TIN TỨC

Nguyễn Thanh Quang - Giọng thơ trầm lắng từ miền sông nước An Giang

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-22 20:47:01
mail facebook google pos stwis
637 lượt xem

PHAN THÀNH ĐẠT

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, mỗi vùng đất đều mang trong mình một mạch nguồn riêng, âm thầm mà bền bỉ, lặng lẽ mà dai dẳng như chính nhịp sống của con người nơi đó. Và trong không gian thi ca rộng lớn ấy, An Giang như một miền phù sa bồi đắp bởi nhánh sông Hậu, bởi dãy Thất Sơn thâm u, bởi những cánh đồng lúa bát ngát, bởi mênh mang sóng biển và bởi những phận người chất phác, luôn có một sắc thái thi ca rất riêng. Đó là vẻ đẹp của sự hiền hòa xen chút sắc bén, của nỗi lặng thầm pha chút đa đoan, của những suy tư tưởng như bình dị mà lại chứa cả thẳm sâu nhân thế.

Giữa những giọng thơ ấy, thơ Nguyễn Thanh Quang hiện lên như một tiếng nói bền bỉ và đằm sâu. Thơ ông không ồn ào, không sắc cạnh, không chủ trương gây chú ý, nó giống như một dòng sông lặng lẽ chảy qua những xóm làng, thấm dần vào lòng người bởi sự chân thành và độ lắng của cảm xúc. Ở đó, ta thấy bóng dáng của một người nghệ sĩ “ăn đời ở kiếp” với quê hương, gìn giữ từng nhịp thở của đất trời, từng chuyển động rất nhỏ của đời sống, để rồi kết tinh lại thành những vần thơ mộc mạc mà thấm đượm triết lý nhân sinh.

Với Nguyễn Thanh Quang, thi ca không phải là chiếc áo khoác để phô bày hay là một cuộc dạo chơi nhất thời. Thi ca là cách ông ghi nhớ cuộc đời, là cách ông trò chuyện với chính mình và với những phận người đã đi ngang tuổi trẻ, tuổi nghề. Từ vệt nắng trên mặt ruộng, tiếng mái dầm khuya, cho đến nỗi bất trắc và vô thường lẩn khuất trong đời sống, tất cả đều đi vào thơ ông một cách tự nhiên, dịu nhẹ mà đầy thi vị.

Trên hành trình sáng tạo ấy, ông đã lặng lẽ vun trồng một đời thơ bằng sự chân tình, bằng lòng thủy chung với màu đất quê, và bằng khát vọng gửi lại cho đời những câu thơ biết xoa dịu, biết sẻ chia, biết nhắc con người thương nhau hơn giữa những bề bộn, đa đoan của kiếp người. Bởi thế, trong dòng chảy thi ca An Giang nói riêng và văn học Nam Bộ nói chung, thơ Nguyễn Thanh Quang là một trong những giọng thơ mang lại cảm giác vừa gần gũi vừa sâu xa, một giọng thơ mà càng đọc càng nhận ra phần bề sâu của đất đai, của đời sống, của tâm hồn người viết.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Thanh Quang

 

Nhà thơ Nguyễn Thanh Quang
 
 
Sinh ra vào tháng 12 năm Giáp Thìn (1964) tại Thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang (nay là xã Châu Phú, tỉnh An Giang), nhà thơ Nguyễn Thanh Quang có một sự gắn bó máu thịt với mảnh đất này. Giống như cây bút được nuôi dưỡng bởi phù sa, thơ ông mang trong mình cái hồn của đồng bằng Nam Bộ, dung dị, gần gũi nhưng ẩn chứa những suy tư sâu sắc về đời người. Ông là một gương mặt quen thuộc, một người giữ lửa cho đời sống văn học nghệ thuật quê hương, góp phần làm phong phú thêm cho vườn thơ An Giang.

Bước chân vào con đường văn chương từ những năm 90 của thế kỷ trước, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang sớm tìm thấy nhịp điệu tâm hồn của riêng mình. Từ những ngày đầu cầm bút, ông đã lựa chọn cho thơ một lối đi không ồn ã, một lối đi đầy trữ tình, suy nghiệm và thấm đẫm hơi thở nhân sinh miền Tây. Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, thơ ông đã tạo được dấu ấn, lặng lẽ tìm đường đến với độc giả qua nhiều tờ báo, tạp chí uy tín cả trong và ngoài tỉnh. Từ Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), Áo Trắng, Giác Ngộ, đến các tạp chí văn nghệ của những huyện thị quê nhà như Châu Phú, Châu Đốc, Phú Tân…, tiếng thơ của ông luôn xuất hiện như một người bạn thủy chung, kể lại những câu chuyện đời thường mà lại thấm đẫm nỗi buồn nhân thế: chuyện phận người, chuyện quê hương, chuyện những lặng lẽ mà chỉ có thi ca mới cất lời được.

Không chỉ viết, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang còn dành nhiều tâm huyết cho hoạt động hội, một phần quan trọng trong đời sống văn nghệ địa phương. Ông là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang và Hội Văn học Nghệ thuật huyện Châu Phú. Trong nhiều năm, ông đảm nhiệm vai trò Ủy viên Ban Chấp hành Hội VHNT Châu Phú, đồng thời giữ chức Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ Châu Phú. Với ông, đây không chỉ là những chức danh; đó là nơi ông chia sẻ đam mê, kết nối bạn viết, truyền lửa cho những người trẻ và chung tay giữ gìn đời sống văn hóa tinh thần của quê hương.

Những đóng góp lặng lẽ nhưng bền bỉ ấy đã được ghi nhận một cách xứng đáng. Ngày 15/5/2020, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang được trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam”, một dấu mốc khắc ghi hơn ba mươi năm lao động nghệ thuật nghiêm cẩn, một phần thưởng dành cho người đã chọn thi ca như cách để sống, để yêu và để trả nghĩa lại mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn mình.

 

Hai tập thơ Lãng đãng nhân gian và Trao người một đóa vô thường của nhà thơ Nguyễn Thanh Quang - Ảnh: Phan Đạt
 
Phong cách thơ nhẹ mà thấm, sâu mà lắng

Thơ của Nguyễn Thanh Quang mang một vẻ dung dị, mộc mạc, như chính vùng đất An Giang, nơi phù sa bồi đắp, nơi con người hiền hòa, chân chất và bình dị. Nhưng đằng sau sự giản đơn ấy là chiều sâu của tâm tư, của những chiêm nghiệm tinh tế về đời sống và con người. Thơ ông không hề cầu kỳ, không ồn ào, không màu mè; nó lặng lẽ, thấm dần, giống như dòng sông miệt vườn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, thấm vào lòng người bằng sự chân thành và cảm xúc thật.

Những vần thơ của ông không chỉ đi vào những đề tài lớn lao, nhân tình thế thái, kiếp người, quy luật vô thường, mà còn chan chứa những trải nghiệm đời thường: tình yêu quê hương, nỗi nhớ sông nước, những xao xuyến và thăng trầm trong cuộc đời đã đi qua nhiều biến động. Từng câu chữ như được tôi luyện từ những trải nghiệm thật, không hư cấu, không tô vẽ; nhịp điệu câu thơ mềm mại nhưng thấm đượm, vừa đẹp vừa buồn, như lời thủ thỉ kín đáo giữa tác giả và đời sống.

Trong thơ Nguyễn Thanh Quang, hình ảnh thiên nhiên và đời sống thường nhật luôn hòa quyện tinh tế với suy tư nhân sinh, ánh nắng trên mặt ruộng, tiếng mái dầm khuya, dòng nước chảy qua đồng, cánh cò lặng lẽ bay về, tất cả đều trở thành chất liệu thi ca. Nhưng chất liệu ấy không chỉ để miêu tả, mà để phản chiếu cảm xúc, để gửi gắm những trăn trở về cuộc đời, về con người và số phận. Thơ ông "nhẹ mà thấm, đẹp mà buồn", mời gọi người đọc không chỉ thưởng thức âm điệu, hình ảnh mà còn lắng nghe chính nội tâm mình, để tự chiêm nghiệm, tự cảm nhận.

Điều đặc biệt trong phong cách của ông là sự dung hòa giữa sự giản dị và chiều sâu, giữa cảm xúc riêng tư và những suy tư về nhân sinh. Thơ ông vừa là bản ghi của cảm xúc đời thường, vừa là không gian để trăn trở về cuộc sống, để suy tư về nhân tình thế thái và những quy luật vô thường của đời người. Chính sự cân bằng tinh tế này khiến mỗi vần thơ trở nên gần gũi mà vẫn thấm đẫm triết lý, nhẹ nhàng mà vẫn vươn tới những tầng ý nghĩa sâu xa.

Với Nguyễn Thanh Quang, thơ không chỉ là câu chữ, nó là cách ông gửi gắm tâm hồn, ghi nhớ cuộc đời, trao gửi cảm xúc và kết nối với bạn đọc. Những vần thơ của ông, dù dung dị, bình thản, vẫn có sức nặng riêng, khiến người đọc khi lật từng trang lại thấy lòng rung động, thấy mình dừng lại, thấy đời sống trở nên sâu sắc hơn. Nhờ vậy, ông đã xây dựng cho mình một giọng thơ riêng biệt.

Người thơ và những mối duyên

Không chỉ là tiếng thơ riêng lẻ, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang còn có những mối duyên đặc biệt trong đời sống văn nghệ, tiêu biểu là mối quan hệ với nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, người anh rể của ông, một gương mặt lớn trong thi ca Việt Nam. Hành trình nghệ thuật của ông không phải lúc nào cũng trải dài phẳng lặng. Trong một tâm sự, ông từng chia sẻ rằng đã có một giai đoạn, vì những bận rộn của cuộc sống, của công việc và trách nhiệm nuôi dạy con cái, ông đã tạm rời xa những vần thơ, tâm hồn có phần lơ đãng với nghiệp viết. Chính trong thời điểm đó, sự động viên, chỉ bảo và tình cảm thi vị từ nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh để ông quay trở lại với đam mê. Mối quan hệ này vượt ra ngoài khuôn khổ tình cảm gia đình thông thường để trở thành một sự dẫn dắt nghệ thuật sâu sắc. Sự hun đúc ấy không chỉ giúp ông vượt qua giai đoạn trầm lắng mà còn góp phần định hình nên sự trọn vẹn trong đời sống nghệ thuật, hun đúc cho những vần thơ của Nguyễn Thanh Quang thêm phần sâu sắc và thấm đượm nhân sinh.

Với hành trình hơn 30 năm miệt mài với văn chương, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang đã chứng minh một cách thuyết phục về sự kiên trì và niềm đam mê nghiêm túc của mình đối với thi ca. Và chắc chắn rằng, ông sẽ tiếp tục góp phần làm phong phú thêm đời sống văn học nghệ thuật quê hương, giữ gìn và phát huy màu sắc thơ đặc trưng của vùng đất đầy phù sa và nhân nghĩa.

P.T.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm