TIN TỨC

Nguyễn Thanh Quang - Giọng thơ trầm lắng từ miền sông nước An Giang

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-22 20:47:01
mail facebook google pos stwis
404 lượt xem

PHAN THÀNH ĐẠT

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, mỗi vùng đất đều mang trong mình một mạch nguồn riêng, âm thầm mà bền bỉ, lặng lẽ mà dai dẳng như chính nhịp sống của con người nơi đó. Và trong không gian thi ca rộng lớn ấy, An Giang như một miền phù sa bồi đắp bởi nhánh sông Hậu, bởi dãy Thất Sơn thâm u, bởi những cánh đồng lúa bát ngát, bởi mênh mang sóng biển và bởi những phận người chất phác, luôn có một sắc thái thi ca rất riêng. Đó là vẻ đẹp của sự hiền hòa xen chút sắc bén, của nỗi lặng thầm pha chút đa đoan, của những suy tư tưởng như bình dị mà lại chứa cả thẳm sâu nhân thế.

Giữa những giọng thơ ấy, thơ Nguyễn Thanh Quang hiện lên như một tiếng nói bền bỉ và đằm sâu. Thơ ông không ồn ào, không sắc cạnh, không chủ trương gây chú ý, nó giống như một dòng sông lặng lẽ chảy qua những xóm làng, thấm dần vào lòng người bởi sự chân thành và độ lắng của cảm xúc. Ở đó, ta thấy bóng dáng của một người nghệ sĩ “ăn đời ở kiếp” với quê hương, gìn giữ từng nhịp thở của đất trời, từng chuyển động rất nhỏ của đời sống, để rồi kết tinh lại thành những vần thơ mộc mạc mà thấm đượm triết lý nhân sinh.

Với Nguyễn Thanh Quang, thi ca không phải là chiếc áo khoác để phô bày hay là một cuộc dạo chơi nhất thời. Thi ca là cách ông ghi nhớ cuộc đời, là cách ông trò chuyện với chính mình và với những phận người đã đi ngang tuổi trẻ, tuổi nghề. Từ vệt nắng trên mặt ruộng, tiếng mái dầm khuya, cho đến nỗi bất trắc và vô thường lẩn khuất trong đời sống, tất cả đều đi vào thơ ông một cách tự nhiên, dịu nhẹ mà đầy thi vị.

Trên hành trình sáng tạo ấy, ông đã lặng lẽ vun trồng một đời thơ bằng sự chân tình, bằng lòng thủy chung với màu đất quê, và bằng khát vọng gửi lại cho đời những câu thơ biết xoa dịu, biết sẻ chia, biết nhắc con người thương nhau hơn giữa những bề bộn, đa đoan của kiếp người. Bởi thế, trong dòng chảy thi ca An Giang nói riêng và văn học Nam Bộ nói chung, thơ Nguyễn Thanh Quang là một trong những giọng thơ mang lại cảm giác vừa gần gũi vừa sâu xa, một giọng thơ mà càng đọc càng nhận ra phần bề sâu của đất đai, của đời sống, của tâm hồn người viết.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Thanh Quang

 

Nhà thơ Nguyễn Thanh Quang
 
 
Sinh ra vào tháng 12 năm Giáp Thìn (1964) tại Thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang (nay là xã Châu Phú, tỉnh An Giang), nhà thơ Nguyễn Thanh Quang có một sự gắn bó máu thịt với mảnh đất này. Giống như cây bút được nuôi dưỡng bởi phù sa, thơ ông mang trong mình cái hồn của đồng bằng Nam Bộ, dung dị, gần gũi nhưng ẩn chứa những suy tư sâu sắc về đời người. Ông là một gương mặt quen thuộc, một người giữ lửa cho đời sống văn học nghệ thuật quê hương, góp phần làm phong phú thêm cho vườn thơ An Giang.

Bước chân vào con đường văn chương từ những năm 90 của thế kỷ trước, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang sớm tìm thấy nhịp điệu tâm hồn của riêng mình. Từ những ngày đầu cầm bút, ông đã lựa chọn cho thơ một lối đi không ồn ã, một lối đi đầy trữ tình, suy nghiệm và thấm đẫm hơi thở nhân sinh miền Tây. Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, thơ ông đã tạo được dấu ấn, lặng lẽ tìm đường đến với độc giả qua nhiều tờ báo, tạp chí uy tín cả trong và ngoài tỉnh. Từ Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), Áo Trắng, Giác Ngộ, đến các tạp chí văn nghệ của những huyện thị quê nhà như Châu Phú, Châu Đốc, Phú Tân…, tiếng thơ của ông luôn xuất hiện như một người bạn thủy chung, kể lại những câu chuyện đời thường mà lại thấm đẫm nỗi buồn nhân thế: chuyện phận người, chuyện quê hương, chuyện những lặng lẽ mà chỉ có thi ca mới cất lời được.

Không chỉ viết, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang còn dành nhiều tâm huyết cho hoạt động hội, một phần quan trọng trong đời sống văn nghệ địa phương. Ông là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang và Hội Văn học Nghệ thuật huyện Châu Phú. Trong nhiều năm, ông đảm nhiệm vai trò Ủy viên Ban Chấp hành Hội VHNT Châu Phú, đồng thời giữ chức Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ Châu Phú. Với ông, đây không chỉ là những chức danh; đó là nơi ông chia sẻ đam mê, kết nối bạn viết, truyền lửa cho những người trẻ và chung tay giữ gìn đời sống văn hóa tinh thần của quê hương.

Những đóng góp lặng lẽ nhưng bền bỉ ấy đã được ghi nhận một cách xứng đáng. Ngày 15/5/2020, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang được trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam”, một dấu mốc khắc ghi hơn ba mươi năm lao động nghệ thuật nghiêm cẩn, một phần thưởng dành cho người đã chọn thi ca như cách để sống, để yêu và để trả nghĩa lại mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn mình.

 

Hai tập thơ Lãng đãng nhân gian và Trao người một đóa vô thường của nhà thơ Nguyễn Thanh Quang - Ảnh: Phan Đạt
 
Phong cách thơ nhẹ mà thấm, sâu mà lắng

Thơ của Nguyễn Thanh Quang mang một vẻ dung dị, mộc mạc, như chính vùng đất An Giang, nơi phù sa bồi đắp, nơi con người hiền hòa, chân chất và bình dị. Nhưng đằng sau sự giản đơn ấy là chiều sâu của tâm tư, của những chiêm nghiệm tinh tế về đời sống và con người. Thơ ông không hề cầu kỳ, không ồn ào, không màu mè; nó lặng lẽ, thấm dần, giống như dòng sông miệt vườn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, thấm vào lòng người bằng sự chân thành và cảm xúc thật.

Những vần thơ của ông không chỉ đi vào những đề tài lớn lao, nhân tình thế thái, kiếp người, quy luật vô thường, mà còn chan chứa những trải nghiệm đời thường: tình yêu quê hương, nỗi nhớ sông nước, những xao xuyến và thăng trầm trong cuộc đời đã đi qua nhiều biến động. Từng câu chữ như được tôi luyện từ những trải nghiệm thật, không hư cấu, không tô vẽ; nhịp điệu câu thơ mềm mại nhưng thấm đượm, vừa đẹp vừa buồn, như lời thủ thỉ kín đáo giữa tác giả và đời sống.

Trong thơ Nguyễn Thanh Quang, hình ảnh thiên nhiên và đời sống thường nhật luôn hòa quyện tinh tế với suy tư nhân sinh, ánh nắng trên mặt ruộng, tiếng mái dầm khuya, dòng nước chảy qua đồng, cánh cò lặng lẽ bay về, tất cả đều trở thành chất liệu thi ca. Nhưng chất liệu ấy không chỉ để miêu tả, mà để phản chiếu cảm xúc, để gửi gắm những trăn trở về cuộc đời, về con người và số phận. Thơ ông "nhẹ mà thấm, đẹp mà buồn", mời gọi người đọc không chỉ thưởng thức âm điệu, hình ảnh mà còn lắng nghe chính nội tâm mình, để tự chiêm nghiệm, tự cảm nhận.

Điều đặc biệt trong phong cách của ông là sự dung hòa giữa sự giản dị và chiều sâu, giữa cảm xúc riêng tư và những suy tư về nhân sinh. Thơ ông vừa là bản ghi của cảm xúc đời thường, vừa là không gian để trăn trở về cuộc sống, để suy tư về nhân tình thế thái và những quy luật vô thường của đời người. Chính sự cân bằng tinh tế này khiến mỗi vần thơ trở nên gần gũi mà vẫn thấm đẫm triết lý, nhẹ nhàng mà vẫn vươn tới những tầng ý nghĩa sâu xa.

Với Nguyễn Thanh Quang, thơ không chỉ là câu chữ, nó là cách ông gửi gắm tâm hồn, ghi nhớ cuộc đời, trao gửi cảm xúc và kết nối với bạn đọc. Những vần thơ của ông, dù dung dị, bình thản, vẫn có sức nặng riêng, khiến người đọc khi lật từng trang lại thấy lòng rung động, thấy mình dừng lại, thấy đời sống trở nên sâu sắc hơn. Nhờ vậy, ông đã xây dựng cho mình một giọng thơ riêng biệt.

Người thơ và những mối duyên

Không chỉ là tiếng thơ riêng lẻ, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang còn có những mối duyên đặc biệt trong đời sống văn nghệ, tiêu biểu là mối quan hệ với nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, người anh rể của ông, một gương mặt lớn trong thi ca Việt Nam. Hành trình nghệ thuật của ông không phải lúc nào cũng trải dài phẳng lặng. Trong một tâm sự, ông từng chia sẻ rằng đã có một giai đoạn, vì những bận rộn của cuộc sống, của công việc và trách nhiệm nuôi dạy con cái, ông đã tạm rời xa những vần thơ, tâm hồn có phần lơ đãng với nghiệp viết. Chính trong thời điểm đó, sự động viên, chỉ bảo và tình cảm thi vị từ nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh để ông quay trở lại với đam mê. Mối quan hệ này vượt ra ngoài khuôn khổ tình cảm gia đình thông thường để trở thành một sự dẫn dắt nghệ thuật sâu sắc. Sự hun đúc ấy không chỉ giúp ông vượt qua giai đoạn trầm lắng mà còn góp phần định hình nên sự trọn vẹn trong đời sống nghệ thuật, hun đúc cho những vần thơ của Nguyễn Thanh Quang thêm phần sâu sắc và thấm đượm nhân sinh.

Với hành trình hơn 30 năm miệt mài với văn chương, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang đã chứng minh một cách thuyết phục về sự kiên trì và niềm đam mê nghiêm túc của mình đối với thi ca. Và chắc chắn rằng, ông sẽ tiếp tục góp phần làm phong phú thêm đời sống văn học nghệ thuật quê hương, giữ gìn và phát huy màu sắc thơ đặc trưng của vùng đất đầy phù sa và nhân nghĩa.

P.T.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm