TIN TỨC

Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-16 18:29:39
mail facebook google pos stwis
749 lượt xem

NGÔ MINH OANH

(Về tập thơ "Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong" của nhà thơ Trần Kim Dung, NXB Hội Nhà văn 2025)

Nhận được tập thơ chị gửi tặng Những bước chân thơ vẫn ruổi rong, NXB Hội Nhà văn 2025, dày dặn, in đẹp với 80 bài thơ, chưa kể 3 bài thơ được phổ nhạc. Mừng cho nhà thơ, một người chị lớn tuổi luôn dịu dàng, bao dung với mọi người, vẫn tràn đầy nội lực để viết khỏe, để cho ra đời tập thơ thứ tư còn thơm mùi mực. Với sự hứng khởi, tôi say mê đọc, khi đến bài thơ Tháng Tư ấy với những dòng hồi ức: Tháng tư ấy cả đất trời u ám/Tôi oa oa cất tiếng khóc chào đời/Bỗng tháng Tám về khí thế sực sôi/Áo rách nón mê phá kho thóc Nhật/Cờ đỏ tung bay, Tuyên ngôn độc lập/Nô lệ đói nghèo thoát khỏi từ đây (Tháng Tư ấy). Như vậy, chị được sinh ra trong những ngày cách mạng tháng Tám, lớn lên cùng dân tộc mà cả đất nước ta vừa hứng khởi với sự kiện A.80, kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng tháng Tám, vì vậy là Nhà thơ Trần Kim Dung cũng đã bước sang tuổi tám mươi. 80 năm với một đất nước có thể không dài, nhưng 80 năm với cuộc đời một con người thì dài lắm, nhiều dấu ấn kỷ niệm lắm. Trải qua bao thăng trầm, sóng gió người ta đã có đủ thời gian để ngoái nhìn lại, mà chiêm nghiệm cuộc đời với những vui buồn, được mất. Với người thường đã như vậy thì với nhà thơ lại càng như vậy. Chính vì thế, có thể nói xuyên suốt cả tập thơ của chị là một dòng chảy hoài niệm rưng rưng những miền ký ức. Những kí ức, hoài niệm của chị là những vùng quê giàu đẹp hay nghèo khó trên mảnh đất hình chữ S thân thương; những địa danh, vùng đất xa lạ nào đó mà nhà thơ đã từng đặt chân đến; hoài niệm về những ngày thơ bé, giặc giã chiến tranh, lớn lên trong nghèo khó; rồi những hoài niệm, nghĩ suy khi đã lớn tuổi về cha mẹ và con cái; đặc biệt là những hoài niệm của một người hành đạo về cõi tâm linh Phật giáo… Tất cả những điều đó cứ hoà quyện vào nhau làm nên một giọng điệu thơ rất riêng của chị, thấm đẫm tình đời, tình người, tình đất nước.

Tác phẩm mới của nhà thơ Trần Kim Dung sẽ được ra mắt vào sáng ngày 18/1/2024.

Trước hết nói về miền ký ức của chị về quê hương, đất nước, chị đã đặt dấu chân của mình lên hầu hết những vùng đất Việt Nam. Những địa danh đọng lại trong những bài thơ của chị minh chứng cho điều đó: Dấu xưa Lạng Sơn, Địa đầu Móng cái, Chốc lát Vân Đồn, Đất tổ Hùng Vương, Cát Bà, Chiều Hồ Gươm, Tháp Rùa, Thành Cổ Loa, Đèo Hải Vân, Sông Hàn, Bảo Lộc, Chợ đêm Đà Lạt, Ghềnh Đá Đĩa, Gửi Phú Yên, Mũi Né, Sông Sài Gòn, Về lại Tiền Giang, Về lại xứ dừa, Chào Bạc Liêu… Theo dấu chân ruổi rong của chị, đọc những bài thơ của chị cho ta cảm giác non sông liền một dãi từ Bắc chí Nam, yêu quê hương đất nước là tìm đến, gắn bó sâu nặng và nhớ về. Có phải là ý thức không, với mỗi vùng quê, vùng quê nào chị cũng chia đều nổi nhớ và hoài niệm. Viết về sông, thơ chị nhắc đến nhiều sông (sông Hàn, Bạch Đằng giang, Sông Cấm, sông Tô Lịch, sông Sài Gòn, sông Tiền, sông Hậu); đèo, nhắc đến nhiều đèo (đèo Mã phục, đèo Hải Vân, đèo Bảo Lộc…); hồ chị cũng nhắc đế nhiểu hồ (Hồ Gươm, hồ Tuyền Lâm, hồ Tràm…); hoa, chị nhắc đến nhiều loài hoa (hoa Mai trắng, hoa Loa Kèn, hoa Lộc vừng…) mà mỗi cái tên đều gợi nhớ đến nhiều vùng đất.

Với mỗi nơi đi qua, nhà thơ đều có nhiều dấu ấn sâu đậm: Với Yên Tử, chị viết: Đây chùa Đồng nơi giao thoa Trời Đất/Khói hương hoa ngút ngát quyện mây trời/Mái cong vén sương, vén mây bay lên đỉnh núi/Chuông khánh ngân dài nghiêng ngã khắp trùng khơi (Yên Tử);  Trước Hồ Gươm, chị viết: Nắng hè trải lụa vàng xuống phố/Sóng lăn tăn xanh biếc mặt hồ/Tháp Rùa đó hiện ra như cổ tích. Rồi nhà thơ hoài niệm: Thấp thoáng rùa Vàng ngậm kiếm trước thuyền vua (Chiều Hồ Gươm).

Đà Lạt là vùng đất chị dành ưu ái đến nhiều và viết nhiều về đây: Mây ơi đến tự phương nào/Mà giăng kín cả lối vào rừng thông/Để cho nước biếc chạnh lòng/Để con thuyền nhỏ mắc dòng tương tư. (Hồ Tuyền Lâm). Chị viết về sông Sài Gòn: Ba trăm năm lẽ vơi đầy/Sông giờ trẻ lại hơn ngày hôm qua/Lặng thầm gom góp phù sa/Làm nên mảnh đất đậm đà nghĩa nhân. (Sông Sài Gòn).

Trong tập thơ, chị dành nhiều về quê hương Hải Phòng, nơi chôn nhau cắt rốn của chị: Một tự hào về quê hương cụ Trạng, rồi bồi hồi trở về sông Cấm: Sông Cấm ơi tự thuở nào/Mà ta nghe sóng rì rào bên nôi/Bỗng mùa phượng đỏ tháng Năm/Bao nhiêu mơ ước trăm năm ùa về/Bến sông, cầu cảng, tàu bè/Xôn xao con sóng tràn trề niềm vui. (Trở về sông Cấm). Chị vui với quê hương đổi mới: Quê giờ rộn rã tiếng ve/Xôn xao sông Lấp, phượng khoe má hồng/Đồ Sơn thức dậy Đồi Rồng/Vũ Yên rực sáng bên dòng Cấm giang (Tháng Năm).

Nhà thơ Trần Kim Dung đặt bước chân đến nhiều nơi trên đất nước và cả nhiều nơi trên thế giới. Thấy chị vừa mới viết về quê đó, nhưng khi đến một vùng đất khác thì những miền ký ức của chị lại ùa về. Ở nước ngoài thì nhớ về đất nước, ở trong nước thì nhớ về quê hương, ở quê hương thì nhớ về quá khứ, nhớ về lịch sử hào hùng của dân tộc. Viên mãn sống với thời hiện tại lại nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ về thời gian khó. Những miền ký ức cứ đeo bám chị, nặng tình với chị bởi trái tim người thi sĩ trong chị cũng luôn nặng nghĩa với tình đất, tình người không kém. Khi ở trên đất nước Triệu Voi, chị viết: Đi giữa cố đô ngói cổ êm đềm/Ngỡ được về Hội An đất Quảng/Gặp Chăm pa trên đường loang loáng/Nhớ Yên Tử quê nhà hoa đại trắng trong mây. (Tản mạn về Lào). Khi ở xứ Kim Chi: Sớm tối kim chi rong biển mời chào/Áo Hanbok đủ sắc màu, ý tưởng/Bỗng thấy nhớ nhà mơ bữa cơm rau muống/Cà pháo giòn canh cua nấu rau đay ! (Xứ Kim chi).

Còn ký ức về một thời oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc, chị viết khi ở địa đầu Móng Cái: Đây Pò Hèn ghi dấu những ngày đêm/Khói lửa ngút trời bên kia tràn tới/Chúng đốt phá cả một vùng biên giới/Bao nhiêu người đã anh dũng hy sinh/Tượng đài Pò Hèn cao vút trời xanh/Xin được cúi đầu nơi biên cương Tổ quốc/Ta đứng đây trông về Cà Mau rừng đước/Thấy bờ biển chữ S vững chắc trước biển Đông. (Địa đầu Móng cái). Thăm Cầu Tàu 914 ở Côn Đảo chị lại nhớ: Trông ra cầu tàu 914/Thấy người tù xưa khuân đá gục bên cầu/Kiệt sức, đòn roi hàng nghìn người bỏ mạng/Để cây cầu mang mãi nỗi đau. (Về Côn Đảo). Bước sang tuổi tám mươi, đã hoàn thành nhiệm vụ với đời, cháu con phương trưởng nhưng chị vẫn luôn nhớ về một thời gian khó như là nhắc nhở mình, nhắc nhỏ cháu con và cám ơn cuộc đời đã cho chị ngày hôm nay: Thương lắm mẹ cha cực khổ kiếm tiền/Vắt kiệt sức nuôi đàn con khôn lớn/Mẹ mắc bệnh ra đi, cha một mình hôm sớm/Con không làm được gì để đền đáp Mẹ ơi ! (Tháng Tư ấy). Hay: Đội ơn mẹ cha đã cho con có mặt trên đời/Cám ơn cháu con cùng những người yêu dấu/Cho tôi ấm áp đủ đầy, sẽ chia quý báu/Trong an bình, hạnh phúc thân thương/Mong được khỏe vui để đi nốt đoạn đường/Ngày viết đôi câu gửi vào mây gió. (Tháng Tư ấy).              

Với điệp trùng hoài niệm về những miền ký ức, nhà thơ Trần Kim Dung đã dẫn dắt ta đi trong nhiều cung bậc cảm xúc, ta như đã hòa nhập với những cảm, những nghĩ của chị lúc nào không biết. Điều này đã làm nên thế mạnh và sức hấp dẫn của tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong.

  Lời thơ giản dị, chân thành nhưng không thiếu đi những thủ pháp ẩn dụ, liên tưởng, nhân cách hóa… góp phần tạo nên sức hấp dẫn của tập thơ. Chị gọi những “đại lão Tùng”, “lão Đại”, “cụ Đề”, “cụ Đa”, “cụ Lộc vừng”, “cụ Sưa”, “cụ Phượng”… nghe thật gần gũi và thú vị. Chị nhìn thấy cầu Long Biên “Dũng mãnh như Rồng bay trong gió, một mình khiêng rét vượt qua sông”, hay “Lăng Cô cát trắng đón chào/Rồng bay lên núi, lượn vào mây xanh/Hải Vân quan đứng giữ thành/Áo khăn rêu phủ, trên mình đẫm sương. (Đèo Hải Vân).

Tập thơ có nhiều câu thơ hay, gợi cảm, gợi nghĩ: Làng cổ Đường Lâm rộn rã sớm trưa/Tường đá ong như lá phổi phập phồng ngàn năm vẫn thở…(Làng cổ Đường Lâm); Đi trong hương nhãn tràn trề/Tiếng chuông thức dậy bốn bề trời xanh (Chùa Nôm); Đền Quan Lạn quân tướng về dậy sóng/Trống hội quạt cờ nghiêng ngã bến sông Mang (Chốc lát Vân Đồn); Hải Vân đứng giữa sơn hà/Ngàn năm mây trắng la đà biển xanh (Đèo Hải Vân); Bến nghiêng xanh biếc đồi thông/Trời nghiêng một dãi mây hồng rong chơi/Lưới thuyền nghiêng mẻ cá tươi/Chiều nghiêng một giọt chuông rơi bồng bềnh. (Bến Nghiêng).

Có thể nói nhiều điều hơn nữa về tập thơ, nhưng với bấy nhiêu thôi, tập thơ cũng đã thành công mỹ mãn. Xin chúc mừng Tác giả, Nhà thơ Trần Kim Dung với tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong được nhiều bạn văn đón nhận và chúc chị tiếp tục gặt hái được nhiều thành công hơn nữa trên con đường văn chương của mình.  

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2026, 

N.M.O.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm