TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại

Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-01 10:23:07
mail facebook google pos stwis
845 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.

 

Nhà thơ Thế Lữ

 

Nhận xét trên có lẽ xuất phát từ đặc sắc thơ Thế Lữ, mà nhiều người đặt ông vào vị trí “số một” của phong trào Thơ mới: “Độ ấy Thơ mới vừa ra đời, Thế Lữ như vừng sao đột ngột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến tiết tấu âm thanh…” (Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân). Còn theo “Từ điển văn học”, Thế Lữ là người tiên phong mang luồng gió mới với phong cách lãng mạn, ảo mộng, phá vỡ quy tắc cũ, dùng ngôn ngữ giàu sức gợi, cảm xúc mạnh mẽ…

Đánh giá về sự nghiệp Thế Lữ, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cũng đã viết: “Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý đến Thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy ở tương lai Thơ mới. Thơ ông không phải chỉ mới ở lời mà còn mới cả ở ý nữa” (Nhà văn hiện đại).

Sự nghiệp thơ ca lớn lao là vậy. Song ít ai thấy hết Thế Lữ là một nghệ sĩ đa tài, đóng góp nhiều hoạt động nghệ thuật. Và cuộc đời của tác giả “Nhớ rừng” cũng không ít những giai thoại thú vị.

 

Người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại

Xã hội Việt Nam trước đây không có sân khấu kịch hiện đại, chỉ có sân khấu biểu diễn các loại hình diễn xướng truyền thống như chèo, tuồng… Vào ngày 22-10-1921, vở kịch “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long được xem là vở kịch nói đầu tiên của Việt Nam, đã được diễn tại Nhà hát Lớn (Hà Nội) với sự bảo trợ của Bắc Kỳ Công thương Đồng nghiệp Ái hữu, đánh dấu cột mốc lịch sử quan trọng là khai sinh nền kịch nói hiện đại Việt Nam. Tuy vậy, giữa buổi giao thời “Ta, Tàu, Tây lẫn lộn” (chữ của Vũ Trọng Phụng), cần phải có những cây bút chủ lực của nền văn nghệ mới như Vũ Đình Long, Thế Lữ, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyên Hồng, Đoàn Phú Tứ, Vũ Đình Liên… đóng góp công sức gầy dựng mới định hình nên nền kịch nghệ Việt Nam hiện đại. Trong đó, Thế Lữ là một trong những người Việt Nam đầu tiên “làm bầu” khi thành lập các ban kịch Thế Lữ, Tinh hoa, Anh Vũ… quyết tâm “chuyên nghiệp hóa” kịch nghệ Việt Nam.

Trong bài viết “Nhà thơ Thế Lữ – một tài năng muôn mặt”, nhân kỷ niệm 90 năm phong trào Thơ mới (1932-2022), tác giả Cao Linh đã đánh giá tổng hợp đóng góp của Thế Lữ: Ông là một trong những người đầu tiên đưa kịch nói lên sân khấu ở Việt Nam và là người duy nhất đưa kịch nói từ trình độ nghiệp dư lên trình độ chuyên nghiệp. Ông cũng là nhà đạo diễn đầu tiên ở nước ta. Trong khi những người hoạt động kịch nói cùng thời chỉ thỉnh thoảng tổ chức biểu diễn kịch nói với lý do quyên góp tiền làm việc thiện thì ông lần lượt thành lập 3 ban kịch chuyên nghiệp sống được bằng tiền bán vé: Ban kịch Tinh Hoa (năm 1938), Ban kịch Thế Lữ (năm 1941) và Ban kịch Anh Vũ (năm 1943). Xét về phương diện này, Thế Lữ xứng đáng được gọi là người sáng lập ra nền kịch nói Việt Nam.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Cơ duyên đến với kịch, có lẽ Thế Lữ ngộ ra rằng, với thơ, truyện, báo chí… thì không đủ đầy để miêu tả một cái đẹp hữu hình. Chỉ kịch mới nói hết sự bức bối, thỏa chí tang bồng văn nghệ của ông. Thể loại kịch, do đó “vừa vặn với niềm say mê khám phá cái mới lạ, thường xuyên cư ngụ và đốt cháy lòng ông. Hơn thế nữa, thể loại kịch còn vừa đủ để ông thâu góp cùng lúc vẻ đẹp tinh túy của tất cả những lĩnh vực văn chương mà ông từng trải” (Cao Linh).

Ngoài “khai sáng” Thơ mới, viết kịch bản phim, viết phê bình văn học (xem “Thế Lữ, nhà phê bình văn học”, Phạm Đình Ân, Tạp chí Sông Hương, ngày 6-7-2009), “sáng lập ra nền kịch nói Việt Nam” như đã nói ở trên, Thế Lữ còn là người mở đầu cho một số thể loại văn xuôi nghệ thuật như truyện trinh thám, truyện khoa học, truyện kinh dị đầy bí hiểm, ly kỳ, hồi hộp như: Vàng và máu (1934), Bên đường Thiên Lôi (1936), Gói thuốc lá (1940), Gió trăng ngàn (1941), Trại Bồ Tùng Linh (1941)…

 

Thế Lữ chữa thơ Xuân Diệu

Bên cạnh con người đa tài, cuộc đời Nguyễn Thứ Lễ có nhiều giai thoại thú vị. Ai cũng biết, Thơ mới ra đời từ năm 1932, khởi đầu (được nhiều người cho) là bài thơ “Tình già” của Phan Khôi. Nhưng nhiều người vẫn không quên kể công vai trò tiên phong của Thế Lữ. Chỉ một thời gian ngắn sau, hàng loạt các nhà thơ lứa tiếp theo xuất hiện như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên… khiến các lứa đầu trở nên “già nua”. Ấy thế mà chính Thế Lữ đã “dìu dắt” đàn em theo sau. Chính Thế Lữ đã phát hiện, giới thiệu Xuân Diệu – “ông hoàng thơ tình”, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Trong bài viết “Một nhà thi sĩ mới” (đăng trên Báo Ngày nay, số 46, Tết 1937), Thế Lữ đã viết về Xuân Diệu: “Đó là một tâm sự nồng nàn kín đáo, một linh hồn rạng rỡ và say mê… Với những câu thơ ít lời, nhiều ý, súc tích như đọng lại bao nhiêu tinh hoa, Xuân Diệu là một tay thơ biết làm ta ngạc nhiên vì nghệ thuật tài hoa và cần mẫn…”.

Nhà thơ Thế Lữ nổi danh trên văn đàn vào những năm 1930, với những tác phẩm Thơ mới, đặc biệt là bài “Nhớ rừng”, cùng những tác phẩm văn xuôi, tiêu biểu là tập truyện “Vàng và máu”. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm kịch kháng chiến trong những năm chiến tranh Đông Dương. Sau Hiệp định Genève, ông tiếp tục hoạt động sân khấu, trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam (1957-1977). Nhà thơ Thế Lữ đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân năm 1984 và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000.

Tác giả Nguyễn Duy Thanh, trong cuốn “Giai thoại văn học” (NXB Văn hóa dân tộc, HN, 2000), có kể việc Thế Lữ… chữa thơ cho Xuân Diệu. Ai đã đọc bài “Nhị hồ” của Xuân Diệu hẳn không thể quên hai câu thơ nổi tiếng: “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”. Nhưng lúc đầu Xuân Diệu không viết thế, mà trong bản thảo gửi về Báo Ngày nay, ông viết: “Sương nương theo trăng ngừng giữa trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”. Chính Thế Lữ đã chữa một từ (từ “giữa” thành chữ “lưng”) mà câu thơ “xuất thần” hẳn lên. Vừa đạt ý lại đạt lời; hài thanh và hay cả tiết tấu, nhạc điệu.

Nhiều người hay đọc cho vui với nhau bài thơ “Tình hoài” của Thế Lữ. Bài này có nguyên văn như sau:

Trời buồn làm gì trời rầu rầu

Anh yêu em xong anh đi đâu?

Lắng tiếng gió, suối, thấy tiếng khóc

Một bụng một dạ một nặng nhọc

Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi

Nghĩ mãi gỡ mãi lỗi vẫn lỗi

Thương thay cho em căm thay anh

Tình hoài càng ngày càng tày đình.

Bài thơ này đặc biệt ở chỗ từng cặp câu đều chỉ toàn thanh bằng hoặc thanh trắc. Âu đó cũng là thú vui khi làm thơ, và cũng là tài năng thơ của Thế Lữ.

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

(Tác giả có thay đổi nhan đề)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm