TIN TỨC

Nguyễn Vũ Quỳnh người hát lời quê hương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-22 15:51:08
mail facebook google pos stwis
1714 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG
(Đọc tập thơ  Ru lại lời quê của Nguyễn Vũ Quỳnh)

Nguyễn Vũ Quỳnh thuộc thế hệ thanh niên dấn thân yêu đời từ con nhà nông cầm súng ra trận trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Thời bình trở lại, anh rũ bụi khói chiến trường về lại giảng đường, về với cánh đồng văn, ruộng báo vẫn trong màu áo nhà binh. Anh đã giã từ quê hương tuổi thơ, mẹ già và bao nhiêu ước mơ đầu đời để lên đường ra trận, dạn dày với nắng gió trong đạn bom vẫn lạc quan dan díu với thơ: Tổ quốc ơi tiếng ru hời/ Vẫn vang vọng đến cổng trời Trường Sơn. (Tiếng thơ trên đèo Phu La nhích). Tuổi trẻ của Nguyễn Vũ Quỳnh vượt qua bao nhiêu gian khó thăng trầm, bụi thời gian đã hóa trầm tích trên màu quân phục.

Ngày về trong thanh bình, người lính lại phải tồn tại trong một môi trường sống khác đó là áo cơm, tình yêu, hạnh phúc cho bản thân, tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước quê hương. Hành trình này cũng vô cùng khó khăn không kém thời chinh chiến. Có lẽ ngày lên đường xa quê Nguyễn Vũ Quỳnh đã thầm gieo những hạt thơ xuống cánh đồng quê hương tuổi thơ, mảnh vườn yêu dấu mưa nắng quê nhà. Do vậy mà ngày về những câu thơ đã bật mầm ký ức nở ra hoa thơm trái ngọt dâng tặng quê hương bởi tình quê luôn đau đáu và thường trực trong tâm hồn anh.

Trên hành trình cơm áo những trải nghiệm cuộc đời, những đa đoan thiên hạ càng làm cho anh thương nhớ về quê hương “Bao nhiêu ngần ấy với quê /Vẫn thao thức mãi ngày về đêm nay / Năm xưa Mẹ nhặt tháng ngày / Cõng đời con nặng luống cày chân đê” (Tự tình với quê). Cái hồn quê đã nhập vào anh và anh đã biết đời mình chưa thấm vào đâu với mái ngói đình làng đã trầm tích thời gian. Phải chăng anh muốn níu lại hồn quá khứ để mà thao thức, để mà nhớ thương, để mà tưởng niệm: “Bao nhiêu phiên khúc đời mình / Chưa bằng đời ngói sân đình làng tôi” (Tự tình với quê). Nếu cái cảnh quê đã đã quyến luyến anh đến thế thì cái tình quê lại rạo rực trái tim anh “Người dưng nay đã đưa nôi / Vẫn còn khất mãi một lời hát xưa / Vẫn tà áo trắng trong mưa / Để em hát lại lời xưa ấy mà”. Đó là những khổ thơ mở cửa cho ta đi vào vườn thơ trữ tình của Nguyễn Vũ Quỳnh. Lang thang trong “Tình tự với quê” của nhà thơ, tôi đã bắt gặp những bà mẹ tảo tần, những người cha sương nắng, những người quê thật thà như lúa, như khoai. Ta bắt gặp tuổi thơ hồn nhiên dậy thì tinh khiết như hương hoa cải. Những ngọn rau rừng Trường Sơn, những hình ảnh cô gái thanh niên xung phong, anh bộ đội đi trong lửa đạn, những con đường ra trận gian khổ một thời. Tất cả đều gắn bó hữu cơ máu thịt với cánh đồng làng mà ra hôm nay nơi ký ức vẫn tươi xanh, dấu ấn bao đời của văn minh lúa nước. Phép nhân hóa của nhà thơ đã thi vị biết bao khi ta bắt gặp hình tượng cánh đồng và người quê nói chuyện với nhau, chất vấn và trả lời với nhau. “Chưa biết lẽ đời, chưa hiểu hết nhà nông/ Một nắng hai sương cánh đồng làng, xóm/ Lam lũ nhọc nhằn bàn tay như mắt khóm/ Cãi nhau với cả thời gian/ Chất vấn được mất cánh đồng/ …” (Chất vấn cánh đồng), đây cũng là những ý lạ trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh đã làm sống động lại cảnh quê, nhất là trong nhịp độ đô thị hóa ngày nay, không khéo “đi xa mất chỗ trở về.” Những âm thanh vừa lạ, vừa quen vang lên đâu đây làm cho không gian thơ Nguyễn Vũ Quỳnh lưu chuyển những luồng sinh khí mới như: Tiếng cãi nhau với thời gian. Tiếng chất vấn cánh đồng. Tiếng gió bay của khói lam chiều. Tiếng võng đưa. Tiếng trống trường. Tiếng tắc kè. Tiếng thì thầm của con song, con suối. Còn nhiều thứ tiếng nữa mà càng cảm nhận ta sẽ bắt gặp cái hay ở đó. Những câu thơ viết trên ngọn rau rừng, thơm lừng hương sắc. Những cô gái Thanh Niên Xung Phong mười tám đôi mươi trên đường ra trận: “Nơi bom đạn chiến tranh/ Ở Trường Sơn giữa hai đầu trận đánh/ Em đi hái rau rừng/ Ngọn lá tàu bay non quá /Sau mưa dầm vắt bung lên cành lá/ Búng vào khoảng lặng miên man”. Cái xao xuyến bất ngờ của tuổi thành niên trong giây phút đã nhường lại cho tinh thần ra trận hôm nay: “Anh ngắt lá mua … em đừng sợ vắt/ Vòm ngực trần long lanh ánh mắt/Hồi hộp đầu đời người ra trận hôm nay”. Dấu ấn Trường Sơn với những người lính trẻ chẳng bao giờ quên được bởi đó là những kỷ niệm sâu sắc: “Đakrông lạnh lắm suốt mùa Đông/ Em xuống tắm cả dòng sông nổi nóng/ Hoa ven bờ cũng thầm ghen bóng/ Nụ em hồng của ngà ngọc Mẹ cho/ Đời lính đi qua dốc Khỉ, đèo Ho/ Chỉ áo xuân hè với vành mũ cối/ Tiếng phập phồng con tim bối rối/ Lúc nữa khuya xoa ngực bỗng bật cười” (Trường Sơn gửi lại mai sau),“Em xuống tắm cả dòng sông nổi nóng”.Lúc nửa khuya xoa ngực bỗng bật cười.” Hình tượng đẹp quá, giàu chất thơ, làm ta xao xuyến lâng lâng. Đó là những phát hiện rất riêng mà lung linh đẹp như bài ca người lính.

Thường thì ta xa nhà chứ đâu phải nhà xa ta, bởi vì nhà đã gắn liền trên quê cha đất tổ, do vậy ai đi đâu cũng muốn về nhà. Hình ảnh của người Mẹ luôn luôn gắn liền với nhà nên khi ta nhớ nhà là nhớ tất cả, nỗi nhớ nhà đã đi vào thi ca tự ngàn xưa và bây giờ Nguyễn Vũ Quỳnh dù có đi đâu rồi cũng muốn về ngã vào lòng Mẹ để tìm lại lời ru, tìm lại thời thơ ấu tuổi thần tiên: “Con không thể quên muối mặn gừng cay/ Dù ở nơi đâu cuộc sống có vơi đầy/ Con vẫn mong về vui vầy bên Mẹ/ Ngủ nhà mình nghe Mẹ kể chuyện xưa”(Viết lại lời quê). Nguyễn Vũ Quỳnh đi nhiều, giàu trải nghiêm, giàu chất sống, những bước chân lãng du thi ca qua nhiều miền đất nước. Do vậy anh đã chọn cách nói biểu cảm của thi nhân và nhịp điệu khác nhau cho thơ mình khi thì nhanh trong như sông nước miền Trung mùa khô, khi thì chậm ngọt như sông nước Cửu Long. Thơ anh khi thì nhẹ nhàng như mây bay gió thoảng và dồn dập như mưa đại ngàn Trường Sơn, khi thì nhịp quân hành. Cách chọn đa đề tài, nhiều cách thể hiện, làm phong phú nội dung ngôn ngữ thơ thật thà dí dỏm mà bay bổng sâu lắng, đọng mãi trong lòng người. Nơi đâu Nguyễn Vũ Quỳnh đã qua anh đều để lại những cảm xúc rất riêng của mình và nơi địa đầu Tổ Quốc anh cảm nhận: “Lên Lũng Cú nói những điều mong ước/ Kịp chào cờ Tổ Quốc buổi ban mai/ Nghe tiếng khèn đường xa em chẳng ngại/ Rượu ngô say mềm ngẫu hứng những chàng trai…Bông hoa rừng những phút giây bối rối/ Nhưng chưa nơi nào đẹp như em hôm nay” (Em đẹp nhất hôm nay). Ra tới Trường Sa nơi biển đảo thiêng liêng của Tổ Quốc, nơi muôn trùng sóng gió anh viết: “Ở đảo Sinh Tồn khi bình minh lên/ Là nỗi nhớ hòa vào với biển/ Nơi ngày đêm đã hóa thành kỷ niệm/ Nghe Hương thầm tiếng hát giữa trùng khơi” (Mai em về Trường Sa)

 Trong Ru lại lời quê anh có nhiều bài viết về quê hương đất nước nhưng tựu trung ở tập thơ này anh muốn nói với những người xa làng quê về phố, những người đi xa Tổ quốc bằng bài thơ, lời thơ nhắn gửi: Về nơi tiếng trống sân trường ngày xưa bắt đầu bằng từ Về. Để: “Về nơi đàn sếu đàn giang/ Liệng qua đồng lúa, nghiêng sang sườn đồi/ Về nhé em, về đi thôi/ Về quê lên đỉnh bồi hồi gặp xưa” và trong bài: Thương miền quê xa, với bốn mươi hai câu thơ thì trong bài với ba mươi chín từ đầu câu thơ bắt nguồn bằng từ Quê: “Quê trong Ví dặm lứa đôi/ Quê làng Quan họ người ơi đừng về/ Quê nơi vuông chiếu chú hề/ Quê làn chèo cổ, đình quê hội làng/ Quê câu Dạ cổ hoài lang/ Quê bao vất vả bên hàng dừa xanh/ Quê nơi gương vỡ lại lành/ Quê cánh cò lã ru thành lời ca/ và cuối cùng: Về quê cộng với người ta/ Vẫn là hai đứa thành ra chúng mình”. Viết những vần thơ như vậy dễ nhớ, dễ thương mà thấm thía gần gủi với quê. Với hai mươi bốn câu thơ bắt đầu bằng từ về đầu tiên: “Về đi em giữa yêu thương/Về nơi tiếng tróng sân trường ngày xưa và cuối cùng là: Về đi em, về đi thôi/ Về quê trên đỉnh bồi hồi gặp xưa” như đã dục giã bước chân tha hương ai mà không muốn trở về cho ta thấy quê hương nghĩa nặng biết bao nhiêu. Những câu thơ sâu lắng ân tình mà nhà thơ đã tạo dựng nên thi ảnh nghệ thuật khúc chiết như vậy làm người đọc cảm thấy bâng khuâng.

 Nhà thơ Cựu chiến binh Nguyễn Vũ Quỳnh có những câu thơ bảng lãng mà rung động con tim khi tìm thăm đồng đội trên nghĩa trang Liệt sĩ như kết nối giữa chiến tranh và hòa bình, tỏ rõ lòng biết ơn, tri ân những người nằm xuống cho đất nước đứng lên, cho hòa bình lập lại, không có sự mất mát nào ở nước ta lớn hơn thế nữa : “Đồng đội ơi sao chúng mày nghiêm thế/ Cứ mãi xếp hàng không chịu tản ra/ Khi còn sống đã xếp hàng đều đặn /Hy sinh rồi hàng vẫn xếp thẳng ngay… và: Đồng đội ơi chúng ta chẳng đứa nào mà không có tên/ Khi điểm danh đứa nào cũng có/ Lúc ngã xuống trong bom rơi đạn nổ? Trên mộ phần tên người có người không”. Nỗi đau chiến tranh còn đọng đến bây giờ, Nguyễn Vũ Quỳnh đã khơi dòng cảm xúc, nơi các đồng đội từng một thời ra trận đã ngã xuống không trở về với Mẹ, đau xót mà nghẹn ngào có phải thế không hỡi những người còn sống: “Chiều Trường Sơn nhè nhẹ khói hương thơm / Nơi đồng đội tôi đang tập hợp trở về/ Đã cùng nhau chung mười lời thề/ Giữ non nước này cho Tổ Quốc bình yên”. Hố bom có thể được lấp đầy thành đồng ruộng, mọi thứ đổ nát có thể xây dựng lại nhưng con người đã mất đi thì không thể nào sống lại, do vậy việc đền ơn đáp nghĩa phải luôn luôn được quan tâm trong suốt chiều dài lịch sử, không thể có giây phút nào quên.

Nguyễn Vũ Quỳnh luôn luôn trăn trở nhớ thương đồng đội, những kỷ niệm quê hương, những rung cảm đầu đời, những lời ru của Mẹ, những thay đổi đến chóng mặt trong tiến trình đô thị hóa, tất cả đã làm nên chất liệu cho thơ anh nhẹ nhàng mà sâu lắng, ấm áp nhưng không thiếu những khoảng lặng hiện thực cuộc sống nhưng không thiếu những ảo điệu xuyến xao. Ngày nay ta đi trong phố bỗng nhiên gặp những chiếc cổng làng giữa đô thị thanh bình với bao vết tích chiến tranh, do vậy Nguyễn Vũ Quỳnh còn giàu vốn liếng để viết về đô thị ngày xưa và hôm nay. Tôi tin rằng trong những tập tới anh còn viết về quê hương đất nước và con người mới mẻ hơn. Nguyễn Vũ Quỳnh đang vẫy gọi chúng ta vào vườn thơ trữ tình của anh để thấm thía thi vị đời sống thơ anh.

TP. HCM, ngày 5 tháng 3 năm 2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm