TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại

Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-01 10:23:07
mail facebook google pos stwis
702 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.

 

Nhà thơ Thế Lữ

 

Nhận xét trên có lẽ xuất phát từ đặc sắc thơ Thế Lữ, mà nhiều người đặt ông vào vị trí “số một” của phong trào Thơ mới: “Độ ấy Thơ mới vừa ra đời, Thế Lữ như vừng sao đột ngột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến tiết tấu âm thanh…” (Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân). Còn theo “Từ điển văn học”, Thế Lữ là người tiên phong mang luồng gió mới với phong cách lãng mạn, ảo mộng, phá vỡ quy tắc cũ, dùng ngôn ngữ giàu sức gợi, cảm xúc mạnh mẽ…

Đánh giá về sự nghiệp Thế Lữ, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cũng đã viết: “Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý đến Thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy ở tương lai Thơ mới. Thơ ông không phải chỉ mới ở lời mà còn mới cả ở ý nữa” (Nhà văn hiện đại).

Sự nghiệp thơ ca lớn lao là vậy. Song ít ai thấy hết Thế Lữ là một nghệ sĩ đa tài, đóng góp nhiều hoạt động nghệ thuật. Và cuộc đời của tác giả “Nhớ rừng” cũng không ít những giai thoại thú vị.

 

Người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại

Xã hội Việt Nam trước đây không có sân khấu kịch hiện đại, chỉ có sân khấu biểu diễn các loại hình diễn xướng truyền thống như chèo, tuồng… Vào ngày 22-10-1921, vở kịch “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long được xem là vở kịch nói đầu tiên của Việt Nam, đã được diễn tại Nhà hát Lớn (Hà Nội) với sự bảo trợ của Bắc Kỳ Công thương Đồng nghiệp Ái hữu, đánh dấu cột mốc lịch sử quan trọng là khai sinh nền kịch nói hiện đại Việt Nam. Tuy vậy, giữa buổi giao thời “Ta, Tàu, Tây lẫn lộn” (chữ của Vũ Trọng Phụng), cần phải có những cây bút chủ lực của nền văn nghệ mới như Vũ Đình Long, Thế Lữ, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyên Hồng, Đoàn Phú Tứ, Vũ Đình Liên… đóng góp công sức gầy dựng mới định hình nên nền kịch nghệ Việt Nam hiện đại. Trong đó, Thế Lữ là một trong những người Việt Nam đầu tiên “làm bầu” khi thành lập các ban kịch Thế Lữ, Tinh hoa, Anh Vũ… quyết tâm “chuyên nghiệp hóa” kịch nghệ Việt Nam.

Trong bài viết “Nhà thơ Thế Lữ – một tài năng muôn mặt”, nhân kỷ niệm 90 năm phong trào Thơ mới (1932-2022), tác giả Cao Linh đã đánh giá tổng hợp đóng góp của Thế Lữ: Ông là một trong những người đầu tiên đưa kịch nói lên sân khấu ở Việt Nam và là người duy nhất đưa kịch nói từ trình độ nghiệp dư lên trình độ chuyên nghiệp. Ông cũng là nhà đạo diễn đầu tiên ở nước ta. Trong khi những người hoạt động kịch nói cùng thời chỉ thỉnh thoảng tổ chức biểu diễn kịch nói với lý do quyên góp tiền làm việc thiện thì ông lần lượt thành lập 3 ban kịch chuyên nghiệp sống được bằng tiền bán vé: Ban kịch Tinh Hoa (năm 1938), Ban kịch Thế Lữ (năm 1941) và Ban kịch Anh Vũ (năm 1943). Xét về phương diện này, Thế Lữ xứng đáng được gọi là người sáng lập ra nền kịch nói Việt Nam.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Cơ duyên đến với kịch, có lẽ Thế Lữ ngộ ra rằng, với thơ, truyện, báo chí… thì không đủ đầy để miêu tả một cái đẹp hữu hình. Chỉ kịch mới nói hết sự bức bối, thỏa chí tang bồng văn nghệ của ông. Thể loại kịch, do đó “vừa vặn với niềm say mê khám phá cái mới lạ, thường xuyên cư ngụ và đốt cháy lòng ông. Hơn thế nữa, thể loại kịch còn vừa đủ để ông thâu góp cùng lúc vẻ đẹp tinh túy của tất cả những lĩnh vực văn chương mà ông từng trải” (Cao Linh).

Ngoài “khai sáng” Thơ mới, viết kịch bản phim, viết phê bình văn học (xem “Thế Lữ, nhà phê bình văn học”, Phạm Đình Ân, Tạp chí Sông Hương, ngày 6-7-2009), “sáng lập ra nền kịch nói Việt Nam” như đã nói ở trên, Thế Lữ còn là người mở đầu cho một số thể loại văn xuôi nghệ thuật như truyện trinh thám, truyện khoa học, truyện kinh dị đầy bí hiểm, ly kỳ, hồi hộp như: Vàng và máu (1934), Bên đường Thiên Lôi (1936), Gói thuốc lá (1940), Gió trăng ngàn (1941), Trại Bồ Tùng Linh (1941)…

 

Thế Lữ chữa thơ Xuân Diệu

Bên cạnh con người đa tài, cuộc đời Nguyễn Thứ Lễ có nhiều giai thoại thú vị. Ai cũng biết, Thơ mới ra đời từ năm 1932, khởi đầu (được nhiều người cho) là bài thơ “Tình già” của Phan Khôi. Nhưng nhiều người vẫn không quên kể công vai trò tiên phong của Thế Lữ. Chỉ một thời gian ngắn sau, hàng loạt các nhà thơ lứa tiếp theo xuất hiện như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên… khiến các lứa đầu trở nên “già nua”. Ấy thế mà chính Thế Lữ đã “dìu dắt” đàn em theo sau. Chính Thế Lữ đã phát hiện, giới thiệu Xuân Diệu – “ông hoàng thơ tình”, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Trong bài viết “Một nhà thi sĩ mới” (đăng trên Báo Ngày nay, số 46, Tết 1937), Thế Lữ đã viết về Xuân Diệu: “Đó là một tâm sự nồng nàn kín đáo, một linh hồn rạng rỡ và say mê… Với những câu thơ ít lời, nhiều ý, súc tích như đọng lại bao nhiêu tinh hoa, Xuân Diệu là một tay thơ biết làm ta ngạc nhiên vì nghệ thuật tài hoa và cần mẫn…”.

Nhà thơ Thế Lữ nổi danh trên văn đàn vào những năm 1930, với những tác phẩm Thơ mới, đặc biệt là bài “Nhớ rừng”, cùng những tác phẩm văn xuôi, tiêu biểu là tập truyện “Vàng và máu”. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm kịch kháng chiến trong những năm chiến tranh Đông Dương. Sau Hiệp định Genève, ông tiếp tục hoạt động sân khấu, trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam (1957-1977). Nhà thơ Thế Lữ đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân năm 1984 và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000.

Tác giả Nguyễn Duy Thanh, trong cuốn “Giai thoại văn học” (NXB Văn hóa dân tộc, HN, 2000), có kể việc Thế Lữ… chữa thơ cho Xuân Diệu. Ai đã đọc bài “Nhị hồ” của Xuân Diệu hẳn không thể quên hai câu thơ nổi tiếng: “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”. Nhưng lúc đầu Xuân Diệu không viết thế, mà trong bản thảo gửi về Báo Ngày nay, ông viết: “Sương nương theo trăng ngừng giữa trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”. Chính Thế Lữ đã chữa một từ (từ “giữa” thành chữ “lưng”) mà câu thơ “xuất thần” hẳn lên. Vừa đạt ý lại đạt lời; hài thanh và hay cả tiết tấu, nhạc điệu.

Nhiều người hay đọc cho vui với nhau bài thơ “Tình hoài” của Thế Lữ. Bài này có nguyên văn như sau:

Trời buồn làm gì trời rầu rầu

Anh yêu em xong anh đi đâu?

Lắng tiếng gió, suối, thấy tiếng khóc

Một bụng một dạ một nặng nhọc

Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi

Nghĩ mãi gỡ mãi lỗi vẫn lỗi

Thương thay cho em căm thay anh

Tình hoài càng ngày càng tày đình.

Bài thơ này đặc biệt ở chỗ từng cặp câu đều chỉ toàn thanh bằng hoặc thanh trắc. Âu đó cũng là thú vui khi làm thơ, và cũng là tài năng thơ của Thế Lữ.

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

(Tác giả có thay đổi nhan đề)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm