TIN TỨC

Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-16 18:29:39
mail facebook google pos stwis
901 lượt xem

NGÔ MINH OANH

(Về tập thơ "Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong" của nhà thơ Trần Kim Dung, NXB Hội Nhà văn 2025)

Nhận được tập thơ chị gửi tặng Những bước chân thơ vẫn ruổi rong, NXB Hội Nhà văn 2025, dày dặn, in đẹp với 80 bài thơ, chưa kể 3 bài thơ được phổ nhạc. Mừng cho nhà thơ, một người chị lớn tuổi luôn dịu dàng, bao dung với mọi người, vẫn tràn đầy nội lực để viết khỏe, để cho ra đời tập thơ thứ tư còn thơm mùi mực. Với sự hứng khởi, tôi say mê đọc, khi đến bài thơ Tháng Tư ấy với những dòng hồi ức: Tháng tư ấy cả đất trời u ám/Tôi oa oa cất tiếng khóc chào đời/Bỗng tháng Tám về khí thế sực sôi/Áo rách nón mê phá kho thóc Nhật/Cờ đỏ tung bay, Tuyên ngôn độc lập/Nô lệ đói nghèo thoát khỏi từ đây (Tháng Tư ấy). Như vậy, chị được sinh ra trong những ngày cách mạng tháng Tám, lớn lên cùng dân tộc mà cả đất nước ta vừa hứng khởi với sự kiện A.80, kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng tháng Tám, vì vậy là Nhà thơ Trần Kim Dung cũng đã bước sang tuổi tám mươi. 80 năm với một đất nước có thể không dài, nhưng 80 năm với cuộc đời một con người thì dài lắm, nhiều dấu ấn kỷ niệm lắm. Trải qua bao thăng trầm, sóng gió người ta đã có đủ thời gian để ngoái nhìn lại, mà chiêm nghiệm cuộc đời với những vui buồn, được mất. Với người thường đã như vậy thì với nhà thơ lại càng như vậy. Chính vì thế, có thể nói xuyên suốt cả tập thơ của chị là một dòng chảy hoài niệm rưng rưng những miền ký ức. Những kí ức, hoài niệm của chị là những vùng quê giàu đẹp hay nghèo khó trên mảnh đất hình chữ S thân thương; những địa danh, vùng đất xa lạ nào đó mà nhà thơ đã từng đặt chân đến; hoài niệm về những ngày thơ bé, giặc giã chiến tranh, lớn lên trong nghèo khó; rồi những hoài niệm, nghĩ suy khi đã lớn tuổi về cha mẹ và con cái; đặc biệt là những hoài niệm của một người hành đạo về cõi tâm linh Phật giáo… Tất cả những điều đó cứ hoà quyện vào nhau làm nên một giọng điệu thơ rất riêng của chị, thấm đẫm tình đời, tình người, tình đất nước.

Tác phẩm mới của nhà thơ Trần Kim Dung sẽ được ra mắt vào sáng ngày 18/1/2024.

Trước hết nói về miền ký ức của chị về quê hương, đất nước, chị đã đặt dấu chân của mình lên hầu hết những vùng đất Việt Nam. Những địa danh đọng lại trong những bài thơ của chị minh chứng cho điều đó: Dấu xưa Lạng Sơn, Địa đầu Móng cái, Chốc lát Vân Đồn, Đất tổ Hùng Vương, Cát Bà, Chiều Hồ Gươm, Tháp Rùa, Thành Cổ Loa, Đèo Hải Vân, Sông Hàn, Bảo Lộc, Chợ đêm Đà Lạt, Ghềnh Đá Đĩa, Gửi Phú Yên, Mũi Né, Sông Sài Gòn, Về lại Tiền Giang, Về lại xứ dừa, Chào Bạc Liêu… Theo dấu chân ruổi rong của chị, đọc những bài thơ của chị cho ta cảm giác non sông liền một dãi từ Bắc chí Nam, yêu quê hương đất nước là tìm đến, gắn bó sâu nặng và nhớ về. Có phải là ý thức không, với mỗi vùng quê, vùng quê nào chị cũng chia đều nổi nhớ và hoài niệm. Viết về sông, thơ chị nhắc đến nhiều sông (sông Hàn, Bạch Đằng giang, Sông Cấm, sông Tô Lịch, sông Sài Gòn, sông Tiền, sông Hậu); đèo, nhắc đến nhiều đèo (đèo Mã phục, đèo Hải Vân, đèo Bảo Lộc…); hồ chị cũng nhắc đế nhiểu hồ (Hồ Gươm, hồ Tuyền Lâm, hồ Tràm…); hoa, chị nhắc đến nhiều loài hoa (hoa Mai trắng, hoa Loa Kèn, hoa Lộc vừng…) mà mỗi cái tên đều gợi nhớ đến nhiều vùng đất.

Với mỗi nơi đi qua, nhà thơ đều có nhiều dấu ấn sâu đậm: Với Yên Tử, chị viết: Đây chùa Đồng nơi giao thoa Trời Đất/Khói hương hoa ngút ngát quyện mây trời/Mái cong vén sương, vén mây bay lên đỉnh núi/Chuông khánh ngân dài nghiêng ngã khắp trùng khơi (Yên Tử);  Trước Hồ Gươm, chị viết: Nắng hè trải lụa vàng xuống phố/Sóng lăn tăn xanh biếc mặt hồ/Tháp Rùa đó hiện ra như cổ tích. Rồi nhà thơ hoài niệm: Thấp thoáng rùa Vàng ngậm kiếm trước thuyền vua (Chiều Hồ Gươm).

Đà Lạt là vùng đất chị dành ưu ái đến nhiều và viết nhiều về đây: Mây ơi đến tự phương nào/Mà giăng kín cả lối vào rừng thông/Để cho nước biếc chạnh lòng/Để con thuyền nhỏ mắc dòng tương tư. (Hồ Tuyền Lâm). Chị viết về sông Sài Gòn: Ba trăm năm lẽ vơi đầy/Sông giờ trẻ lại hơn ngày hôm qua/Lặng thầm gom góp phù sa/Làm nên mảnh đất đậm đà nghĩa nhân. (Sông Sài Gòn).

Trong tập thơ, chị dành nhiều về quê hương Hải Phòng, nơi chôn nhau cắt rốn của chị: Một tự hào về quê hương cụ Trạng, rồi bồi hồi trở về sông Cấm: Sông Cấm ơi tự thuở nào/Mà ta nghe sóng rì rào bên nôi/Bỗng mùa phượng đỏ tháng Năm/Bao nhiêu mơ ước trăm năm ùa về/Bến sông, cầu cảng, tàu bè/Xôn xao con sóng tràn trề niềm vui. (Trở về sông Cấm). Chị vui với quê hương đổi mới: Quê giờ rộn rã tiếng ve/Xôn xao sông Lấp, phượng khoe má hồng/Đồ Sơn thức dậy Đồi Rồng/Vũ Yên rực sáng bên dòng Cấm giang (Tháng Năm).

Nhà thơ Trần Kim Dung đặt bước chân đến nhiều nơi trên đất nước và cả nhiều nơi trên thế giới. Thấy chị vừa mới viết về quê đó, nhưng khi đến một vùng đất khác thì những miền ký ức của chị lại ùa về. Ở nước ngoài thì nhớ về đất nước, ở trong nước thì nhớ về quê hương, ở quê hương thì nhớ về quá khứ, nhớ về lịch sử hào hùng của dân tộc. Viên mãn sống với thời hiện tại lại nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ về thời gian khó. Những miền ký ức cứ đeo bám chị, nặng tình với chị bởi trái tim người thi sĩ trong chị cũng luôn nặng nghĩa với tình đất, tình người không kém. Khi ở trên đất nước Triệu Voi, chị viết: Đi giữa cố đô ngói cổ êm đềm/Ngỡ được về Hội An đất Quảng/Gặp Chăm pa trên đường loang loáng/Nhớ Yên Tử quê nhà hoa đại trắng trong mây. (Tản mạn về Lào). Khi ở xứ Kim Chi: Sớm tối kim chi rong biển mời chào/Áo Hanbok đủ sắc màu, ý tưởng/Bỗng thấy nhớ nhà mơ bữa cơm rau muống/Cà pháo giòn canh cua nấu rau đay ! (Xứ Kim chi).

Còn ký ức về một thời oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc, chị viết khi ở địa đầu Móng Cái: Đây Pò Hèn ghi dấu những ngày đêm/Khói lửa ngút trời bên kia tràn tới/Chúng đốt phá cả một vùng biên giới/Bao nhiêu người đã anh dũng hy sinh/Tượng đài Pò Hèn cao vút trời xanh/Xin được cúi đầu nơi biên cương Tổ quốc/Ta đứng đây trông về Cà Mau rừng đước/Thấy bờ biển chữ S vững chắc trước biển Đông. (Địa đầu Móng cái). Thăm Cầu Tàu 914 ở Côn Đảo chị lại nhớ: Trông ra cầu tàu 914/Thấy người tù xưa khuân đá gục bên cầu/Kiệt sức, đòn roi hàng nghìn người bỏ mạng/Để cây cầu mang mãi nỗi đau. (Về Côn Đảo). Bước sang tuổi tám mươi, đã hoàn thành nhiệm vụ với đời, cháu con phương trưởng nhưng chị vẫn luôn nhớ về một thời gian khó như là nhắc nhở mình, nhắc nhỏ cháu con và cám ơn cuộc đời đã cho chị ngày hôm nay: Thương lắm mẹ cha cực khổ kiếm tiền/Vắt kiệt sức nuôi đàn con khôn lớn/Mẹ mắc bệnh ra đi, cha một mình hôm sớm/Con không làm được gì để đền đáp Mẹ ơi ! (Tháng Tư ấy). Hay: Đội ơn mẹ cha đã cho con có mặt trên đời/Cám ơn cháu con cùng những người yêu dấu/Cho tôi ấm áp đủ đầy, sẽ chia quý báu/Trong an bình, hạnh phúc thân thương/Mong được khỏe vui để đi nốt đoạn đường/Ngày viết đôi câu gửi vào mây gió. (Tháng Tư ấy).              

Với điệp trùng hoài niệm về những miền ký ức, nhà thơ Trần Kim Dung đã dẫn dắt ta đi trong nhiều cung bậc cảm xúc, ta như đã hòa nhập với những cảm, những nghĩ của chị lúc nào không biết. Điều này đã làm nên thế mạnh và sức hấp dẫn của tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong.

  Lời thơ giản dị, chân thành nhưng không thiếu đi những thủ pháp ẩn dụ, liên tưởng, nhân cách hóa… góp phần tạo nên sức hấp dẫn của tập thơ. Chị gọi những “đại lão Tùng”, “lão Đại”, “cụ Đề”, “cụ Đa”, “cụ Lộc vừng”, “cụ Sưa”, “cụ Phượng”… nghe thật gần gũi và thú vị. Chị nhìn thấy cầu Long Biên “Dũng mãnh như Rồng bay trong gió, một mình khiêng rét vượt qua sông”, hay “Lăng Cô cát trắng đón chào/Rồng bay lên núi, lượn vào mây xanh/Hải Vân quan đứng giữ thành/Áo khăn rêu phủ, trên mình đẫm sương. (Đèo Hải Vân).

Tập thơ có nhiều câu thơ hay, gợi cảm, gợi nghĩ: Làng cổ Đường Lâm rộn rã sớm trưa/Tường đá ong như lá phổi phập phồng ngàn năm vẫn thở…(Làng cổ Đường Lâm); Đi trong hương nhãn tràn trề/Tiếng chuông thức dậy bốn bề trời xanh (Chùa Nôm); Đền Quan Lạn quân tướng về dậy sóng/Trống hội quạt cờ nghiêng ngã bến sông Mang (Chốc lát Vân Đồn); Hải Vân đứng giữa sơn hà/Ngàn năm mây trắng la đà biển xanh (Đèo Hải Vân); Bến nghiêng xanh biếc đồi thông/Trời nghiêng một dãi mây hồng rong chơi/Lưới thuyền nghiêng mẻ cá tươi/Chiều nghiêng một giọt chuông rơi bồng bềnh. (Bến Nghiêng).

Có thể nói nhiều điều hơn nữa về tập thơ, nhưng với bấy nhiêu thôi, tập thơ cũng đã thành công mỹ mãn. Xin chúc mừng Tác giả, Nhà thơ Trần Kim Dung với tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong được nhiều bạn văn đón nhận và chúc chị tiếp tục gặt hái được nhiều thành công hơn nữa trên con đường văn chương của mình.  

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2026, 

N.M.O.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm