TIN TỨC

Nguyễn Vũ Tiềm – Một hành trình văn học đáng nhớ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-19 00:22:34
mail facebook google pos stwis
1907 lượt xem

Trên hành trình văn học của mình nơi cõi thế, lúc 8h15 ngày 14/01/2022, ở tuổi 82, nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm chia tay với bạn đọc ở cột mốc tiểu thuyết Người tài hoa khờ dại của mình, để lại 24 tác phẩm đã phát hành và tiểu thuyết Bùi Giáng thiên tài tự hủy đang nằm chờ in…

1. Trên báo Văn Nghệ TP.HCM ngày 1/1/1993, nhà thơ Nguyên Vũ Tiềm đưa ý kiến “Có nên bắt đầu một mỹ tục mới”, ông viết: “Từ ngày nhà nước xóa bỏ bao cấp, hầu hết các tác giả, các nhà văn, nhà thơ muốn in tác phẩm của mình đều phải bằng tiền riêng […]. Cầm quyển sách đẹp, sách hay lại có bút tích của tác giả ghi tặng mình thật quý biết bao. Nhiều bạn trân trọng, nâng niu coi như báu vật trong bảo tàng gia đình. Nhưng giá như người được tặng sách, sau khi đặt lên giá sách liền nghĩ đến một mỹ tục giống như khi nhận tấm thiệp báo hỷ đi dự tiệc cưới, tiệc sinh nhật người bạn, kiếm cái phong bì nhỏ bỏ vào đấy ít nhất là số tiền tương đương giá trị cuốn sách rồi đưa tới chúc mừng tác giả, một việc làm vừa đẹp, vừa gói ghém trong ấy nhiều ý nghĩa”.

Đề nghị rồi chính ông lặng lẽ thực hiện. Khi tôi tặng nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm cuốn sách nhỏ Sở thú mười hai con giáp (NXB Kim Đồng 1994) giá ghi trên bìa 4 chỉ 1.200đ, ông gửi lại phong bao chúc mừng đựng 5.000đ. Tôi còn giữ thư chúc mừng viết tay và tờ tiền ấy. Trên cuốn sổ giữ tờ giấy bạc ngân hàng ấy, tôi ghi rõ ngày một mỹ tục được thực hiện: 14/4/1995.


Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm (1940 – 2022).

2. Là người sáng lập và điều hành tạp chí Tài hoa trẻ (Bộ Giáo dục & Đào tạo), nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm tổ chức thành công nhiều cuộc thi, cuộc bình chọn văn thơ trên tạp chí này, để tạo điểm nhấn văn học, tăng sức thu hút bạn đọc, qua đấy phát hiện tác phẩm và tác giả cho đời sống văn học thời tin học, cần nhanh nhạy, chắt lọc, sắc sảo.

Cuộc thi sáng tác tổ chức năm 1997 – 1998 thu được 1.256 truyện ngắn mini. Khi một truyện ngắn chỉ còn được viết với 1.000 âm tiết thì thói quen, ề à lối văn kể chuyện kéo dài theo thời gian, lạm dụng trữ tình ngoại đề, được thay bằng cài đặt, kết nối chi tiết, khắc tạc, chứ không sao chép hiện thực, để thể hiện chủ để.

Cùng với 15.813 bài tứ tuyệt – 4 dòng – các tác phẩm truyện và thơ dự thi như những bức ảnh “chứng minh thư” 3×4 ghi lại chân dung cuộc sống từ rất nhiều góc độ, với chiều sâu tâm tưởng mà bạn đọc tự phát hiện như một đồng tác giả. Những cuộc thi sáng tác và bình chọn văn học liên tục trong hơn 1.000 số Tài hoa trẻ đã khẳng định tên tuổi các nhà văn quen thuộc Định Hải, Vân Long, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Phan Hách, Đồng Đức Bốn, Trần Ninh Hồ, Đặng Hấn…và phát hiện những cây bút mới Lê Thiếu Nhơn, Trần Hoàng Nhân, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh…

3. Không chỉ tạo ra hoạt động cho đời sống văn chương chung, góp phần làm mới văn học, nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm còn tích cực thay đổi cách viết để làm mới trang viết của chính mình. Trong ngày thơ Việt Nam tổ chức ở TP.HCM năm 2003 nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm mạnh dạn lên diễn đàn để chính thức công bố một cách viết mới của mình – những bài ngắn vô đề, chỉ đánh số thứ tự. Đã không nhốt mình vào một tiêu đề, tinh thần phá cách của Nguyễn Vũ Tiềm còn thể hiện ở chỗ dù ngắn, thơ ông cũng không tự trói buộc chỉ bằng 4 dòng như tứ tuyệt kiểu Trung Quốc hay 3 dòng theo lối haiku Nhật Bản, ông để ngòi bút tự tìm số đo loại thể, tự “đo giầy” cho chính nó.

Không quá câu nệ khuôn thước văn bản và vần luật, thơ tự nhiên hơn, có khả năng xuyên qua hình hài, thấu tới tinh túy, để thi đề bớt được xác chữ giúp thần thái của những ý tưởng tới nhanh được với bạn đọc. Trong những bài vô đề nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm trình bày trong đêm thơ, người ta nghe thấy các chữ “cầu chì”, “máy giặt”, “thang máy”, “sinh sản vô tính”…

Ông đồ thế kỷ 21, người biết viết thư pháp chữ Nho bằng bút lông Nguyễn Vũ Tiềm cố gắng cài đặt cho thơ một “phông chữ” mới, hiện đại. Những bài thơ trình làng trong đêm thơ ấy sau được in thành tập Hoài nghi và hy vọng (NXB Hội Nhà văn 2004). Trong tập, có thơ 1 dòng, nhưng là hợp lưu Phật pháp và đời sống: “Nụ hôn màu nhiệm đừng nghĩ mặn hay chay” (Bài số 10); thơ 2 dòng, 13 âm tiết nhưng vẫn kịp chơi chữ, phản biện và gây bất ngờ, ở từ kết bài: “Nàng Tô Thị mong chồng hóa đá/ Đá cũng đủ màu da” (Bài số 12); có thơ lục bát, vẽ ra được khúc khửu, khấp khểnh, khó khăn một đường đời: “Bước đi học chỉ một năm/ Bước dừng học đến rụng răng chưa thành” (Bài số 17); có thơ 4 dòng, hệt thơ xưa, một tứ tuyệt cổ điển, cấu tứ theo cách hóa giải trói buộc cách ngăn không gian vô định bằng tình người rất cụ thể của một vùng đất: “Sợi rơm vàng buộc gió/ Lá sen gói sóng hồ/ Nắng đa tình Bến Nghé/ Phải lòng hương cốm thu” (Bài số 9).


Bìa sách “Trường ca văn đàn bi tráng & thơ chọn lọc” của Nguyễn Vũ Tiềm.

4. Ngoài tiểu luận học thuật Đi tìm mật mã thơ (NXB Hội Nhà văn, 2006) ngoài sách công cụ tra cứu – từ điển dẫn chứng Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam (4 lần tái bản, dày 1.300 trang với chừng 6.000 câu thơ hay, xếp theo chủ điểm của 1.300 tác giả) nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm còn viết tiểu thuyết – ký sự nhân vật Người tài hoa khờ dại (NXB Hội Nhà văn, 2020) hình tượng hóa chuyện đời, chuyện lao động nghệ thuật của một thi sĩ có tên trong danh dách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đấy là một cách mời gọi, lôi kéo bạn đọc thờ ơ với văn học cầm lên tay sách văn học, giúp họ nắm bắt lịch sử văn học nước nhà, không qua những nhận đinh khoa học mà qua hình tượng văn học. Có thể ví loại tiểu thuyết người thật việc thật này như là cách làm “livestream” văn học của nhà văn lão thành Nguyễn Vũ Tiềm.

Ông viết trong lời nói đầu: “Tiểu thuyết Người tài hoa khờ dại dựa trên những sự việc có thật diễn ra tại tòa soạn tạp chí Tài hoa trẻ… mấy năm cuối thế kỷ 20 và vài năm đầu thế kỷ 21. Khi viết tôi hoàn toàn tôn trọng sự thật…”. Nhưng đấy vẫn là tiểu thuyết như tác giả xác quyết ngoài bìa sách. Và trong 336 trang chuyện kể, người viết đưa vào đầy đủ các yếu tố nghệ thuật gây hấp hẫn mà các tiểu thuyến cần có, những mâu thuẫn do hiểu lầm, một chuyện tình nối kết các chương, các miêu tả rất chi tiết về săn đuổi, trả thù gây đổ máu, các kiếm tìm lạc thú ái tình…

Những hấp dẫn kia đưa bạn đọc tới gặp nhà thơ Hữu Thỉnh khi ông tới làm việc với tòa soạn, gặp nhà thơ – nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha khi ông kể chuyện Hải Phòng, gặp nhà thơ Trần Nhuận Minh, khi ông giúp tác giả tiểu thuyết vẽ chân dung nhân vật chính (Trúc Sơn) bằng thơ ở trang 24: “Bạn làm nghề áp tải/ Đường bộ và đường sông/ Thỉnh thoảng lại gặp cướp/ Còn trộm thì… mênh mông// Đất nước có một thời/ Kẻ gian nhiều như nấm/ Không ngờ một nhà thơ/ Lại sống bằng nắm đấm// Đã từng cho một “chưởng”/ Những thằng đến “mổ” hàng/ Cũng từng bị nó đánh/ Thuốc xoa vài ba thang…”.

Trên hành trình văn học của mình nơi cõi thế, lúc 8h15 ngày 14/1/2022, ở tuổi 82, nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm chia tay với bạn đọc ở cột mốc tiểu thuyết Người tài hoa khờ dại này, bước qua “Ngưỡng cửa của thế giới chưa biết” (tên một chuyên mục mà ông phụ trách ở tạp chí Thế giới mới) đi mãi vào hư vô. Theo lời gọi từ cao xanh, ông đi, còn để lại tiểu thuyết Bùi Giáng thiên tài tự hủy đang nằm chờ in với một trích đoạn, đầy hấp dẫn, đưa ra bìa 4:

“Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn đôi bạn thân thiết. Họ đều là thiên tài, nhưng một thiên tài tự huy và một thiên tài tự hủy. Trịnh Công Sơn huy hoàng thì đã rõ, còn Bùi Giảng vì sao lại tự hủy? Hay cái gì đã tác động và hủy hoại sự nghiệp của ông? Bùi Giáng có khát vọng lớn là ‘Khai sáng nhân văn’, thực hiện ‘tư tưởng lớn vượt thời đại’ và ông đã nỗ lực không mệt mỏi: viết sách, viết báo, làm thơ nhưng… đã 2 lần vô bệnh viện Thần kinh Biên Hòa. Bi kịch và mâu thuẫn lớn dồn vào một con người gầy gò nhỏ bé!”.

Người viết bài nôn nóng đón đọc sách mới của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm!

 Trần Quốc Toàn/Vanvn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm