TIN TỨC

Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-16 18:29:39
mail facebook google pos stwis
589 lượt xem

NGÔ MINH OANH

(Về tập thơ "Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong" của nhà thơ Trần Kim Dung, NXB Hội Nhà văn 2025)

Nhận được tập thơ chị gửi tặng Những bước chân thơ vẫn ruổi rong, NXB Hội Nhà văn 2025, dày dặn, in đẹp với 80 bài thơ, chưa kể 3 bài thơ được phổ nhạc. Mừng cho nhà thơ, một người chị lớn tuổi luôn dịu dàng, bao dung với mọi người, vẫn tràn đầy nội lực để viết khỏe, để cho ra đời tập thơ thứ tư còn thơm mùi mực. Với sự hứng khởi, tôi say mê đọc, khi đến bài thơ Tháng Tư ấy với những dòng hồi ức: Tháng tư ấy cả đất trời u ám/Tôi oa oa cất tiếng khóc chào đời/Bỗng tháng Tám về khí thế sực sôi/Áo rách nón mê phá kho thóc Nhật/Cờ đỏ tung bay, Tuyên ngôn độc lập/Nô lệ đói nghèo thoát khỏi từ đây (Tháng Tư ấy). Như vậy, chị được sinh ra trong những ngày cách mạng tháng Tám, lớn lên cùng dân tộc mà cả đất nước ta vừa hứng khởi với sự kiện A.80, kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng tháng Tám, vì vậy là Nhà thơ Trần Kim Dung cũng đã bước sang tuổi tám mươi. 80 năm với một đất nước có thể không dài, nhưng 80 năm với cuộc đời một con người thì dài lắm, nhiều dấu ấn kỷ niệm lắm. Trải qua bao thăng trầm, sóng gió người ta đã có đủ thời gian để ngoái nhìn lại, mà chiêm nghiệm cuộc đời với những vui buồn, được mất. Với người thường đã như vậy thì với nhà thơ lại càng như vậy. Chính vì thế, có thể nói xuyên suốt cả tập thơ của chị là một dòng chảy hoài niệm rưng rưng những miền ký ức. Những kí ức, hoài niệm của chị là những vùng quê giàu đẹp hay nghèo khó trên mảnh đất hình chữ S thân thương; những địa danh, vùng đất xa lạ nào đó mà nhà thơ đã từng đặt chân đến; hoài niệm về những ngày thơ bé, giặc giã chiến tranh, lớn lên trong nghèo khó; rồi những hoài niệm, nghĩ suy khi đã lớn tuổi về cha mẹ và con cái; đặc biệt là những hoài niệm của một người hành đạo về cõi tâm linh Phật giáo… Tất cả những điều đó cứ hoà quyện vào nhau làm nên một giọng điệu thơ rất riêng của chị, thấm đẫm tình đời, tình người, tình đất nước.

Tác phẩm mới của nhà thơ Trần Kim Dung sẽ được ra mắt vào sáng ngày 18/1/2024.

Trước hết nói về miền ký ức của chị về quê hương, đất nước, chị đã đặt dấu chân của mình lên hầu hết những vùng đất Việt Nam. Những địa danh đọng lại trong những bài thơ của chị minh chứng cho điều đó: Dấu xưa Lạng Sơn, Địa đầu Móng cái, Chốc lát Vân Đồn, Đất tổ Hùng Vương, Cát Bà, Chiều Hồ Gươm, Tháp Rùa, Thành Cổ Loa, Đèo Hải Vân, Sông Hàn, Bảo Lộc, Chợ đêm Đà Lạt, Ghềnh Đá Đĩa, Gửi Phú Yên, Mũi Né, Sông Sài Gòn, Về lại Tiền Giang, Về lại xứ dừa, Chào Bạc Liêu… Theo dấu chân ruổi rong của chị, đọc những bài thơ của chị cho ta cảm giác non sông liền một dãi từ Bắc chí Nam, yêu quê hương đất nước là tìm đến, gắn bó sâu nặng và nhớ về. Có phải là ý thức không, với mỗi vùng quê, vùng quê nào chị cũng chia đều nổi nhớ và hoài niệm. Viết về sông, thơ chị nhắc đến nhiều sông (sông Hàn, Bạch Đằng giang, Sông Cấm, sông Tô Lịch, sông Sài Gòn, sông Tiền, sông Hậu); đèo, nhắc đến nhiều đèo (đèo Mã phục, đèo Hải Vân, đèo Bảo Lộc…); hồ chị cũng nhắc đế nhiểu hồ (Hồ Gươm, hồ Tuyền Lâm, hồ Tràm…); hoa, chị nhắc đến nhiều loài hoa (hoa Mai trắng, hoa Loa Kèn, hoa Lộc vừng…) mà mỗi cái tên đều gợi nhớ đến nhiều vùng đất.

Với mỗi nơi đi qua, nhà thơ đều có nhiều dấu ấn sâu đậm: Với Yên Tử, chị viết: Đây chùa Đồng nơi giao thoa Trời Đất/Khói hương hoa ngút ngát quyện mây trời/Mái cong vén sương, vén mây bay lên đỉnh núi/Chuông khánh ngân dài nghiêng ngã khắp trùng khơi (Yên Tử);  Trước Hồ Gươm, chị viết: Nắng hè trải lụa vàng xuống phố/Sóng lăn tăn xanh biếc mặt hồ/Tháp Rùa đó hiện ra như cổ tích. Rồi nhà thơ hoài niệm: Thấp thoáng rùa Vàng ngậm kiếm trước thuyền vua (Chiều Hồ Gươm).

Đà Lạt là vùng đất chị dành ưu ái đến nhiều và viết nhiều về đây: Mây ơi đến tự phương nào/Mà giăng kín cả lối vào rừng thông/Để cho nước biếc chạnh lòng/Để con thuyền nhỏ mắc dòng tương tư. (Hồ Tuyền Lâm). Chị viết về sông Sài Gòn: Ba trăm năm lẽ vơi đầy/Sông giờ trẻ lại hơn ngày hôm qua/Lặng thầm gom góp phù sa/Làm nên mảnh đất đậm đà nghĩa nhân. (Sông Sài Gòn).

Trong tập thơ, chị dành nhiều về quê hương Hải Phòng, nơi chôn nhau cắt rốn của chị: Một tự hào về quê hương cụ Trạng, rồi bồi hồi trở về sông Cấm: Sông Cấm ơi tự thuở nào/Mà ta nghe sóng rì rào bên nôi/Bỗng mùa phượng đỏ tháng Năm/Bao nhiêu mơ ước trăm năm ùa về/Bến sông, cầu cảng, tàu bè/Xôn xao con sóng tràn trề niềm vui. (Trở về sông Cấm). Chị vui với quê hương đổi mới: Quê giờ rộn rã tiếng ve/Xôn xao sông Lấp, phượng khoe má hồng/Đồ Sơn thức dậy Đồi Rồng/Vũ Yên rực sáng bên dòng Cấm giang (Tháng Năm).

Nhà thơ Trần Kim Dung đặt bước chân đến nhiều nơi trên đất nước và cả nhiều nơi trên thế giới. Thấy chị vừa mới viết về quê đó, nhưng khi đến một vùng đất khác thì những miền ký ức của chị lại ùa về. Ở nước ngoài thì nhớ về đất nước, ở trong nước thì nhớ về quê hương, ở quê hương thì nhớ về quá khứ, nhớ về lịch sử hào hùng của dân tộc. Viên mãn sống với thời hiện tại lại nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ về thời gian khó. Những miền ký ức cứ đeo bám chị, nặng tình với chị bởi trái tim người thi sĩ trong chị cũng luôn nặng nghĩa với tình đất, tình người không kém. Khi ở trên đất nước Triệu Voi, chị viết: Đi giữa cố đô ngói cổ êm đềm/Ngỡ được về Hội An đất Quảng/Gặp Chăm pa trên đường loang loáng/Nhớ Yên Tử quê nhà hoa đại trắng trong mây. (Tản mạn về Lào). Khi ở xứ Kim Chi: Sớm tối kim chi rong biển mời chào/Áo Hanbok đủ sắc màu, ý tưởng/Bỗng thấy nhớ nhà mơ bữa cơm rau muống/Cà pháo giòn canh cua nấu rau đay ! (Xứ Kim chi).

Còn ký ức về một thời oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc, chị viết khi ở địa đầu Móng Cái: Đây Pò Hèn ghi dấu những ngày đêm/Khói lửa ngút trời bên kia tràn tới/Chúng đốt phá cả một vùng biên giới/Bao nhiêu người đã anh dũng hy sinh/Tượng đài Pò Hèn cao vút trời xanh/Xin được cúi đầu nơi biên cương Tổ quốc/Ta đứng đây trông về Cà Mau rừng đước/Thấy bờ biển chữ S vững chắc trước biển Đông. (Địa đầu Móng cái). Thăm Cầu Tàu 914 ở Côn Đảo chị lại nhớ: Trông ra cầu tàu 914/Thấy người tù xưa khuân đá gục bên cầu/Kiệt sức, đòn roi hàng nghìn người bỏ mạng/Để cây cầu mang mãi nỗi đau. (Về Côn Đảo). Bước sang tuổi tám mươi, đã hoàn thành nhiệm vụ với đời, cháu con phương trưởng nhưng chị vẫn luôn nhớ về một thời gian khó như là nhắc nhở mình, nhắc nhỏ cháu con và cám ơn cuộc đời đã cho chị ngày hôm nay: Thương lắm mẹ cha cực khổ kiếm tiền/Vắt kiệt sức nuôi đàn con khôn lớn/Mẹ mắc bệnh ra đi, cha một mình hôm sớm/Con không làm được gì để đền đáp Mẹ ơi ! (Tháng Tư ấy). Hay: Đội ơn mẹ cha đã cho con có mặt trên đời/Cám ơn cháu con cùng những người yêu dấu/Cho tôi ấm áp đủ đầy, sẽ chia quý báu/Trong an bình, hạnh phúc thân thương/Mong được khỏe vui để đi nốt đoạn đường/Ngày viết đôi câu gửi vào mây gió. (Tháng Tư ấy).              

Với điệp trùng hoài niệm về những miền ký ức, nhà thơ Trần Kim Dung đã dẫn dắt ta đi trong nhiều cung bậc cảm xúc, ta như đã hòa nhập với những cảm, những nghĩ của chị lúc nào không biết. Điều này đã làm nên thế mạnh và sức hấp dẫn của tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong.

  Lời thơ giản dị, chân thành nhưng không thiếu đi những thủ pháp ẩn dụ, liên tưởng, nhân cách hóa… góp phần tạo nên sức hấp dẫn của tập thơ. Chị gọi những “đại lão Tùng”, “lão Đại”, “cụ Đề”, “cụ Đa”, “cụ Lộc vừng”, “cụ Sưa”, “cụ Phượng”… nghe thật gần gũi và thú vị. Chị nhìn thấy cầu Long Biên “Dũng mãnh như Rồng bay trong gió, một mình khiêng rét vượt qua sông”, hay “Lăng Cô cát trắng đón chào/Rồng bay lên núi, lượn vào mây xanh/Hải Vân quan đứng giữ thành/Áo khăn rêu phủ, trên mình đẫm sương. (Đèo Hải Vân).

Tập thơ có nhiều câu thơ hay, gợi cảm, gợi nghĩ: Làng cổ Đường Lâm rộn rã sớm trưa/Tường đá ong như lá phổi phập phồng ngàn năm vẫn thở…(Làng cổ Đường Lâm); Đi trong hương nhãn tràn trề/Tiếng chuông thức dậy bốn bề trời xanh (Chùa Nôm); Đền Quan Lạn quân tướng về dậy sóng/Trống hội quạt cờ nghiêng ngã bến sông Mang (Chốc lát Vân Đồn); Hải Vân đứng giữa sơn hà/Ngàn năm mây trắng la đà biển xanh (Đèo Hải Vân); Bến nghiêng xanh biếc đồi thông/Trời nghiêng một dãi mây hồng rong chơi/Lưới thuyền nghiêng mẻ cá tươi/Chiều nghiêng một giọt chuông rơi bồng bềnh. (Bến Nghiêng).

Có thể nói nhiều điều hơn nữa về tập thơ, nhưng với bấy nhiêu thôi, tập thơ cũng đã thành công mỹ mãn. Xin chúc mừng Tác giả, Nhà thơ Trần Kim Dung với tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong được nhiều bạn văn đón nhận và chúc chị tiếp tục gặt hái được nhiều thành công hơn nữa trên con đường văn chương của mình.  

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2026, 

N.M.O.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm