TIN TỨC

Nhà thơ Ngọc Khương vẫn giữ được một tâm hồn thơ trong trẻo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-09-23 18:18:31
mail facebook google pos stwis
2413 lượt xem

Bích Ngân

Nhà thơ Ngọc Khương sinh năm 1949 tại Quảng Bình. Mảnh đất Quảng Bình đã góp cho nền văn chương Việt Nam hiện đại nhiều tên tuổi như Lưu Trọng Lư, Xuân Hoàng, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Xuân Đố, Hải Kỳ, Ngô Minh, Hoàng Vũ Thuật, Trần Quang Đạo… 

 

Nhà thơ Ngọc Khương tại buổi ra mắt tập thơ Muôn lời thiên nhiên

Nhà thơ Ngọc Khương sinh năm 1949 tại Quảng Bình. Mảnh đất Quảng Bình đã góp cho nền văn chương Việt Nam hiện đại nhiều tên tuổi như Lưu Trọng Lư, Xuân Hoàng, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Xuân Đố, Hải Kỳ, Ngô Minh, Hoàng Vũ Thuật, Trần Quang Đạo… Nhà thơ Ngọc Khương dự phần vào dòng chảy ấy và làm phong phú thêm dòng chảy ấy, như chính câu thơ ông viết:

“Tôi lớn lên ngụp lặn dưới chân cầu

Tay lấm láp bắt con còng làm bạn

Chân tứa máu bởi mảnh hàu, mảnh hến

Da cháy rần trong nắng quái miền Trung”.

Sau khi tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, nhà thơ Ngọc Khương có nhiều năm dạy học ở quê nhà trước khi chuyển vào TP.HCM định cư. Tính từ tập thơ đầu tay “Trăng nghiêng” xuất bản năm 1994 đến nay, nhà thơ Ngọc Khương đã có 30 năm tham gia trực tiếp với hoạt động sáng tác văn học tại đô thị phương Nam.

Nhà văn Bích Ngân phát biểu tại buổi Tọa đàm ra mắt tập thơ

14 tập thơ đã xuất bản, không chỉ giúp công chúng và đồng nghiệp hình dung một nhà thơ Ngọc Khương luôn mang nặng ân tình trước cuộc đời: “Thương mẹ một đời cát vùi lút mặt/ Thương em bao lần sóng lật đò ngang/ Thương cây đa vết đạn đầy mình/ Vẫn đứng vững giữa muôn trùng bão tố”, mà còn chứng minh một nhà thơ Ngọc Khương luôn nỗ lực gìn giữ tâm hồn trong trẻo để viết những câu thơ trìu mến cho thiếu nhi.

Phẩm chất nhà giáo thường trực trong tư cách nhà thơ, khiến Ngọc Khương xem công việc sáng tác cho các em nhỏ cũng là một trách nhiệm cao quý. Nói cách khác, nhà thơ Ngọc Khương chưa bao giờ bỏ rơi đối tượng thiếu nhi trên con đường cầm bút của mình. Có lẽ, chính từ tuổi thơ bơ vơ phải chấp nhận hoàn cảnh cách xa cha mẹ mà sống lủi thủi với bà nội, nhà thơ Ngọc Khương thấu hiểu giá trị nâng đỡ của thi ca trong quá trình nuôi dưỡng sự khôn lớn cho trẻ em.

Cứ vài năm, nhà thơ Ngọc Khương lại chắt chiu ra mắt một tập thơ thiếu nhi. Sau các tập thiếu nhi như “Cây đàn và bông hồng” xuất bản năm 1995 , “Bim Bim và Mướp Vàng” xuất bản năm 2001, “Cò bay giữa phố” xuất bản năm 2017, nhà thơ Ngọc Khương vừa xuất bản tập thơ “Muôn lời thiên nhiên” với 27 bài thơ tươi tắn và hồn nhiên.  

Nhà thơ Ngọc Khương quan niệm: “Thơ là phần hồn, là tiếng nói tâm linh được phát sáng qua khoảnh khắc thăng hoa của cảm xúc, là tiếng vọng khẽ khàng của hạnh phúc và đắng cay. Thơ phải trong sáng, giản dị, chân thật và ngôn ngữ cần đạt tới sự lung linh, huyền ảo”. Và ông đã nhẫn nại viết theo đúng quan niệm của mình, mà không cần bận bịu với những trào lưu cách tân thi pháp hay ồn ào theo đuổi hình thức cầu kỳ.

Nếu viết cho người lớn, nhà thơ Ngọc Khương lắm lúc dằn vặt suy tư “Chân đi vấp bóng mây trời/ Đường đời sụp lở, bẫy người bủa vây”, thì khi viết cho thiếu nhi lại là thấy nhà thơ Ngọc Khương nhẹ nhàng, thư thái và bao dung “Diều còn níu được tay người/ Thương cô bong bóng tối trời về đâu”.

Tập thơ “Muôn lời thiên nhiên” tiếp nối mạch nguồn yêu thương của nhà thơ Ngọc Khương dành cho thiếu nhi. Qua mỗi bài thơ, từng “lời thiên nhiên” cũng là lời thầy nói với trò, lời cha nói với con, lời ông nói với cháu. Thơ thiếu nhi của Ngọc Khương không giáo điều mà thủ thỉ, không rao giảng mà tâm tình, không răn dạy mà sẻ chia. Vì vậy, mỗi thông điệp, mỗi câu chuyện đều đi thẳng vào độc giả nhí một cách mềm mại.

Nhà thơ Ngọc Khương nhắc các em cùng nghĩ về “Trăng Trường Sa” bằng sự tri âm

Biển Đông

Khuyết một vành trăng

Đêm đêm nguyệt thực

Chị Hằng còn đau!

Trăng non

Từ đáy biển sâu

Mọc lên giữa sóng bạc đầu

Lung linh...

Bao người lính đã hi sinh

Đảo thiêng xé sóng

Hóa mình thành trăng...

Nhà thơ Ngọc Khương khơi gợi “Sự tích Gành Đá Dĩa” cho các em bằng sự tưởng tượng

“Một ngày

Nắng đổ

Trời rung

Tiên ùa xuống tắm

Biển tung sóng lành...

Bao năm

Say biển, say tình

Đĩa Tiên quên dọn, hóa gành đá mơ”.

Và từ “Hương mít” thân quen, nhà thơ Ngọc Khương nhắc nhở các em về cội nguồn đạo lý ruột thịt và láng giềng

“Mít này từ dưới miền quê

Năm xưa ông cố mang về bón chăm.

 

Bây giờ ông đã hóa trăng

Hương còn ngây ngất lan sang mọi nhà”

Đặc biệt, qua thơ thiếu nhi, nhà thơ Ngọc Khương đề cao ý thức bảo vệ môi trường. Bởi lẽ, khi cánh cò mơ mộng trong ca dao trở thành món ăn trong nhà hàng, thì mất mát cả vẻ đẹp quê hương

“Bếp nhà hàng

Rụi những cánh thơ

Thương bao chú Cò

Quắt queo chảo lửa!

Đàn Cò trắng

Bây giờ còn đâu nữa!

Đồng làng em

Trống mảnh hồn quê”.

Thơ thiếu nhi chỉ là một mảng trong sự nghiệp của nhà thơ Ngọc Khương. Thế nhưng, thơ thiếu nhi được ông gửi gắm nhiều tâm tư sâu lắng, như sứ mệnh bồi đắp nhân cách trưởng thàn cho thế hệ tương lai.

                                                                                                             Khuya, 20/9/2023

                                                                                                                      BN

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm