TIN TỨC

Nguyễn Vỹ không muốn gánh kho vàng mơ mộng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-12-25 15:10:58
mail facebook google pos stwis
1442 lượt xem

Nhà thơ Nguyễn Vỹ (1912-1971) với tôi như một hiện tượng nóng bỏng tâm trạng thế sự. Ông là một nghệ sĩ cuối cùng luôn gieo vần khó ở chân câu.

Nhà thơ Nguyễn Vỹ tại Sài Gòn, năm 1965.

Bên cạnh những dòng thơ say đến chát chúa mang tên Nguyễn Vỹ tôi lại hình dung ông như một chiến binh hai tay hai súng cưỡi ngựa hí vang trời. Ông luôn hát bài ca của mình giữa cuộc đời đầy gai góc, đòi lại sự công bằng và tình yêu thương cho con người.

Ngạo nghễ bất chấp tù đày

Không mấy ai làm báo đến liều mạng như Nguyễn Vỹ. Ông lập báo riêng với những cái tên như Tổ Quốc, Dân Chủ, Dân Ta, Bông Lúa, Thằng Bờm trước mũi súng của thực dân Pháp và giặc Nhật. Ngay từ năm đầu lập báo Le Cygne (Bạch Nga) vào năm 1937, Nguyễn Vỹ đã bị chính quyền Pháp bắt và kết tội chỉ vì đã viết loạt bài phê phán đường lối cai trị của thực dân Pháp. Không những tờ báo vì cấm vĩnh viễn mà chủ bút Nguyễn Vỹ còn bị phạt 3.000 quan và 6 tháng tù giam.

Thân ở trong tù nhưng chí lớn vẫn chờ đợi và âm ỷ làm thơ: “Trăng với chó tự do ngoài sân ngục / Tôi bị giam sau bốn bức tường cao”. Hai năm sau chiến sự đất nước thay đổi khi Nhật đánh Pháp và chiếm đóng nước ta, Nguyễn Vỹ ròng rã đêm hôm viết luôn hai cuốn sách chống quân Nhật (1940). Hai phát súng của ông bắn chính diện vào giặc Nhật vang lên lời tuyên cáo: Kẻ thù là Nhật Bản và Cái họa Nhật Bản. Thế là Nguyễn Vỹ bị giặc Nhật bắt đi đày ở Trà Khê (Phú Yên – 1942). Thậm chí ông còn bị giam vào hầm kín. Phải nói là ông liều chết bởi giặc Nhật rất tàn ác.

Bị cầm tù nhưng ông vẫn kiên cường với những dòng thơ chửi rủa: “Thằng tôi chờ chết nằm co ró / Làm thơ âm thầm lấy vần – Chó / Bỗng một con chó Nhật vừa đi qua / Đứng ngoài song sắt trố mắt ngó”. Nguyễn Vỹ luôn tự giễu nhại ngay chính cuộc đời mình và chấp nhận tai họa ập đến. Trong thời gian này ông luôn đọc sách và nghĩ đến sự cách tân thơ trong sự hy vọng đổi mới. Vì thế Nguyễn Vỹ từng viết những câu thơ 12 chữ để diễn tả tình cảm trước nỗi đau đất nước: “Đến ngày này non sông đã phủ mấy lớp sương mù / Mà còn rên dưới rễ có những vết hận lòng lai láng”.

Mãi đến khi Cách mạng tháng 8.1945 thành công, chân ướt chân ráo vừa ra tù, Nguyễn Vỹ vào Sài Gòn lập ngay tờ báo Tổ Quốc. Nhưng với cá tính gân bướng và ý chí quật khởi, qua giọng văn chửi vỗ mặt chế độ thực dân của Nguyễn Vỹ, tờ báo ngay sau đó bị sập tiệm (Rút giấy phép). Nhưng đất đâu có chịu giời, ý chí bạt mạng của Nguyễn Vỹ đã mách bảo về một hành trình mới. Ông lên Đà Lạt (1948) xin chính quyền ra mắt tờ báo Dân Chủ.

Được cấp giấy phép thế là ông lại vung bút phê phán chế độ Bảo hoàng. Tất nhiên ngọn bút ông bị bẻ gẫy vì tội xúc phạm “Vua” và tờ báo bị rút giấy phép. Không chấp nhận, Nguyễn Vỹ phẫn chí trở lại Sài Gòn mấy năm sau lập luôn tờ nhật báo Dân Ta (1952). Ngỡ như cái tên Dân Ta có vẻ khiêm nhường nhưng vẫn xuất hiện những bài báo với giọng văn mỉa mai thâm nho trong con mắt nhìn soi mói chế độ thực dân. Kéo dài được một năm, Dân Ta bị tạm đình bản (1953). Thời thế xã hội kéo dài mười năm với bao sự đổi thay. Không ngờ báo Dân Ta được phục hồi (1963). Nhưng cái tật ngông ngạo và bới rác xã hội tỉ mỉ của Nguyễn Vỹ làm chính quyền ngày càng tỏ ra khó chịu. Hai năm sau tờ báo bị cấm hẳn.

Nhưng thực ra trong những khoảng trống năm tháng chờ phục hồi tờ báo Nguyễn Vỹ đã cho ra đời những tập san như Phổ Thông (chuyên đề về văn hóa nghệ thuật) và hai tuần báo Thằng Bờm và Bông Lúa. Riêng tờ Thằng Bờm chuyên viết cho trẻ con nên được bạn đọc ủng hộ nhiệt liệt. Bởi lẽ tờ báo có tính giáo dục cao và khích lệ tâm hồn con trẻ sống trong tình thân ái và yêu đất nước quê hương.

Phải nói cuộc chơi đầy mạo hiểm của Nguyễn Vỹ với báo chí không hề vơi cạn niềm say mê. Ông có lý tưởng đấu tranh và yêu nước nồng nàn. Chấp nhận mọi rủi ro trong sự nghiệp văn chương báo chí. Đặc biệt với sự sắc sảo và cao ngạo của Nguyễn Vỹ, thực dân đã từng mua chuộc mời ông làm cố vấn nhưng không thành.

Ngay cả khi được chính quyền thực dân trao giải thưởng văn chương cho tập tiểu thuyết của Nguyễn Vỹ với mức tiền 6.000 đồng (rất lớn) nhưng ông cũng từ chối nhận. Cho dù khi đó làm báo rất vất vả, cuộc sống đầy khó khăn nhưng ông không hạ mình. Ông cho đó là miếng ăn nhục khi được chính quyền thực dân ban cho. Ông cần mẫn sống và sáng tác trong sự nghèo đói và trong sạch.

Cuộc chơi với con chữ tượng hình

Riêng với thơ, Nguyễn Vỹ luôn miệt mài đổi mới với sự khát khao cháy bỏng. Không ít người cho ông là sự ồn ào gây náo loạn trong thi đàn tiền chiến khi cho ra đời cuốn Tập thơ đầu (Premières Poésies) bằng hai thứ tiếng Pháp-Việt (1934). Hầu như ai cũng biết ông là một tú tài văn chương với trình độ tiếng Pháp thượng thừa. Ông rời Quảng Ngãi ra Hà Nội học và có thực tài văn chương. Ấy vậy mà sự vận dụng và làm mới lạ thi ca Nguyễn Vỹ lại gây ra nhiều tranh cãi. Thậm chí nhà thơ Thế Lữ với bút danh Lê Ta đã từng viết bài mạt sát thơ ông.

Đến cả Hoài Thanh – Hoài Chân cũng mỉa mai rằng: “Nguyễn Vỹ đến giữa làng thơ với chiêng, trống, xập xoèng inh cả tai…” chỉ bởi Nguyễn Vỹ hô hào: “Ta hãy truyền một thi hứng mới cho thế kỷ hai mươi/ Ta hãy ký thác trong vần thơ những tình sâu ý hiểm” (thể loại thơ 12 chữ một câu do Nguyễn Vỹ nghĩ ra).

Nhưng rồi thú vị thay chính hai ông Hoài Thanh – Hoài Chân cũng đã phải công nhận tài thơ Nguyễn Vỹ khi khẳng định sau đó: Gửi Trương Tửu – mới thực là kiệt tác của Nguyễn Vỹ”. Các ông cho rằng bài thơ Gửi Trương Tửu của Nguyễn Vỹ đã thể hiện đúng mình khi làm thơ trong lúc say rượu. Rung động và chân thực. Tình cảm trở về với truyền thống và đã quên đi những hình thức sắp xếp những câu chữ thơ thành hình ảnh chim, cò, mưa, sương… như một bức vẽ.

Cuộc đời thi ca của Nguyễn Vỹ gói gọn chỉ trong bốn tập thơ. Với thể loại văn và báo thì ông “lướt ga” tới hàng chục cuốn nhưng với thơ thì lại rụt rè hơn. Có lẽ bởi ông bị choáng váng ngay từ dư luận “đánh cho dập mặt” của ngôi sao đầu bảng thơ mới là Thế Lữ. Nên mãi đến 18 năm sau Nguyễn Vỹ mới cho ra mắt tập thơ thứ hai Hoang vu (1962).

Và tám năm kế tiếp tập thơ Buồn muốn khóc (1970) cùng tập thơ trào phúng Thơ lên ruột phát hành trước khi ông mất vì tai nạn giao thông tại Sài Gòn (1971). Tuy vậy thơ Nguyễn Vỹ lại tỏ rõ thái độ sống tiếp cận sớm với hiện thực và thể hiện đúng với phẩm chất công dân thi ca.

Cùng thời mở đầu cho phong trào thơ mới, hầu như ai cũng mượn gió trăng, mây mưa trầm mình vào tình yêu và sự cầu kỳ loang lổ trong khổ đau thì Nguyễn Vỹ đã tìm đến sự sống trần ai cần lao: “Tôi không muốn gánh kho vàng thơ mộng / Đem chợ đời đổi lấy món cân đai / Đừng nhử tôi ngựa, xe, tán, võng, lọng / Ai công hầu khanh tướng mặc ai”.

Với bài Gửi Trương Tửu ông làm sống động thi đàn vào thập niên 40 với những câu thơ nảy lửa: “Bây giờ thời thế vẫn thấy khó / Nhà văn An Nam khổ như chó / Mỗi lần cầm bút viết văn chương / Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương”. Một nhân cách Quảng Ngãi bùng nổ trong thơ ông: “Bao giờ chúng mình gạch một chữ / Làm cho đảo điên pho Lịch sử? / Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa / Hất mồ nhỏm dậy cười say sưa”.

Tuy trong cơn say, thái độ công dân trong thi ca Nguyễn Vỹ vẫn trỗi dậy: “Để xem hai chàng trai quắc thước / Quét sạch quân thù trên đất nước? / Để cho toàn thể dân Việt Nam / Đều được tự do muôn muôn năm”. Sự bừng thức về dân tộc trong thơ Nguyễn Vỹ trong dòng thi ca tiền chiến trở thành duy nhất. Thơ ông tiệm cận với văn chương cách mạng khá sớm.

Vỹ thanh

Nguyễn Vỹ là một tính cách khác biệt độc đáo. Trong làng báo ông thật sự táo bạo với văn phong hoạt náo cùng tài kể chuyện hấp dẫn. Ông in tới 25 cuốn sách cả văn lẫn thơ. Tài năng ông nổi bật trong bộ tự truyện Tuấn, chàng trai nước Việt (2 tập-1970) và cuốn Văn Thi sĩ Tiền chiến (1970).

Điều thú vị khi ông không ít dịp đối đáp với các văn sĩ luôn thể hiện sự hóm hỉnh và dồi dào năng lượng. Có lần nhà thơ Tản Đà trách Nguyễn Vỹ: “Sao ông lại bảo Nhà văn An Nam khổ như chó? Ông so sánh nhà văn chúng ta với kiếp chó, mà ông không hổ thẹn à?”.

Ngay lập tức, cho dù bất ngờ, nhà thơ trẻ Nguyễn Vỹ trả lời: “Thưa cụ, nếu cháu so sánh nhà văn với chó, thì chó nó thẹn, chớ sao nhà văn lại thẹn?”. Ông Tản Đà làm thinh nốc hết ly rượu rồi rưng rưng nước mắt.

VƯƠNG TÂM

Báo An Ninh Thế Giới

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm