TIN TỨC

Nguyễn Vũ Quỳnh người hát lời quê hương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-22 15:51:08
mail facebook google pos stwis
2072 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG
(Đọc tập thơ  Ru lại lời quê của Nguyễn Vũ Quỳnh)

Nguyễn Vũ Quỳnh thuộc thế hệ thanh niên dấn thân yêu đời từ con nhà nông cầm súng ra trận trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Thời bình trở lại, anh rũ bụi khói chiến trường về lại giảng đường, về với cánh đồng văn, ruộng báo vẫn trong màu áo nhà binh. Anh đã giã từ quê hương tuổi thơ, mẹ già và bao nhiêu ước mơ đầu đời để lên đường ra trận, dạn dày với nắng gió trong đạn bom vẫn lạc quan dan díu với thơ: Tổ quốc ơi tiếng ru hời/ Vẫn vang vọng đến cổng trời Trường Sơn. (Tiếng thơ trên đèo Phu La nhích). Tuổi trẻ của Nguyễn Vũ Quỳnh vượt qua bao nhiêu gian khó thăng trầm, bụi thời gian đã hóa trầm tích trên màu quân phục.

Ngày về trong thanh bình, người lính lại phải tồn tại trong một môi trường sống khác đó là áo cơm, tình yêu, hạnh phúc cho bản thân, tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước quê hương. Hành trình này cũng vô cùng khó khăn không kém thời chinh chiến. Có lẽ ngày lên đường xa quê Nguyễn Vũ Quỳnh đã thầm gieo những hạt thơ xuống cánh đồng quê hương tuổi thơ, mảnh vườn yêu dấu mưa nắng quê nhà. Do vậy mà ngày về những câu thơ đã bật mầm ký ức nở ra hoa thơm trái ngọt dâng tặng quê hương bởi tình quê luôn đau đáu và thường trực trong tâm hồn anh.

Trên hành trình cơm áo những trải nghiệm cuộc đời, những đa đoan thiên hạ càng làm cho anh thương nhớ về quê hương “Bao nhiêu ngần ấy với quê /Vẫn thao thức mãi ngày về đêm nay / Năm xưa Mẹ nhặt tháng ngày / Cõng đời con nặng luống cày chân đê” (Tự tình với quê). Cái hồn quê đã nhập vào anh và anh đã biết đời mình chưa thấm vào đâu với mái ngói đình làng đã trầm tích thời gian. Phải chăng anh muốn níu lại hồn quá khứ để mà thao thức, để mà nhớ thương, để mà tưởng niệm: “Bao nhiêu phiên khúc đời mình / Chưa bằng đời ngói sân đình làng tôi” (Tự tình với quê). Nếu cái cảnh quê đã đã quyến luyến anh đến thế thì cái tình quê lại rạo rực trái tim anh “Người dưng nay đã đưa nôi / Vẫn còn khất mãi một lời hát xưa / Vẫn tà áo trắng trong mưa / Để em hát lại lời xưa ấy mà”. Đó là những khổ thơ mở cửa cho ta đi vào vườn thơ trữ tình của Nguyễn Vũ Quỳnh. Lang thang trong “Tình tự với quê” của nhà thơ, tôi đã bắt gặp những bà mẹ tảo tần, những người cha sương nắng, những người quê thật thà như lúa, như khoai. Ta bắt gặp tuổi thơ hồn nhiên dậy thì tinh khiết như hương hoa cải. Những ngọn rau rừng Trường Sơn, những hình ảnh cô gái thanh niên xung phong, anh bộ đội đi trong lửa đạn, những con đường ra trận gian khổ một thời. Tất cả đều gắn bó hữu cơ máu thịt với cánh đồng làng mà ra hôm nay nơi ký ức vẫn tươi xanh, dấu ấn bao đời của văn minh lúa nước. Phép nhân hóa của nhà thơ đã thi vị biết bao khi ta bắt gặp hình tượng cánh đồng và người quê nói chuyện với nhau, chất vấn và trả lời với nhau. “Chưa biết lẽ đời, chưa hiểu hết nhà nông/ Một nắng hai sương cánh đồng làng, xóm/ Lam lũ nhọc nhằn bàn tay như mắt khóm/ Cãi nhau với cả thời gian/ Chất vấn được mất cánh đồng/ …” (Chất vấn cánh đồng), đây cũng là những ý lạ trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh đã làm sống động lại cảnh quê, nhất là trong nhịp độ đô thị hóa ngày nay, không khéo “đi xa mất chỗ trở về.” Những âm thanh vừa lạ, vừa quen vang lên đâu đây làm cho không gian thơ Nguyễn Vũ Quỳnh lưu chuyển những luồng sinh khí mới như: Tiếng cãi nhau với thời gian. Tiếng chất vấn cánh đồng. Tiếng gió bay của khói lam chiều. Tiếng võng đưa. Tiếng trống trường. Tiếng tắc kè. Tiếng thì thầm của con song, con suối. Còn nhiều thứ tiếng nữa mà càng cảm nhận ta sẽ bắt gặp cái hay ở đó. Những câu thơ viết trên ngọn rau rừng, thơm lừng hương sắc. Những cô gái Thanh Niên Xung Phong mười tám đôi mươi trên đường ra trận: “Nơi bom đạn chiến tranh/ Ở Trường Sơn giữa hai đầu trận đánh/ Em đi hái rau rừng/ Ngọn lá tàu bay non quá /Sau mưa dầm vắt bung lên cành lá/ Búng vào khoảng lặng miên man”. Cái xao xuyến bất ngờ của tuổi thành niên trong giây phút đã nhường lại cho tinh thần ra trận hôm nay: “Anh ngắt lá mua … em đừng sợ vắt/ Vòm ngực trần long lanh ánh mắt/Hồi hộp đầu đời người ra trận hôm nay”. Dấu ấn Trường Sơn với những người lính trẻ chẳng bao giờ quên được bởi đó là những kỷ niệm sâu sắc: “Đakrông lạnh lắm suốt mùa Đông/ Em xuống tắm cả dòng sông nổi nóng/ Hoa ven bờ cũng thầm ghen bóng/ Nụ em hồng của ngà ngọc Mẹ cho/ Đời lính đi qua dốc Khỉ, đèo Ho/ Chỉ áo xuân hè với vành mũ cối/ Tiếng phập phồng con tim bối rối/ Lúc nữa khuya xoa ngực bỗng bật cười” (Trường Sơn gửi lại mai sau),“Em xuống tắm cả dòng sông nổi nóng”.“Lúc nửa khuya xoa ngực bỗng bật cười.” Hình tượng đẹp quá, giàu chất thơ, làm ta xao xuyến lâng lâng. Đó là những phát hiện rất riêng mà lung linh đẹp như bài ca người lính.

Thường thì ta xa nhà chứ đâu phải nhà xa ta, bởi vì nhà đã gắn liền trên quê cha đất tổ, do vậy ai đi đâu cũng muốn về nhà. Hình ảnh của người Mẹ luôn luôn gắn liền với nhà nên khi ta nhớ nhà là nhớ tất cả, nỗi nhớ nhà đã đi vào thi ca tự ngàn xưa và bây giờ Nguyễn Vũ Quỳnh dù có đi đâu rồi cũng muốn về ngã vào lòng Mẹ để tìm lại lời ru, tìm lại thời thơ ấu tuổi thần tiên: “Con không thể quên muối mặn gừng cay/ Dù ở nơi đâu cuộc sống có vơi đầy/ Con vẫn mong về vui vầy bên Mẹ/ Ngủ nhà mình nghe Mẹ kể chuyện xưa”(Viết lại lời quê). Nguyễn Vũ Quỳnh đi nhiều, giàu trải nghiêm, giàu chất sống, những bước chân lãng du thi ca qua nhiều miền đất nước. Do vậy anh đã chọn cách nói biểu cảm của thi nhân và nhịp điệu khác nhau cho thơ mình khi thì nhanh trong như sông nước miền Trung mùa khô, khi thì chậm ngọt như sông nước Cửu Long. Thơ anh khi thì nhẹ nhàng như mây bay gió thoảng và dồn dập như mưa đại ngàn Trường Sơn, khi thì nhịp quân hành. Cách chọn đa đề tài, nhiều cách thể hiện, làm phong phú nội dung ngôn ngữ thơ thật thà dí dỏm mà bay bổng sâu lắng, đọng mãi trong lòng người. Nơi đâu Nguyễn Vũ Quỳnh đã qua anh đều để lại những cảm xúc rất riêng của mình và nơi địa đầu Tổ Quốc anh cảm nhận: “Lên Lũng Cú nói những điều mong ước/ Kịp chào cờ Tổ Quốc buổi ban mai/ Nghe tiếng khèn đường xa em chẳng ngại/ Rượu ngô say mềm ngẫu hứng những chàng trai…Bông hoa rừng những phút giây bối rối/ Nhưng chưa nơi nào đẹp như em hôm nay” (Em đẹp nhất hôm nay). Ra tới Trường Sa nơi biển đảo thiêng liêng của Tổ Quốc, nơi muôn trùng sóng gió anh viết: “Ở đảo Sinh Tồn khi bình minh lên/ Là nỗi nhớ hòa vào với biển/ Nơi ngày đêm đã hóa thành kỷ niệm/ Nghe Hương thầm tiếng hát giữa trùng khơi” (Mai em về Trường Sa)

 Trong Ru lại lời quê anh có nhiều bài viết về quê hương đất nước nhưng tựu trung ở tập thơ này anh muốn nói với những người xa làng quê về phố, những người đi xa Tổ quốc bằng bài thơ, lời thơ nhắn gửi: Về nơi tiếng trống sân trường ngày xưa bắt đầu bằng từ Về. Để: “Về nơi đàn sếu đàn giang/ Liệng qua đồng lúa, nghiêng sang sườn đồi/ Về nhé em, về đi thôi/ Về quê lên đỉnh bồi hồi gặp xưa” và trong bài: Thương miền quê xa, với bốn mươi hai câu thơ thì trong bài với ba mươi chín từ đầu câu thơ bắt nguồn bằng từ Quê: “Quê trong Ví dặm lứa đôi/ Quê làng Quan họ người ơi đừng về/ Quê nơi vuông chiếu chú hề/ Quê làn chèo cổ, đình quê hội làng/ Quê câu Dạ cổ hoài lang/ Quê bao vất vả bên hàng dừa xanh/ Quê nơi gương vỡ lại lành/ Quê cánh cò lã ru thành lời ca/ và cuối cùng: Về quê cộng với người ta/ Vẫn là hai đứa thành ra chúng mình”. Viết những vần thơ như vậy dễ nhớ, dễ thương mà thấm thía gần gủi với quê. Với hai mươi bốn câu thơ bắt đầu bằng từ về đầu tiên: “Về đi em giữa yêu thương/Về nơi tiếng tróng sân trường ngày xưa và cuối cùng là: Về đi em, về đi thôi/ Về quê trên đỉnh bồi hồi gặp xưa” như đã dục giã bước chân tha hương ai mà không muốn trở về cho ta thấy quê hương nghĩa nặng biết bao nhiêu. Những câu thơ sâu lắng ân tình mà nhà thơ đã tạo dựng nên thi ảnh nghệ thuật khúc chiết như vậy làm người đọc cảm thấy bâng khuâng.

 Nhà thơ Cựu chiến binh Nguyễn Vũ Quỳnh có những câu thơ bảng lãng mà rung động con tim khi tìm thăm đồng đội trên nghĩa trang Liệt sĩ như kết nối giữa chiến tranh và hòa bình, tỏ rõ lòng biết ơn, tri ân những người nằm xuống cho đất nước đứng lên, cho hòa bình lập lại, không có sự mất mát nào ở nước ta lớn hơn thế nữa : “Đồng đội ơi sao chúng mày nghiêm thế/ Cứ mãi xếp hàng không chịu tản ra/ Khi còn sống đã xếp hàng đều đặn /Hy sinh rồi hàng vẫn xếp thẳng ngay… và: Đồng đội ơi chúng ta chẳng đứa nào mà không có tên/ Khi điểm danh đứa nào cũng có/ Lúc ngã xuống trong bom rơi đạn nổ? Trên mộ phần tên người có người không”. Nỗi đau chiến tranh còn đọng đến bây giờ, Nguyễn Vũ Quỳnh đã khơi dòng cảm xúc, nơi các đồng đội từng một thời ra trận đã ngã xuống không trở về với Mẹ, đau xót mà nghẹn ngào có phải thế không hỡi những người còn sống: “Chiều Trường Sơn nhè nhẹ khói hương thơm / Nơi đồng đội tôi đang tập hợp trở về/ Đã cùng nhau chung mười lời thề/ Giữ non nước này cho Tổ Quốc bình yên”. Hố bom có thể được lấp đầy thành đồng ruộng, mọi thứ đổ nát có thể xây dựng lại nhưng con người đã mất đi thì không thể nào sống lại, do vậy việc đền ơn đáp nghĩa phải luôn luôn được quan tâm trong suốt chiều dài lịch sử, không thể có giây phút nào quên.

Nguyễn Vũ Quỳnh luôn luôn trăn trở nhớ thương đồng đội, những kỷ niệm quê hương, những rung cảm đầu đời, những lời ru của Mẹ, những thay đổi đến chóng mặt trong tiến trình đô thị hóa, tất cả đã làm nên chất liệu cho thơ anh nhẹ nhàng mà sâu lắng, ấm áp nhưng không thiếu những khoảng lặng hiện thực cuộc sống nhưng không thiếu những ảo điệu xuyến xao. Ngày nay ta đi trong phố bỗng nhiên gặp những chiếc cổng làng giữa đô thị thanh bình với bao vết tích chiến tranh, do vậy Nguyễn Vũ Quỳnh còn giàu vốn liếng để viết về đô thị ngày xưa và hôm nay. Tôi tin rằng trong những tập tới anh còn viết về quê hương đất nước và con người mới mẻ hơn. Nguyễn Vũ Quỳnh đang vẫy gọi chúng ta vào vườn thơ trữ tình của anh để thấm thía thi vị đời sống thơ anh.

TP. HCM, ngày 5 tháng 3 năm 2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm