TIN TỨC

Nhà thơ Thanh Thảo… Nghĩ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-08 23:53:38
mail facebook google pos stwis
2651 lượt xem

Bây giờ, khi đã ngấp nghé tuổi tám mươi, tôi mới nhận ra, khi mình càng về già thì thời gian trôi càng nhanh. Và thời gian là thứ mình không thể khắc chế được. Việc hôm nay chớ để ngày mai mới làm, vì có khi không kịp.

Bằng công việc hàng ngày, nếu mình phân phối hợp lý, để không quá căng hay quá chùng, thì dù không thể chế ngự được thời gian, nhưng sẽ tạo ra được những khoảng thời gian có ích. Thời gian có ích trong một ngày, có khi ngắn có khi dài hơn một chút, nhưng đã có ích thì thời gian ấy tương thích với đồng hồ sinh học của mình. Thời gian có ích là thời gian có thể đo được bằng đồng hồ sinh học, không phải đo bằng đồng hồ Liên Xô hay đồng hồ Thụy Sĩ để nói đồng hồ nào tốt hơn… Chúng ta có thể ngây thơ hay dày dạn, còn thời gian thì không. Đó là một đại lượng bình thản nhất.

Nhà thơ Thanh Thảo

Nghĩ về bản thân

Có một câu danh ngôn của nhà văn vĩ đại Jack London (Mỹ) cứ ám ảnh tôi mãi. Câu danh ngôn ấy như thế này: “Tôi không sống vì điều mà thế giới nghĩ về tôi, nhưng vì điều mà tôi nghĩ về bản thân mình” (I do not live for what the world thinks of me, but for what I think of myself). Câu châm ngôn ấy được viết bằng thứ tiếng Anh thật giản dị, đúng phong cách Jack London, mà một người không biết tiếng Anh như tôi đọc cũng hiểu được. Nhưng nó lại không hề là một câu nói dễ dãi.

Chúng ta nghĩ về bản thân mình như thế nào, trong cuộc đời này?

Câu trả lời không đơn giản, vì hình như không ai nghĩ giống ai về bản thân mình. Chưa kể, có nhiều người chẳng bao giờ nghĩ về bản thân mình cả, trong khi họ vẫn là người rất tốt. Nghĩ về bản thân mình cũng có nhiều kiểu nghĩ. Có khi là nghĩ để tự vấn, có khi nghĩ để tự động viên mình, có khi nghĩ để tìm cách “phấn đấu” vươn lên, có khi nghĩ chỉ vì đơn giản có kẻ nói xấu mình, dè bỉu mình… Còn nghĩ vì uất ức thấy người khác hơn mình cũng là cách nghĩ thường tình, có điều, nó không mang lợi ích gì cho người nghĩ, nhưng có thể mang lại tai họa nếu nghĩ không tới, nghĩ dại dột.

Nhưng sống vì điều mình nghĩ về bản thân, là cách sống bình thản mà đầy nội lực, sống “ăn chịu” khi dám mang chính mình công khai trước thế giới. Công khai những cái tốt, công khai những cái xấu, công khai khát vọng cũng như những giây phút tuyệt vọng của bản thân mình… Đó là cách sống độ lượng với người đời, độ lượng với thế giới, nhưng lại tự hiểu bản thân mình, để không đến nỗi cực đoan bắt bản thân phải làm những điều không thể làm được. Nghĩa là biết độ lượng với chính bản thân mình.

Tôi chỉ nghĩ về bản thân mình khi làm thơ. Làm thơ là một hành động tự tìm tự hiểu tự soi rọi vào bản thân hay bản thể của mình, không có gì tỏ ra quá đáng nhưng cũng không tránh né nhiều lắm khi trình bày những suy nghĩ của mình, về chính mình hay về cuộc đời mình sống. Tôi nói “không tránh né nhiều lắm”, nghĩa là có tránh né. Trừ những người dối trá, còn người thật thà bao giờ cũng công nhận trong cuộc sống, mình cũng phải tránh né nhiều chuyện lắm.

Có những chuyện nhỏ thôi, nhưng vì lý do này lý do khác mình cũng phải tránh né, hoặc chỉ nói “nửa cái bánh mỳ”, mà theo ngạn ngữ Nga, nếu tôi nhớ không nhầm, thì “nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ”, còn “nửa sự thật” mới “không phải là sự thật”. Bánh mỳ với sự thật là hai thực thể khác nhau, dù có thể giống nhau là cùng hiện hữu. Nhưng nửa cái bánh mỳ vẫn ăn được, thậm chỉ một mẩu bánh mỳ trong thành phố Leningad bị phát xít Đức phong tỏa 900 ngày là một báu vật với những người dân đang đói. Nhưng sự thật thì khác. Nếu ta cứ “rỉ” sự thật cho người dân, như kiểu nước máy chảy nhỏ giọt khi người ta đang thiếu nước dùng, thì một là sự thật chúng ta biết chỉ có ngần ấy, hoặc ta chỉ muốn “rỉ” ra ngần ấy cho người đang khát, trong khi ta có cả bể nước, thì hai cái ấy là khác nhau đấy.

Nghĩ về bản thân mình, như Jack London đã nghĩ, là để kiên định con đường mình đã chọn, bất kể cả thế giới nghĩ về mình thế nào. Đó là sự kiên định chân lý mà mình nghĩ đã sở đắc. Mình thấu hiểu nó bằng toàn bộ con người mình, cuộc đời mình. Mình kiên định với sự lựa chọn của mình, vì tin nó đúng. Tôi khâm phục những con người như vậy, kể cả khi lựa chọn của họ là sai. Có thể là sai với số đông, nhưng đúng với họ.

Có 4 câu thơ của Jack London, tôi đã ghi vào trang đầu một cuốn sổ tay của mình, từ tháng 6 năm 1975, ngày mới chấm dứt chiến tranh. Đoạn thơ ấy, không biết dịch giả là ai, nhưng là đoạn thơ đề từ cho một cuốn sách của Jack London:

“Điều này còn lại với đời/ Những người đã sống những/ người đấu tranh/ Họ giành thắng lợi bao lần/ Dù vàng đặt cược dần dần/ mất đi”.

Nói “giành thắng lợi bao lần” là một cách nói lạc quan “kiểu Jack London”, trong thực tế chưa chắc đã được như vậy. Nhưng nói “Dù vàng đặt cược dần dần mất đi” là chính xác, vì trong cuộc chơi ấy, dù thua dù thắng, thì “vàng đặt cược” chính là cuộc đời mình, những gì quí báu nhất của mình, cũng dần “đội nón ra đi”. Nhưng mình không hối tiếc. Chẳng bao giờ hối tiếc.

Nghĩ về thơ

Thế hệ thơ chúng tôi hồi ấy có một điểm xuất phát chung: làm thơ như một hành động sống, một hành động thơ. Như một tỏ bày, tỏ bày thơ. Như một tình yêu: yêu đất nước mình, yêu nhân dân mình, yêu mẹ mình. Một tình yêu trong vắt, không hề biết tính toán. “Yêu Tổ quốc là một điều nghiêm trọng”, chúng tôi thường đọc cho chính mình nghe câu thơ ấy của một nhà thơ Tây Ban Nha.

May mắn thay, bây giờ, sau bao nhiêu năm, tôi vẫn còn giữ được cho mình tình yêu ấy.

Hoá ra, Saddam Hussein trước khi chết dưới giá treo cổ cũng… làm thơ. Đến một anh độc tài vốn coi thơ và nhà thơ chả là cái đinh gì, rồi cuối cùng, khi tuyệt vọng nhất, cũng chỉ biết lấy thơ làm bạn.

Nhiều lúc lẩn thẩn tự nghĩ: nếu không có thơ, mình sẽ có gì. Nếu không làm thơ, mình sẽ làm gì. Câu trả lời chắc không khó, nhưng có lẽ không bao giờ tôi tự trả lời được.

Cứ nghĩ như thế, đã cảm thấy yên lòng. Thơ không mang lại cho mình tiền bạc, danh vọng, chức tước gì, nhưng nó mang lại cho mình… Thơ. Thế thôi.

Tuổi trẻ, tự nó, đã thấm đẫm thơ. Thơ dành cho mọi lứa tuổi, nhưng bao giờ tuổi trẻ cũng được hưởng phần đẹp nhất, tươi rói nhất của thơ. Trẻ mà không làm thơ là uổng lắm!

Nhưng thơ lại không dành cho người háo danh. Thiếu gì cách để nổi tiếng, mà phải víu đến thơ! Hãy để cho thơ được tĩnh lặng, và càng cách xa bao nhiêu càng tốt những tính toán xô bồ, chi li, thê thiết.

Lúc nào không làm được thơ thì thôi, đừng cố. Ăn cố hay uống cố cũng mệt, nữa là làm thơ cố.

Tôi nghĩ, bắt đầu từ thế hệ 8X, 9X, rồi sang thế hệ Z, một chương mới của con người Việt Nam đã được mở, không chỉ trong thơ hay trong văn học. Mọi lĩnh vực của đời sống bắt đầu thay đổi từ chính những thế hệ này. Họ khác thế hệ 4X, 5X chúng tôi, và đó là hồng phúc cho dân tộc Việt.

Tôi chỉ là một người làm thơ hồn nhiên, làm thơ vì thích, vì có thể không biết làm gì khác (ngoài làm báo, như một nghề kiếm sống). Thời còn học đại học, có lúc tôi nghĩ không biết sau này mình làm được gì… May quá, mấy anh em bạn bè học cùng lớp chơi thân với nhau, và “chém gió” với nhau rằng chúng mình phải viết văn, làm thơ, phải thành một nhóm sáng tác như các cụ ta ngày trước. Và muốn thế, phải đi rừng lấy nứa về bán cho các thầy làm chuồng gà, đặng có ít tiền mua trà Thái Nguyên (hồi sơ tán ấy chúng tôi học ở một làng sát chân núi thuộc huyện Đại Từ, Thái Nguyên). Mua trà uống, thức đêm bàn luận văn chương với nhau, đọc sách cùng nhau, đọc những gì mình mới “sáng tác” được cho nhau nghe, rồi lắng nghe bạn mình góp ý… Chúng tôi hồi đó là vậy, ngây thơ lắm, mà thơ viết ra cũng ngây ngơ lắm. Tôi nghĩ, như thế mới là tập làm thơ, mới là thơ trẻ đúng nghĩa là còn trẻ con, còn ngây thơ.

Sau khi ra trường, dòng sống cuốn chúng tôi mỗi người đi mỗi ngả. Có những bạn tôi không làm thơ hay viết văn nữa, nhưng lại thành đạt ở lĩnh vực khác, như ở nghề dạy học, nghề công chức, hay nghề bốc thuốc cứu nhân độ thế. Làm nghề gì cũng được, miễn là lương thiện. Nhưng không biết vào lúc nào, mấy người bạn cũ của tôi có nhớ một thời mình đã từng nuôi khát vọng làm thơ hay viết văn? Có khi nhớ chỉ để mà nhớ, sau một cái lắc đầu, lại quên.

Nhưng thơ vẫn sống trong tâm hồn một số người bạn tôi thuở còn đi học. Trong đó có tôi.

Và bây giờ, già rồi, tôi vẫn làm thơ. Dù chỉ là nhà thơ hồn nhiên hoang dại, chẳng phải “lão thành” gì.

Có một thứ mình không thể khắc chế được

Bây giờ, khi đã ngấp nghé tuổi tám mươi, tôi mới nhận ra, khi mình càng về già thì thời gian trôi càng nhanh. Và thời gian là thứ mình không thể khắc chế được. Việc hôm nay chớ để ngày mai mới làm, vì có khi không kịp. Bằng công việc hàng ngày, nếu mình phân phối hợp lý, để không quá căng hay quá chùng, thì dù không thể chế ngự được thời gian, nhưng sẽ tạo ra được những khoảng thời gian có ích. Thời gian có ích trong một ngày, có khi ngắn có khi dài hơn một chút, nhưng đã có ích thì thời gian ấy tương thích với đồng hồ sinh học của mình. Thời gian có ích là thời gian có thể đo được bằng đồng hồ sinh học, không phải đo bằng đồng hồ Liên Xô hay đồng hồ Thụy Sĩ để nói đồng hồ nào tốt hơn… Chúng ta có thể ngây thơ hay dày dạn, còn thời gian thì không. Đó là một đại lượng bình thản nhất.

Ngày còn trẻ, tôi làm việc theo cảm hứng, còn đi chơi theo thói quen. Đó là khi tôi chỉ sáng tác thơ, dù là thơ ngắn hay trường ca. Có lẽ kiểu sử dụng thời gian như thế hợp với người sáng tác, nhưng không hợp với người làm báo. Viết báo lại đòi hỏi phải sử dụng thời gian theo kiểu khác, và ai cũng biết trong nghề báo có một quy định thắt ngặt gọi là deadline (thời hạn chót). Viết báo, luôn luôn có từ deadline để trước mặt. Còn sáng tác thì không. Lúc nào xong thì xong thôi. Một bài thơ hay một truyện ngắn người ta có thể viết trong vài giờ đồng hồ, lại có thể viết trong vài năm mới xong. Không ai cho đó là chậm hay nhanh cả. Còn viết một bài báo khi có chữ deadline đặt trước mặt, thì phải viết xong và gửi cho tòa soạn đúng thời hạn, tốt nhất là trước deadline một chút để tòa soạn còn thời gian xử lý.

Như vậy, với người sáng tác văn học và người viết báo lại có hai cách đo thời gian khác nhau? Đúng như vậy. Không phải đo bằng hai đồng hồ khác nhau, nhưng hai cách mà thời gian tác động đến ta khi không có sự thúc bách và khi có sự thúc bách quả là khác nhau.

Tôi thì vừa viết báo vừa làm thơ, lúc nào viết được thứ nào thì viết, nhưng viết báo thì được ưu tiên hơn vì không theo cảm hứng, còn làm thơ thì phải có xúc cảm, có cảm hứng mới làm được, nên hai loại thời gian dành cho hai “thể loại” này vẫn khác nhau.

Nhưng, chính trong những lúc viết những bài báo, tôi lại phát hiện ra một điều hơi lạ, là mình viết báo cũng có… cảm hứng, dù cảm hứng ấy không phải để bài báo giống bài thơ, ngược lại, báo vẫn là báo mà thơ vẫn là thơ, nhưng khi có cảm hứng, thì viết báo thấy nhanh hơn, và trong bài viết, có thể có những đoạn văn xuất thần hơn. Viết báo cũng cần cảm hứng là vậy. Dĩ nhiên, viết báo thì cần tư liệu, còn làm thơ, nhất là thơ ngắn, thì không cần. Nhưng nếu anh viết trường ca, mà không chuẩn bị tài liệu, vốn sống, thực tế, hình dung cấu trúc tác phẩm, thì coi như anh chưa viết.

Tôi đã viết nhiều bài thơ ngắn, viết cũng khá nhiều trường ca, viết còn nhiều hơn những bài báo, nên tự nhiên tôi thấy có sự gắn bó khá mật thiết nào đó giữa báo và thơ.

Một nhà thơ viết báo, có vẻ dễ dàng hơn một nhà tiểu thuyết viết báo?

Tôi nghĩ, cũng chưa chắc.

Nhà văn hay nhà thơ không thể khắc chế được thời gian, nhưng có thể khiến thời gian trôi nhanh hơn hay trôi chậm hơn, khi mình đọc những trang viết của họ. Miễn là họ viết thật lòng, viết hết lòng, và chỉ viết khi có những thôi thúc từ bên trong.

Viết một bài báo thời sự chính trị, vẫn rất cần sự thôi thúc từ bên trong ấy, chứ không chỉ làm thơ hay viết văn xuôi mới cần.

THANH THẢO

Văn Nghệ số 39/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm