TIN TỨC

Nguyễn Kim Thanh với hương đồng gió nội miền Tây

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-21 21:03:25
mail facebook google pos stwis
1788 lượt xem

LÊ XUÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong mỗi chúng ta ai chẳng có một quê hương để thương để nhớ. Với nhà văn Nguyễn Kim Thanh thì đó là cả một vùng ký ức với bao kỷ niệm vui buồn nhung nhớ. Đó là cảnh sắc quê nhà với hai mùa mưa nắng, là tiếng bà ru cháu, mẹ ru con, là lời ca điệu lý vang vọng bên những dòng kinh. Đó là bến nước, dòng sông, là những giề lục bình trôi với bông tim tím, hay bông điển điển vàng, bông súng mùa nước nổi, là con cá lòng tong, con cá linh, cá rô, con tôm càng quẫy đạp. Đó là những phận người lưu lạc, bất hạnh trong chiến tranh hay trong cuộc mưu sinh nhưng không bao giờ lùi bước bi kịch cuộc đời. Họ vẫn luôn lạc quan yêu đời, vựợt lên mọi gian nan thử thách khi cuộc sống trở nên “không thể chịu được nữa”. Tập truyện ngắn và tản văn “Mùa cá lòng tong” của chị là bức tranh sống động của miệt quê Nam Bộ mang vẻ đẹp hương đồng gió nội như một hành trang theo mỗi bước chân chị đã qua.

Nhà văn Nguyễn Kim Thanh

 

Nhà văn Nguyễn Kim Thanh với các bút danh: Duy Anh, Kim Thanh, Huỳnh Duy, Hưng Phú đã trình làng nhiều tác phẩm in chung và bốn tác phẩm in riêng. Nhiều sáng tác của chị đã được đăng trên các Báo, Tạp chí Văn nghệ Trung ương và địa phương. Hiện nay chị là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Cần Thơ, phụ trách Tạp chí Văn nghệ Cần Thơ. Công việc nhiều và hoàn cảnh còn khó khăn nhưng đêm đêm chị vẫn miệt mài trên mỗi trang viết. Tình yêu văn chương đã nhen nhóm trong lòng chị từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm. Đôi khi những bài thơ, những trang viết chỉ “một mình mình biết, một mình mình hay”. Nhưng từ khi là hội viên Phân hội Văn học thuộc Hội văn học nghệ thuật tỉnh Kiên Giang rồi chuyển về Cần Thơ và qua các lớp bồi dưỡng ở các trại sáng tác, lý luận văn học, rồi đi thực tế nhiều chuyến thì những truyện ngắn, tản văn của chị càng “nổi gió” hơn, ghim được vào trái tim người đọc.

Đề tài những truyện ngắn, tản văn của Nguyễn Kim Thanh phần lớn đều xoay quanh số phận người miền Tây trong cuộc sống đời thường. Nhân vật thường là những người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh ở miền quê hay phố thị khác nhau. Con người, cảnh vật trong truyện hiện lên rất sống động qua cách kể, cách tả, cách dẫn truyện khá hấp dẫn nhiều lớp lang, nhiều tình tiết.

Với tập truyện ngắn và tản văn này, chị đem đến cho người đọc cái nhìn đa chiều về con người và cuộc sống của cư dân miền Tây Nam bộ bằng một giọng văn kể chuyện tâm tình với nhiều chi tiết sống động. Mỗi truyện ngắn, mỗi tản văn là một lát cắt, là một clip quay cận cảnh về đời sống, cảnh sắc vùng đất đầy nắng gió khi con nước lớn, ròng. Người đọc sẽ bắt gặp đâu đó hình bóng quê nhà với những con người dễ thương dễ mến như: ông Mười Sẹo, chú Hân, chú Thi, cô Út, cô Nguyệt, cô Sinh, cô Ngần, bà Hai Qườn trong “Chuyện nhà ông Mười Sẹo” mà ông Mười Sẹo là người đáng thương hơn đáng trách. Người đọc khó quên tiếng chửi của Mười Sẹo, nó khác với tiếng chửi cả làng Vũ Đại của Chí Phèo, “Ổng chửi bầy trâu là chủ yếu nhưng lũ trâu có nghe lời ông chửi tụi nó hay không mà cứ ốm o dần đi”… Hay “Chuyện ở xóm Miễu” ta bắt gặp một lão Tam với biết bao người đàn bà qua tay lão mà “mụ Hinh vẫn khoái lão Tam ra mặt”. Lão từng hại ba má lão, hại các đồng chí của ba má. Lão chính là thằng Ức “đã chết trong lòng dân xóm Miễu”. Lão chỉ uống rượu và bạn với con chó thôi, và lão đã tự biết mình có tội với dân. Nhưng tình thương con vẫn bùng cháy trong huyết quản của lão. Ở đây ta còn bắt gặp một ông Ba Giỏi gốc miền Trung chạy vào Rạch Sỏi (Kiên Giang) sinh sống, có cảm tình với cách mạng, được bà con yêu mến nhưng có thằng con nghịch tử bán đứng cả ba má và đồng đội, và ông đã “hộc máu lên vì uất ức, ông không dám nhìn vào mắt các đồng chí của mình”. Các nhân vật xóm Miễu hiện lên qua lời kể của chị rất có duyên, đan xen giữa các nhân vật làm người đọc như “vừa quen vừa lạ” như sờ thấy được. Nào Bà Bảy, thằng Xứng, Sa Sang, nào bác Tấn, chị Mười, lão Tam và bà con xóm Miễu luôn chan hòa tình làng nghĩa xóm…  Những trang viết như thế cứ ám ảnh người đọc, nhẹ nhàng mà sâu lắng đậm chất đời và tính nhân văn.

Ở các truyện “Hương cỏ mật”, “Lá bùa hộ mệnh”, “Lục bình trôi”, “Lưng chừng triền dốc”, “Luôn có một vì sao theo dõi anh” … Nguyễn Kim Thanh vẫn giữ giọng kể chuyện tâm tình để khắc họa tính cách nhân vật, tạo điểm nhấn cho mỗi truyện. Và tác giả kết thúc truyện theo hướng “mở” để  “người đọc cùng sáng tạo”. Không gian và thời gian truyện luôn mở rộng biên độ. Từ chiến tranh chống Mỹ đến hòa bình lập lại, từ miền Tây tỏa đi Sài Gòn, Tây Nguyên, miền Trung, miền Bắc… nhưng nhân vật và ngôn ngữ truyện rất đậm chất Nam Bộ. Từ thành phố Cần Thơ, được xem là Tây đô của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bàn chân chị đã qua hầu hết các nẻo đường. Tới đâu chị cũng ghi lại những cảnh, những người, những nét đặc trưng của vùng đất đó. Từ bông hoa ngọn cỏ, trái cây, bông súng, lục bình, bông điên điển tới cánh cò, con đò, dòng sông, cầu tre lắt lẻo, cầu khỉ gập ghình khó đi hay bến nước, ao hồ, câu ca điệu lý… đều ùa vào mỗi trang văn. Mỗi truyện của chị đều ánh lên vẻ đẹp nhân văn như hơi thở cuộc sống thường nhật vậy. Tất cả đều thấm đẫm tình người với những nỗi đau, niềm vui của thân phận con người, đôi khi yếu đuối nhưng cũng rất kiên cường, cho dù cuộc sống xô đẩy họ đối mặt với những nghịch cảnh của gia đình, xã hội nhưng ở họ không hề tắt niềm tin và hy vọng. Những góc khuất tận cùng của con tim nhân vật được chị diễn đạt như những lời tâm tình thỏ thẻ, khiến người đọc dâng lên một niềm cảm thương sâu sắc. Tôi có cảm giác Nguyễn Kim Thanh như hóa thân vào nhân vật, vào dòng chảy của ký ức với bao kỷ niệm vui buồn mà con tim thôi thúc. Quá khứ, hiện tại và tương lai cứ thôi thúc chị phải viết ra như trả món nợ cho đời.

Tập truyện ngắn, tản văn “Mùa cá lòng tong” của nhà văn Nguyễn Kim Thanh

 

Ở những tản văn, chị lại đưa người đọc trở về tuổi thơ với quê hương thân thương trìu mến qua những trang miêu tả đậm chất thơ. Đó là cảnh “Má trồng rau ngày Tết” và “Tiếng rao bánh tráng ngày xuân”. Và đây là cả một “Vùng ký ức” với bao âm thanh, sắc màu của “Ninh Kiều ngày mới”, “Nỗi nhớ mùa trăng”, “Nỗi nhớ dòng sông”, “Mùa cá lòng tong”. Và những lời thầy dạy vẫn văng vẳng bên tai. Tất cả là một tình yêu quê hương nồng thắm. Những trang viết về mẹ, gia đình, bè bạn, tình thầy trò, tình yêu cứ ùa vào ký ức làm sáng lên niềm tin và lòng thủy chung bền chặt. Trong mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương để thương để nhớ, và nếu ai đó “Quê hương nếu ai không nhớ/Sẽ không lớn nỗi thành người” (Đỗ Trung Quân). Nhà thơ người Nga Ilia Erenbua đã viết: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào đại trường giang Vonga. Con sông Voga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Nhưng không phải ai cũng có được tình yêu quê nồng nàn, tha thiết như thế. Tình yêu quê hương làng xóm, yêu con người miền Tây dân dã, mộc mạc trọng nghĩa khinh tài, nhân ái cứ lớn dần trong chị. Đó chẳng phải là lòng yêu dân tộc và Tổ quốc sao? Ta hãy thưởng thức món cá lòng tong kho tiêu, cá lòng trong ăn lẩu có bông súng lục bình, khô cá lòng tong chiên giòn của má trong những ngày mưa dầm nắng lửa càng cảm thấy vị mặn mòi đậm tình quê hương. Chị tả cảnh má Mải bỏ lưới xuống xuồng bắt cá lòng tong khá điệu nghệ: “Năm nào cũng vậy, từ tháng mười một âm lịch cho tới tháng tư năm sau mùa cá lòng tong về. Cá lăn tăn khắp sông rạch… Những ngày vào mùa cá khi bắt đầu con nước lớn, má Mải bỏ lưới xuống xuồng, Bà bơi xuồng tới đầu dòng sông hay đầu các con kênh và bắt đầu thả lưới… Bà sử dụng hai đoạn tre nhỏ cắm xuống nước nép bên đầu kênh hoặc đầu vàm và bắt đầu giăng lưới”. Và đây là tiếng rao bán các loại bánh gần Tết ở vùng quê vui làm sao: “Bánh tráng nhúng, bánh tráng mè đen, bánh tráng ngọt nước cốt dừa, bánh tráng khoai mì… có luôn bánh phồng nếp ngọt, lạt đây bà con cô bác ơi”. Rồi hình ảnh chợ nổi miền Tây - nét đặc trưng vùng sông nước Nam Bộ không thể thiếu trong tản văn của chị. Chỉ cần nhìn cây “bẹo” du khách đã biết gì? Treo gì bán nấy chăng? Và chị đã cho biết: “Làm ăn khấm khá treo tàu lá dừa nước, bán ghe nhỏ, mua ghe lớn hơn. Làm ăn không được hoặc gia cảnh không đi ghe được nữa thì cũng phải treo tàu lá dừa nước… có cái treo mà không bán đó là quần áo, đồ sinh hoạt của người thương hồ…”

Mỗi mùa trăng, mỗi khi con nước lớn ròng, ghe xuồng tấp nập trên sông, nhất là những ngày giáp tết. Tình yêu cũng nảy nở trên sông, trên ghe xuồng những đêm trăng sáng. Tiếng đờn hòa tấu, lời vọng cổ xuống “xề” cùng với tiếng cụng ly cười nói cứ văng vẳng trên sông từ khuya tới sáng… Miền Tây miệt vườn Nam Bộ là thế đó. Nó hiện lên trên mỗi trang văn của chị thật đáng yêu biết dường nào.

Chỉ với mười sáu truyện và tản văn, Nguyễn Kim Thanh đã cho người đọc thưởng thức bao vẻ đẹp về con người và cuộc sống nơi thôn dã bình lặng hay phố thị đông vui của miền Tây Nam Bộ. Đó là một bức tranh vừa mang tính tổng thể vừa đặc tả những nét đặc trưng nhất của vùng đất này với bao hương đồng gió nội đáng yêu.

Ngày nay giữa những ồn ào của của lối sống công nghiệp thời hội nhập, đọc những truyện ngắn và tản văn của chị ta như đang lắng nghe lời tâm sự của những con người, những mảnh đời khát khao, hy vọng vươn tới một hạnh phúc trọn vẹn. Xã hội ngày càng phát triển, nhưng cuộc sống cũng còn nhiều khó khăn, trăn trở, thì vẫn còn đó những mâu thuẫn, những đối lập nảy sinh. Nhưng ta tin rằng cái cao cả, thiện lương mà tác phẩm đem lại luôn là bài ca chiến thắng cái xấu, cái ác.

Bằng một giọng kể hồn nhiên, đôn hậu, từ ngữ mộc mạc, những phương ngữ Nam Bộ dùng đúng lúc đúng chỗ, chị đã chinh phục được trái tim người đọc bằng những câu chuyện đẹp, những tản văn hay đậm chất tình, chất thơ. Hy vọng đường văn của Nguyễn Kim Thanh còn tiến xa hơn nữa. Xin trân trọng giới thiệu “Mùa cá lòng tong” cùng bạn đọc.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm