nam đau thương từng cưu mang ông và quê hương miền Bắc đang thay da đổi thịt, quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Sự nghiệp văn chương rạng rỡ và lập trường đấu tranh cách mạng kiên định, vì quê hương và tồ quốc của nhà thơ, vẫn mãi mãi xứng đáng là tấm gương sáng cho mọi thế hệ cầm bút hôm nay và mai sau trên mặt trận văn hóa văn nghệ. Song hành cùng Xuân Diệu, Trịnh Công Sơn (1939-2001), ... cảnh long đong của cuộc đời đã kết tinh nên mảnh đất phì nhiêu màu mỡ, để nuôi dưỡng nên một thi tài Nguyễn Bính. Thâm thúy như lời triết gia Đức Nietzsche (1844-1900) : “Những cây cao nhất, mạnh nhất thường mọc nơi vùng đất đá cheo leo khô cằn”. Trong bão giông nghiệt ngã của hoàn cảnh, cho đến hôm nay, thơ Nguyễn Bính vẫn được coi những đóa hoa thơm đầy hương sắc, ngọt ngào giai điệu ca dao, thấm đẫm tính nhân văn, còn đọng lại trong lòng nhiều người. Trong không gian thênh thang của những ngày xuân thanh bình thịnh vượng, ta hãy cùng nhau giở lại trang sách xưa, để thưởng thức những vần thơ tuyệt bút của nhà thơ chân đất tài hoa Nguyễn Bính.

                                              25.02.2024

                                                   Đ. T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm