TIN TỨC

Nguyễn Thanh Quang - Giọng thơ trầm lắng từ miền sông nước An Giang

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-22 20:47:01
mail facebook google pos stwis
527 lượt xem

PHAN THÀNH ĐẠT

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, mỗi vùng đất đều mang trong mình một mạch nguồn riêng, âm thầm mà bền bỉ, lặng lẽ mà dai dẳng như chính nhịp sống của con người nơi đó. Và trong không gian thi ca rộng lớn ấy, An Giang như một miền phù sa bồi đắp bởi nhánh sông Hậu, bởi dãy Thất Sơn thâm u, bởi những cánh đồng lúa bát ngát, bởi mênh mang sóng biển và bởi những phận người chất phác, luôn có một sắc thái thi ca rất riêng. Đó là vẻ đẹp của sự hiền hòa xen chút sắc bén, của nỗi lặng thầm pha chút đa đoan, của những suy tư tưởng như bình dị mà lại chứa cả thẳm sâu nhân thế.

Giữa những giọng thơ ấy, thơ Nguyễn Thanh Quang hiện lên như một tiếng nói bền bỉ và đằm sâu. Thơ ông không ồn ào, không sắc cạnh, không chủ trương gây chú ý, nó giống như một dòng sông lặng lẽ chảy qua những xóm làng, thấm dần vào lòng người bởi sự chân thành và độ lắng của cảm xúc. Ở đó, ta thấy bóng dáng của một người nghệ sĩ “ăn đời ở kiếp” với quê hương, gìn giữ từng nhịp thở của đất trời, từng chuyển động rất nhỏ của đời sống, để rồi kết tinh lại thành những vần thơ mộc mạc mà thấm đượm triết lý nhân sinh.

Với Nguyễn Thanh Quang, thi ca không phải là chiếc áo khoác để phô bày hay là một cuộc dạo chơi nhất thời. Thi ca là cách ông ghi nhớ cuộc đời, là cách ông trò chuyện với chính mình và với những phận người đã đi ngang tuổi trẻ, tuổi nghề. Từ vệt nắng trên mặt ruộng, tiếng mái dầm khuya, cho đến nỗi bất trắc và vô thường lẩn khuất trong đời sống, tất cả đều đi vào thơ ông một cách tự nhiên, dịu nhẹ mà đầy thi vị.

Trên hành trình sáng tạo ấy, ông đã lặng lẽ vun trồng một đời thơ bằng sự chân tình, bằng lòng thủy chung với màu đất quê, và bằng khát vọng gửi lại cho đời những câu thơ biết xoa dịu, biết sẻ chia, biết nhắc con người thương nhau hơn giữa những bề bộn, đa đoan của kiếp người. Bởi thế, trong dòng chảy thi ca An Giang nói riêng và văn học Nam Bộ nói chung, thơ Nguyễn Thanh Quang là một trong những giọng thơ mang lại cảm giác vừa gần gũi vừa sâu xa, một giọng thơ mà càng đọc càng nhận ra phần bề sâu của đất đai, của đời sống, của tâm hồn người viết.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Thanh Quang

 

Nhà thơ Nguyễn Thanh Quang
 
 
Sinh ra vào tháng 12 năm Giáp Thìn (1964) tại Thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang (nay là xã Châu Phú, tỉnh An Giang), nhà thơ Nguyễn Thanh Quang có một sự gắn bó máu thịt với mảnh đất này. Giống như cây bút được nuôi dưỡng bởi phù sa, thơ ông mang trong mình cái hồn của đồng bằng Nam Bộ, dung dị, gần gũi nhưng ẩn chứa những suy tư sâu sắc về đời người. Ông là một gương mặt quen thuộc, một người giữ lửa cho đời sống văn học nghệ thuật quê hương, góp phần làm phong phú thêm cho vườn thơ An Giang.

Bước chân vào con đường văn chương từ những năm 90 của thế kỷ trước, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang sớm tìm thấy nhịp điệu tâm hồn của riêng mình. Từ những ngày đầu cầm bút, ông đã lựa chọn cho thơ một lối đi không ồn ã, một lối đi đầy trữ tình, suy nghiệm và thấm đẫm hơi thở nhân sinh miền Tây. Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, thơ ông đã tạo được dấu ấn, lặng lẽ tìm đường đến với độc giả qua nhiều tờ báo, tạp chí uy tín cả trong và ngoài tỉnh. Từ Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), Áo Trắng, Giác Ngộ, đến các tạp chí văn nghệ của những huyện thị quê nhà như Châu Phú, Châu Đốc, Phú Tân…, tiếng thơ của ông luôn xuất hiện như một người bạn thủy chung, kể lại những câu chuyện đời thường mà lại thấm đẫm nỗi buồn nhân thế: chuyện phận người, chuyện quê hương, chuyện những lặng lẽ mà chỉ có thi ca mới cất lời được.

Không chỉ viết, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang còn dành nhiều tâm huyết cho hoạt động hội, một phần quan trọng trong đời sống văn nghệ địa phương. Ông là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang và Hội Văn học Nghệ thuật huyện Châu Phú. Trong nhiều năm, ông đảm nhiệm vai trò Ủy viên Ban Chấp hành Hội VHNT Châu Phú, đồng thời giữ chức Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ Châu Phú. Với ông, đây không chỉ là những chức danh; đó là nơi ông chia sẻ đam mê, kết nối bạn viết, truyền lửa cho những người trẻ và chung tay giữ gìn đời sống văn hóa tinh thần của quê hương.

Những đóng góp lặng lẽ nhưng bền bỉ ấy đã được ghi nhận một cách xứng đáng. Ngày 15/5/2020, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang được trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam”, một dấu mốc khắc ghi hơn ba mươi năm lao động nghệ thuật nghiêm cẩn, một phần thưởng dành cho người đã chọn thi ca như cách để sống, để yêu và để trả nghĩa lại mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn mình.

 

Hai tập thơ Lãng đãng nhân gian và Trao người một đóa vô thường của nhà thơ Nguyễn Thanh Quang - Ảnh: Phan Đạt
 
Phong cách thơ nhẹ mà thấm, sâu mà lắng

Thơ của Nguyễn Thanh Quang mang một vẻ dung dị, mộc mạc, như chính vùng đất An Giang, nơi phù sa bồi đắp, nơi con người hiền hòa, chân chất và bình dị. Nhưng đằng sau sự giản đơn ấy là chiều sâu của tâm tư, của những chiêm nghiệm tinh tế về đời sống và con người. Thơ ông không hề cầu kỳ, không ồn ào, không màu mè; nó lặng lẽ, thấm dần, giống như dòng sông miệt vườn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, thấm vào lòng người bằng sự chân thành và cảm xúc thật.

Những vần thơ của ông không chỉ đi vào những đề tài lớn lao, nhân tình thế thái, kiếp người, quy luật vô thường, mà còn chan chứa những trải nghiệm đời thường: tình yêu quê hương, nỗi nhớ sông nước, những xao xuyến và thăng trầm trong cuộc đời đã đi qua nhiều biến động. Từng câu chữ như được tôi luyện từ những trải nghiệm thật, không hư cấu, không tô vẽ; nhịp điệu câu thơ mềm mại nhưng thấm đượm, vừa đẹp vừa buồn, như lời thủ thỉ kín đáo giữa tác giả và đời sống.

Trong thơ Nguyễn Thanh Quang, hình ảnh thiên nhiên và đời sống thường nhật luôn hòa quyện tinh tế với suy tư nhân sinh, ánh nắng trên mặt ruộng, tiếng mái dầm khuya, dòng nước chảy qua đồng, cánh cò lặng lẽ bay về, tất cả đều trở thành chất liệu thi ca. Nhưng chất liệu ấy không chỉ để miêu tả, mà để phản chiếu cảm xúc, để gửi gắm những trăn trở về cuộc đời, về con người và số phận. Thơ ông "nhẹ mà thấm, đẹp mà buồn", mời gọi người đọc không chỉ thưởng thức âm điệu, hình ảnh mà còn lắng nghe chính nội tâm mình, để tự chiêm nghiệm, tự cảm nhận.

Điều đặc biệt trong phong cách của ông là sự dung hòa giữa sự giản dị và chiều sâu, giữa cảm xúc riêng tư và những suy tư về nhân sinh. Thơ ông vừa là bản ghi của cảm xúc đời thường, vừa là không gian để trăn trở về cuộc sống, để suy tư về nhân tình thế thái và những quy luật vô thường của đời người. Chính sự cân bằng tinh tế này khiến mỗi vần thơ trở nên gần gũi mà vẫn thấm đẫm triết lý, nhẹ nhàng mà vẫn vươn tới những tầng ý nghĩa sâu xa.

Với Nguyễn Thanh Quang, thơ không chỉ là câu chữ, nó là cách ông gửi gắm tâm hồn, ghi nhớ cuộc đời, trao gửi cảm xúc và kết nối với bạn đọc. Những vần thơ của ông, dù dung dị, bình thản, vẫn có sức nặng riêng, khiến người đọc khi lật từng trang lại thấy lòng rung động, thấy mình dừng lại, thấy đời sống trở nên sâu sắc hơn. Nhờ vậy, ông đã xây dựng cho mình một giọng thơ riêng biệt.

Người thơ và những mối duyên

Không chỉ là tiếng thơ riêng lẻ, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang còn có những mối duyên đặc biệt trong đời sống văn nghệ, tiêu biểu là mối quan hệ với nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, người anh rể của ông, một gương mặt lớn trong thi ca Việt Nam. Hành trình nghệ thuật của ông không phải lúc nào cũng trải dài phẳng lặng. Trong một tâm sự, ông từng chia sẻ rằng đã có một giai đoạn, vì những bận rộn của cuộc sống, của công việc và trách nhiệm nuôi dạy con cái, ông đã tạm rời xa những vần thơ, tâm hồn có phần lơ đãng với nghiệp viết. Chính trong thời điểm đó, sự động viên, chỉ bảo và tình cảm thi vị từ nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh để ông quay trở lại với đam mê. Mối quan hệ này vượt ra ngoài khuôn khổ tình cảm gia đình thông thường để trở thành một sự dẫn dắt nghệ thuật sâu sắc. Sự hun đúc ấy không chỉ giúp ông vượt qua giai đoạn trầm lắng mà còn góp phần định hình nên sự trọn vẹn trong đời sống nghệ thuật, hun đúc cho những vần thơ của Nguyễn Thanh Quang thêm phần sâu sắc và thấm đượm nhân sinh.

Với hành trình hơn 30 năm miệt mài với văn chương, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang đã chứng minh một cách thuyết phục về sự kiên trì và niềm đam mê nghiêm túc của mình đối với thi ca. Và chắc chắn rằng, ông sẽ tiếp tục góp phần làm phong phú thêm đời sống văn học nghệ thuật quê hương, giữ gìn và phát huy màu sắc thơ đặc trưng của vùng đất đầy phù sa và nhân nghĩa.

P.T.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm