TIN TỨC

Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-17 13:23:11
mail facebook google pos stwis
26 lượt xem

NGUYỄN PHƯƠNG HÀ 

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.

 

Nhà văn Minh Chuyên

 

1. Tận cùng nỗi đau

Chúng ta không thể quên bao chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh, bao thành phố, làng quê bị bom đạn tàn phá, huỷ diệt trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước hoà bình, thống nhất nhưng nỗi đau thương, mất mát vẫn còn nhức nhối trên cơ thể đất nước, trong cuộc đời và số phận của biết bao cựu chiến binh, thương binh, gia đình liệt sĩ và cả những lớp trẻ em sinh ra sau chiến tranh. Truyện Đứa con màu da thú kể về bi kịch của cựu binh Nguyễn Văn Thắng - người từng tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam và chiến trường Campuchia. Anh bị nhiễm chất độc dioxin lúc nào không rõ. Sau chiến tranh, anh Thắng trở về lập gia đình với  với người yêu là Khoa. Hạnh phúc đang đến thì bi kịch cũng ập đến khi hai đứa con lần lượt ra đời đều tật nguyền, dị dạng. Đứa con gái đầu của anh là một “hình nhân da thú”, “đen óng, lông lá phủ đầy người. Trên lưng đứa bé nổi lên những cục sần to bằng quả cà, quả táo, đỏ chót, ri rỉ nước vàng. Bên cạnh những cục sần ấy là những chòm lông đen tua tủa, dày đặc”. Đứa con thứ hai cũng là một dị nhân: “Con nó hơi dị hình nhưng có nhiều nét rất giống người. Da không dày lông đen kịt như chị nó”. Mười năm trời không lương bổng, phụ cấp, vợ làm phụ hồ, chồng đạp xích lô, anh chị đã vất vả gian lao nuôi hai đứa con “bất thành nhân”.  Anh cố gắng hết mình nhưng vì nhiễm chất độc da cam, bệnh tật tái phát đã làm anh kiệt sức và gục ngã.

Biết bao đứa trẻ sinh ra không được làm người. Em lại Thị Hà (Truyện: Chiếc cũi trần gian) là một trường hợp như thế. Bé Hà sinh ra với hình hài dị dạng và gần như vô thức. Em không biết nói, ăn mọi thứ như côn trùng, chuột chết, nhổ cả tóc mình ăn và thích ngâm nước. Để bảo vệ con trước những nguy cơ rình rập, vợ chồng chị Ngoãn (bố mẹ Hà) phải nuôi con trong chiếc cũi tre suốt 15 năm trời: “Chiếc cũi hình chữ nhật, xung quanh là những chắn song tròn làm bằng tre. Bên dưới ghép dày hơn kiểu ghép lát giường”. Nguyên nhân nỗi đau của bé Hà và bi kịch gia đình chị Ngoãn từ anh Lại Đình Hằng (bố của bé Hà) đã nhiễm chất độc chết người khi là chiễn sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 204 thuộc Bộ Tư lệnh 315 chiến đấu ở chiến trường Đông Nam bộ và những cánh rừng ở nước bạn Lào trong thời kỳ chống Mỹ. Chất độc da cam đã thấm vào cốt tuỷ và máu của anh, truyền sang vợ anh để tạo nên cái thai bất thường trong bụng vợ. Đứa con ra đời “đội lốt mặt người” nhưng tâm tính thì của loài hoang thú.

Truyện Con tôi không phải là người kể về cựu binh Lê Văn Lớp, quê ở xã Hoà Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ). Trở về sau chiến tranh, anh Lớp cùng vợ là chị Nguyễn Thị Dung đã trải qua chín lần sinh nở, mà những đứa trẻ sinh ra đều là những “quái thai” không thành người. Mỗi lần sinh nở cũng là lần vợ chồng anh lặng lẽ gói đứa con đem chôn với nỗi đau xé lòng. Trong nỗi đau tận cùng, chị Dung trở thành người tâm thần, vô thức, đi khắp nơi tìm con. Khi tỉnh táo trở lại, chị Dung đã đi hỏi vợ mới cho chồng, mong có được đứa con lành lặn. Nhưng đứa con của người vợ thứ hai sinh ra cũng là một sinh linh không phải là người: “Cháu nó giống như con mèo vậy, lông lá mọc kín người, lại chẳng có mắt, có mũi gì hết. Vừa lọt lòng, nó đã tắt thở rồi”.

 

Ảnh bìa sách "Sau cuộc chiến là cuộc đời"

 

Truyện Vào chùa gặp lại, kể về cuộc gặp gỡ giữa tác giả (nhà văn Minh Chuyên) và nữ tu sĩ Lương Thị Thân, tu ở chùa Đông Am, xã Quang Bình. Bà nguyên là sĩ quan Quân y Đường dây 559, nay là thương binh trở về địa phương. Rong ruổi qua 27 ngôi chùa ở tỉnh Thái Bình (cũ), tác giả đã gặp gỡ 29 Sư thầy, sư bác, qua đó chúng ta hiểu được hoàn cảnh éo le và con đường đến với cửa Phật của bà Lương Thị Thân cũng như nhiều nữ cựu binh, thanh niên xung phong trở về sau chiến tranh. Vì nhiễm chất độc da cam, sức khoẻ giảm sút bởi vết thương hoặc bệnh cũ tái phát, hay lỡ thì quá lứa, họ đã tìm đến tu ở các chùa với những việc làm đầy tình người và ý nghĩa nhân văn. Đó là sư bà Đỗ Thị Mến, một cựu thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ trở về sau chiến tranh. Bà đã góp nhiều công sức cùng bạn bè, người thân xây dựng Đền thờ Bác Hồ ngay trên mảnh đất của mình và tực tiếp trông coi hương đèn nơi đền thờ đó. Sư bác Trương Thị Minh, nguyên là Đảng viên, chiến sĩ thông tin Trung đoàn Sao Đỏ, sau chiến tranh đã vào “đèn nhang” ở chùa Tân Thanh. Sư thầy Nguyễn Thị Phương là nạn nhân chất độc da cam, thương binh hạng 4/4. Bà đã gửi thân nơi cửa Phật vì không muốn sinh ra những đứa con tật nguyền, dị dạng, vv… Chiến tranh đi qua, nỗi đau còn ở lại,  vẫn còn đó bao những cảnh đời đau thương, những số phận nghiệt ngã, những đứa trẻ sinh ra không được làm người. Nỗi đớn đau dai dẳng, xé từng khúc ruột tưởng không thể chịu đựng nổi, nỗi đau của hàng triệu người còn diễn ra mấy chục năm sau chiến tranh. Chiến tranh là thảm hoạ khủng khiếp nhất của con người, là bi kịch lớn nhất của nhân loại, lại do chính con người gây ra. Tác giả không lớn tiếng tố cáo nhưng những hình ảnh đau thương đầy ám ảnh đó đã nói lên được nhiều điều có ý nghĩa sâu sắc.

Chiến tranh còn tạo ra những hoàn cảnh éo le, đầy bi kịch của người lính trở về sau cuộc chiến. Đó là câu chuyện cảm động, xót xa và đầy uẩn ức của cựu binh Trần Quyết Định - một người lính từng được báo tử rồi đột ngột sống sót trở về, và hành trình gian nan kéo dài gần ba mươi năm chỉ để “làm thủ tục” của một người chưa chết (Thủ tục làm người còn sống). Trần Quyết Định quê ở xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, tham gia quân đội, chiến đấu ở chiến trường biên giới Tây Nam. Anh được đơn vị báo tử ngày 20/ 12/ 1978 nhưng thật bất ngờ khi chín tháng sau, anh đột ngột khoác ba lô trở về gia đình. Thực ra, trong trận đánh chiếm lại điểm cao 62 ở địa phận Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bị quân Pôn Pốt lấn chiếm, Định bị thương nặng, máu ra nhiều nên đơn vị tưởng anh đã hy sinh. Anh được đưa đi điều trị nhiều ngày ở các Quân y viện, được cấp giấy chứng thương. Rời Quân y viện, Trần Quyết Định đi tìm đơn vị nhưng đơn vị anh đã chuyển sang chiến đấu ở Campuchia, anh không thể tìm được, đành trở về quê. Niềm vui đoàn tụ chưa trọn vẹn, Định và gia đình đã rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đời sống nghèo đói, đông con, vết thương tái phát, sốt rét trở lại hành hạ với những cơn đau nhức nhối. Chế độ gia đình liệt sĩ bị cắt nhưng chế độ thương binh và thủ tục của một người sống không làm được. Định làm đơn đi khắp các “cửa quan” từ xã, huyện lên tỉnh. Huyện đội giới thiệu lên Phòng Thương binh. Phòng Thương binh chuyển đơn sang Huyện đội. Huyện đội giới thiệu lên Sở, Sở đề nghị sang Ban Chính sách hậu phương. Hồ sơ của Định gửi lên Hà Nội, đến Cục Tổ chức động viên của Bộ Tổng Tham mưu, ở đây lại giới thiệu về đơn vị giải quyết. Cứ thế, nơi nào, đơn vị, tổ chức nào cũng hứa hẹn, an ủi nhưng không ai giúp đỡ được. Trần Quyết Định được sự giúp đỡ nhiệt tình của một nhà báo (tác giả Minh Chuyên). Hai ngườ lặn lội khắp trong Nam, ngoài Bắc nhiều chuyến, nhiều năm trời, có lúc bị kẻ cắp lấy mất cả hành lý, tiền bạc phải đi xin để có tiền trở về quê, thế nhưng cũng không giải quyết được. Có lúc anh Định đã thấy bất lực, tuyệt vọng với khó khăn và hoàn cảnh trớ trêu của mình: “Em chả thiết sống nữa…hẳn như phải nằm dưới mộ ở nghĩa trang Thạch Tây, thì gia đình em lại được vẻ vang, anh em mình cũng đâu đến nỗi  chịu khổ nhục thế này”. Thời kỳ trước Đổi mới, điều kiện kinh tế khó khăn, hệ thống quản lý hành chính quan liêu thời bao cấp, văn bản chính sách bất cập, phức tạp, chồng chéo, nhiều cán bộ các cấp yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm và tiêu cực, tham nhũng vặt tràn lan. Nhiều trường hợp, họ đùn đẩy trách nhiệm hoặc gây khó khăn để nạn nhân phải chi tiền hối lộ, gây nhiều, phiền toái khổ sở cho người dân. Đúng như lời nhân vật Duyến đã nói: “Giấy tờ, thật giả, bây giờ người ta có quan tâm lắm đâu. Cứ có cái khoản kia là xong tất. Còn không á, có khi thật lại hoá giả”. Những người có hoàn cảnh đặc biệt như Trần Quyết Định là không nhiều nhưng cũng không hiếm những cảnh khốn khó của người dân khi phải tìm đến các cơ quan công quyền để giải quyết những thủ tục hành chính phức tạp.

2. Tình người toả sáng

Nhà văn Minh Chuyên không chỉ thể hiện nỗi đau khổ, bi kịch đến tận cùng của con người sau chiến tranh mà còn ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của những cựu chiến binh, ngợi ca tình tình yêu thương, sức chịu đựng và lòng vị tha cao cả của người Việt Nam thể hiện trong những hoàn cảnh bi kịch ấy. Chiến tranh đã lùi xa, bao người chiến sĩ đã trở về đoàn tụ với gia đình nhưng cựu binh Thắng vẫn bặt vô âm tính (Trở lại kiếp người). Chiến sĩ Thắng trên đường đi công tác lẻ, bị địch phục kích, bị thương nặng, được đàn vượn lấy lá thuốc chữa vết thương. Cũng từ đó anh bị bệnh tâm thần, mất trí nhớ và sống cùng đàn vượn trong rừng hoang ở tỉnh Đắk Lắk suốt 10 năm trời. Người yêu của Thắng là Trang cùng Dũng - một đồng đội cũ của Thắng, đã trải qua hành trình với bao gian lao, vất vả, hy vọng và thất vọng để tìm kiếm anh. Có khi họ đã tìm thấy Thắng, nhưng đàn vượn rừng lại đưa anh đi vào rừng sâu. Cuối cùng, nhờ tình yêu, lòng nhiệt tình và quả cảm của Trang, tình đồng đội của Dũng, họ đã tìm thấy anh Thắng, đưa về Quân y viện điều trị và đoàn tụ với gia đình ở khu kinh tế mới tỉnh Đắk Lắk. Đó là tấm lòng nhân hậu, tình người cao cả của ông bà Châu và chị Dung ở khu tập thể Thủ Lệ 1, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Ông bà đã cưu mang, chăm sóc một người tâm thần lang thang ăn xin đầu đường cuối phố có tên là “Kích sẹo” (Người không cô đơn). “Kích sẹo” chính là cựu binh Nguyễn Đình Thúc, người chiến sĩ đã được báo tử nhưng thực ra anh chỉ bị thương nặng, lạc đơn vị. Vì bị bệnh tâm thần, khi đang điều trị ở Quân y viện, anh Thức tìm đường về quê là bị lạc lối ở Hà Nội. Anh lang thang nhiều nơi rồi trôi dạt về Cầu Giấy. Trải qua bao biến cố, bao vất vả nhọc nhằn, nhờ sự tận tâm chăm sóc, tình yêu thương thông cảm của ông bà Châu và chị Dung, anh Thúc đã được trở về đoàn tụ với gia đình ở tỉnh Thái Bình (cũ). Truyện Linh hồn Việt Cộng là câu chuyện đầy tính nhân văn về hành trình chuộc lỗi của cựu binh Mỹ - Homer Steedy nhiều năm sau cuộc chiến. Homer đã bắn chết chiến sĩ Giải phóng quân Hoàng Ngọc Đảm tại chiến trường Tây Nguyên, ngày 18/ 3/ 1969. Điều đó làm ông ân hận mấy chục năm trời sau chiến tranh: “Sau cái phút kinh hoàng ấy, hình ảnh người lính Việt  Cộng đã khắc sâu vào tim tôi. Và linh hồn của anh ấy đã ám ảnh tôi suốt hơn 30 năm qua”. Ông đã đưa chiếc ba lô và những kỷ vật khác của người lính Hoàng Ngọc Đảm nhờ mẹ cất giữ trên bàn thờ của gia đình mình ở Mỹ. Nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và các cơ quan hữu trách, ngày 13/ 5/ 2008, Homer đã đến Việt Nam, thăm lại chiến trường xưa, đưa hài cốt của liệt sĩ Đảm về quê nhà an táng trong niềm xúc động nghẹn ngào. Ông cũng đưa những di vật của Hoàng Ngọc Đảm mà ông đã cất giữ nhiều năm như một phần “linh hồn” của người lính. Hận thù đã được hoá giải, nỗi đau đang được chữa lành sau những mất mát đau thương…

 

Tác giả Nguyễn Phương Hà

 

Ẩn hiện trong những trang văn là hình ảnh nhân vật “Tôi” - người kể chuyện: Nhà báo, nhà văn Minh Chuyên. Từ một người lính trở về sau chiến tranh, Minh Chuyên thấm thía nỗi mất mát, đau thương, bất hạnh của những nạn nhân chiến tranh và bi kịch của gia đình họ. Ông trăn trở, thao thức vì hoàn cảnh đau thương của người lính thời hậu chiến nhưng không biểu hiện tình thương bằng những lời cảm thán mà bằng những hành động cụ thể, những việc làm thiết thực đầy nghĩa tình với đồng đội và nạn nhân chiến tranh. Nhà văn đã đến nhiều nơi, tìm gặp những mảnh đời bất hạnh, những em bé tật nguyền - nạn nhân chất độc da cam, lòng quặn thắt chứng kiến những cơn đau cháy xé da thịt các em từng dây, từng phút. Bước chân nhà văn đã cùng nhân vật của mình vào Nam ra Bắc, vượt qua núi rừng hiểm trở đến những chiến trường cũ xa xôi, đến cơ quan này, nhân chứng kia để tìm sự thật, đòi lại công bằng, quyền lợi chính đáng cho những cựu binh bất hạnh. Nhà văn đau nỗi đau xé lòng của nạn nhân chiến tranh, chia sẻ những nhọc nhằn và cả những rủi ro, hiểm nguy của họ trong hành trình tìm lại giá trị của cuộc sống. Phải là một người lính có tình đồng đội ca cả, lòng yêu thương và đồng cảm sâu sắc với nạn nhân chiến tranh thì mới có lòng nhiệt tình và dấn thân như vậy.

Nhà văn Minh Chuyên có lối kể chuyện chân thật, tự nhiên, không dùng những thủ pháp nghệ thuật cầu kỳ, phức tạp. Kết cấu đơn giản, hợp lý theo mạch sự kiện và nhân vật, dễ tiếp nhận đối với công chúng người đọc. Tác phẩm Sau cuộc chiến là cuộc đời chinh phục lòng người bởi những câu chuyên cảm động và chi tiết chân thật, sinh động; bởi  giá trị hiện thực, giá trị nhân văn cao cả toả sáng. Ngôn ngữ văn xuôi tự sự hoà quyện với ngôn ngữ đậm chất báo chí, vừa giản dị, trong sáng, tự nhiên, góp phần tạo nên phong cách độc đáo của tác giả. Bằng ngòi bút yêu thương và trách nhiệm, nhà văn Minh Chuyên đã thể hiện nỗi đau khổ, bất hạnh tột cùng của những nạn nhân chiến tranh, từ đó dẫn gợi sự đồng cảm, sẻ chia của nhân loại và cất lên tiếng nói tố cáo sự khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh xâm lược.

Bài được viết nhân dịp tác giả đọc: Sau cuộc chiến là cuộc đời, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2025)

N.P.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm