TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Những câu chuyện cổ tích thời hậu chiến - Bút ký của Ngọc Tấn

Những câu chuyện cổ tích thời hậu chiến - Bút ký của Ngọc Tấn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-10 23:42:28
mail facebook google pos stwis
1426 lượt xem

       

I

Cũng kiểu nhà sàn làng Tung nhưng nó lão quá rồi. Mái tôn rỉ từng đám đỏ khè. Vách ván rêu bám đen kịn, lỗ chỗ vết thủng. Các cột giữa lún xuống khiến căn nhà trông tựa con sâu róm oằn lưng. Được cái rất sạch sẽ. Làng này gầm sàn nhà ai cũng nhoét nhoe những vũng heo đằm, chỉ riêng ông là không…Chúng tôi cất tiếng gọi. Phải đến lần thứ ba mới thấy chủ nhà đi ra. Đó là một ông lão gầy khằng mặc độc chiếc quần cộc, cái tẩu lệch miệng vương vít khói. Một nụ cười bối rối làm nhăn nhúm cả khuôn mặt “Tôi nặng tai nên không nghe rõ. Thôi mời các anh lên nhà…”.

 Trải tấm chiếu ra sàn cho khách ngồi, ông vội đi mặc quần áo. Khi mắt đã quen với không gian nhập nhọa, tôi nhận ra một bà lão đang ngồi cạnh bếp. “Vợ tôi đấy” – ông giới thiệu vắn tắt rồi nói một câu gì đó bằng tiếng Jrai. Bà lão đứng dậy đi vào góc nhà lấy quả bầu đen bóng nút lá chuối dốc nước vào chiếc soong nhôm lúi húi đun nước mời khách. Tôi nhìn quanh cố tìm chút dấu vết bài trí của một căn nhà có người Kinh ở nhưng tịnh không thấy. Vẫn là một góc đầu hồi làm bếp, gian giữa để mấy chiếc ghè đầy bụi bặm, đầu hồi là nơi ngủ của các con… Thế này và cứ trông ông như lúc nãy thì có ai ngờ…                                        

- Từ hồi tiếng đồn tôi là “liệt sĩ” ba mươi năm lan ra mới có người Kinh tìm đến đấy – ông Khoa chậm rãi vào chuyện. Họ đến vì sự tò mò hơn là mục đích thăm tôi. Biết vậy nhưng với ai tôi cũng không giấu diếm. Chiến tranh mỗi con người một số phận. Tôi đã làm điều không phải nhưng không phản bội, đầu hàng địch. Có thế bây giờ tôi mới có thể thanh thản ngồi nói chuyện với các anh…Ông ngừng lời quay lại nhắc vợ mang nước mời khách rồi tiếp tục:  

 -Tôi nhập ngũ cuối năm 1965 các anh ạ. Đơn vị của tôi lúc ấy là đại đội I tiểu đoàn II, trung đoàn 30 tỉnh Hà Nam. Sau thời gian huấn luyện, cuối năm 1966 đơn vị tôi được lệnh đi B. Bắt đầu từ Hòa Bình, cứ men theo đường mòn Hồ Chí Minh mà đi. Cuối mùa khô năm 1967 đơn vị tôi mới đến được Trạm Lập của Khu I (Huyện KBang của tỉnh Gia Lai ngày nay). Chắc là cái số của tôi trời đã định thì phải. Từ hồi vào bộ đội tôi chỉ làm mỗi nhiệm vụ cấp dưỡng. Cũng đã có lúc quá chán cái cảnh soong chảo, nồi niêu tôi xin ra trận nhưng chưa lần nào được cấp trên đồng ý …Cho đến cuối năm 1971 thì tôi được điều về tỉnh đội Gia Lai. Cứ nghĩ lần này chắc thoát, ai ngờ lại vẫn nhiệm vụ đáng chán làm cấp dưỡng. Tôi đã không ngờ được lệnh điều động này là sự bắt đầu cái lối rẽ oái oăm của đơì tôi về sau…               Trong tổ nuôi quân của tôi lúc ấy có ba bốn nữ gì đó nhưng chỉ Rơma H’Choa người Jrai là trẻ nhất. H’Choa lúc ấy mới 23, kém tôi những 15 tuổi. Chiến trường bấy giờ đang trong thời điểm gian khổ. Để có thêm thứ bồi dưỡng cho thương binh, ngày ngày tôi và H’Choa phải vào rừng kiếm rau; vào các làng đồng bào xin thực phẩm. Sự gần gũi công việc đã khiến tình yêu đến lúc nào không hay…Cũng xin nói thêm là trước khi đi bộ đội tôi đã có vợ và hai con, một trai – một gái. Song vì không hợp chúng tôi đã li dị. Hai đứa con tôi gửi đằng nội nuôi. Tất nhiên bây giờ tôi là người tự do. Chúng tôi báo cáo tổ chức. Một bữa liên hoan đơn giản chứng kiến chúng tôi nên vợ nên chồng…         

Khi H’Choa mang thai được hơn tháng thì một sụ biến xảy ra: Địch càn vào cứ. Một quả bom nổ gần khiến tai tôi gần như điếc đặc, hai mắt mờ đi vì khói đạn hóa học. Thấy sức khỏe tôi yếu hẵn, đơn vị cho ra Bắc an dưỡng. Còn H’Choa, trước việc chẳng đừng, đơn vị cũng phải để cô về nhà nghỉ sinh. Chúng tôi chia tay bịn rịn. H’Choa khóc như mưa như gió. Câu mà H’Choa nói được duy nhất là “Nhanh vào với em, đừng bỏ em”. Rồi như sợ mình khuỵu xuống, H’Choa đi như chạy vào cánh rừng thưa trước mặt. Nhìn cái dáng nhỏ nhắn của H’Choa đang khuất dần, ruột gan tôi như nẫu ra… Cô ấy về làng rồi sẽ sống ra sao, ai giúp đỡ cô ấy trong lúc vượt cạn? Chiến tranh còn ác liệt, bom đạn bời bời thế này liệu mình có lọt nổi trên đường ra đường vào? Nhỡ mình hi sinh thì giọt máu của mình ai biết? Không cưỡng nổi tôi đuổi theo H’choah cuống quýt gọi “H’Choa, H’Choa – đợi anh với!’”

                                                                            

Nằm trong vùng “tự do oanh kích” của địch, làng Tung bị bom đạn cày xới xác xơ. Dân làng tản mát gần hết. Bây giờ H’Choa mới biết người chị ruột duy nhất của mình đã bị bom Mỹ giết chỉ mới tháng trước. Chỗ dựa duy nhất không còn, chúng tôi đành chặt cây dựng một căn lều để ở rồi khẩn trương bắt tay vào phát rẫy để có cái ăn. Bà con thương cảm người cho hạt giống, người xúm vào phát rẫy giúp. Ngoảnh đi ngoảnh lại ba tháng đã trôi qua… Thực tình là lúc đầu tôi chỉ định lo xong nơi ăn chốn ở cho H’Choa thì đi ngay. Thế nhưng bây giờ thì tôi thấy không thể. Bụng cô ấy đã lớn. Những cơn mưa dữ dằn đang sắp đến. Lúa mới nảy mầm, năm tháng nữa mới được gặt trong khi cái ăn, kể cả hạt muối chúng tôi cũng phải mượn của dân làng… Ruột gan rối bời tôi đành chặc lưỡi: thôi thì một liều ba bảy cũng liều. Đợi cô ấy sinh nở xong, gửi lại cho dân làng rồi mình trở lại đơn vị. Nói rõ nguồn cơn, các anh ấy không tha thì chịu kỷ luật chứ biết làm sao…

Các chú ạ, con người ta đôi khi lạ lắm. Lúc đắc thắng thì cứ như có ai nắm tóc lôi lên. Nhưng khi đã gặp xui thì cứ như bị ấn đầu mãi xuống bùn… Hồi hộp đợi chờ rồi cũng đến ngày H’Choa sinh. Một bà mụ làng đã giúp cô ấy vượt cạn thành công. Thế nhưng khổ thay H’Choa lại bị băng huyết. Mọi phương thuốc dân làng cho đều vô hiệu. Cuối cùng một người nhớ ra mách: bên làng Kênh có một bà mụ chữa được. Không đôi hồi, tôi nhờ một cậu thanh niên dẫn đường đi ngay. Hai chúng tôi hai bó đuốc băng vào đêm đen. Đến được tận nơi thì tôi nằm vật ra. Sau này mới biết chúng tôi đã vừa đi vừa chạy suốt gần 15 cây số!

 Món thuốc của bà mụ quả là công hiệu. Hai ngày sau thì H’Choa cầm máu. Bữa cơm chỉ muối ớt chấm lá sắn luộc, lâu lâu mới có vài con cá suối bà con cho, vậy mà cô ấy đã dần hồi phục. Một hôm cô ấy bỗng dè dặt nói “Anh này, em đã thấy khỏe, tự lo cho mình được, hay là anh trở lại đơn vị?” Tôi giật mình. Bấm đốt ngón tay gần một năm trời đã trôi qua! Tôi ngồi thừ ra rồi ngần ngừ bảo H’Choa “Có lẽ phải vậy nhưng phải thư thêm mấy bữa. Cũng phải trả nợ lúa má cho bà con, cảm ơn họ rồi đi chứ…” Nêu lý do cho có vẻ vậy, thực tình là tôi muốn lần khân để tự trấn tĩnh, nghĩ cách đối phó… Tâm trí rối bời, cuối cùng tôi thấy tốt nhất vẫn cứ về đơn vị rồi có sao nói vậy. Cái gì phải xảy ra thì cứ để nó tự xảy ra…

Nhưng đúng ngày chúng tôi chuẩn bị lên đường thì “cái tất yếu” đã xảy ra, có điều lại theo hướng khác… Buổi sáng ấy trong cái lạnh thấu xương của khí rừng bao phủ, chợt nghe văng vẳng tiếng ai vừa chạy vừa la. Tôi chay vội tới xem có chuyện gì. Thì ra là ông trưởng làng. Nhún nhảy từng bước như không chạm đất, đến mỗi nhà, khúc nứa trong tay ông lại đập phạch vào cầu thang: “Dậy mau, có tin to. Sài Gòn giải phóng rồi. Mỹ- Ngụy thua rồi, hơ!...”. Tôi khựng lại, hai chân như bị chôn chặt xuống đất. Phải một lúc sau mới định ra lối về. Lần tới căn lều tôi nằm lăn ra sạp nứa, đầu như long ra … Trời ơi, sao bao nhiêu người đang đón nhận cái tin này với một niềm sung sướng vô bờ mà tôi thì lại đau khổ thế này? Sao nó không đến chậm thêm ít nữa để tôi có một cơ hội? Sao nó lại biến tôi thành một kẻ đào ngủ giữa thời khắc này? Mười năm trời, từng khoảng khắc không thể quên hiện về buốt nhói lòng tôi… Là lính nuôi quân nhưng tôi cũng đã bao lần cận kề cái chết. Còn nhớ tháng 2 năm 1968 một quả pháo hú họa của địch rơi cách bếp chỉ chừng mươi mét, một mảnh đạn găm vào ngực tôi, chỉ một li nữa là trúng tim… Tôi đã cùng anh em bao lần vào chết ra sống, không ngờ lại có một ngày vào sống mà ra chết thế này!

Có bước chân nhè nhẹ của H’Choa. Có lẽ cô ấy vừa mới đi hóng tin về. Nhìn giọt nước mắt còn vướng trên má tôi, H’Choa đã hiểu. Cô nói giọng bùi ngùi:

-Anh à, vợ chồng mình không đi hết đường là có lỗi. Nhưng mình không đi chiêu hồi, không đầu hàng giặc. Chắc rồi mai mốt biết ra anh em cũng thông cảm cho thôi!

Tôi nắm chặt tay H’Choa kéo lại gần. Bây giờ chỉ còn cô ấy là niềm an ủi, là chỗ dựa cho những ngày phía trước có lẽ còn rất dài mà tôi chưa biết sẽ trôi về đâu…

Tin miền Nam giải phóng có làm làng Tung nhộn nhạo lên ít ngày rồi lại trở về nếp cũ. Những gì đang diễn ra ngoài kia dường như chẳng tác động mấy đến nhịp sống của mười hai nóc nhà. Mỗi người vẫn là mỗi thế giới khép kín. Họ chỉ mở ra mỗi khi làng có chuyện vui, buồn… Tiếng là đã gần một năm ở làng nhưng thực ra tôi vẫn gần như đứng ngoài cuộc sống. Bây giờ muốn tồn tại, tôi hiểu phải tìm cách hòa mình vào cuộc sống ấy. Để tránh bên ngoài nhòm ngó, tôi đổi họ thành Rơ Châm và học nói tiếng Jrai. Sự ăn mặc của tôi cũng dần dần thay đổi. Lúc đầu còn mặc quần dài, sau thấy vướng tôi chuyên mặc quần đùi. Và khi quần đùi rách hết thì chuyển sang đóng khố. Lúc đầu thấy kì vô cùng nhưng rồi cũng dần quen bởi quanh tôi tất cả đàn ông đều thế, Chừng ba năm sau ngày tôi theo H’Choa về làng, không ai nhận ra tôi là người Kinh nữa: Mặc khố, đeo gùi, hút thuốc bằng tẩu; và trong hội làng tôi cũng ăn bốc, ngồi lê la trên đất như ai… Tôi đã tự đồng hóa mình bởi không có sự lựa chọn nào khác, nếu không muốn bị cô lập trong làng. Đặc biệt là khi tôi nói thạo tiếng Jrai thì H’Choa không nói chuyện với tôi bằng tiếng Phổ thông nữa. Tiếng mẹ đẻ rơi rụng dần thì kí ức cũng phai nhạt trong tôi. Quê hương, họ hàng chỉ còn là một cái bóng xa mờ… Thật ra thì nhiều đêm một mình trong chòi rẫy giữa rừng những gì mờ nhạt đó vẫn quặn lên trong tôi. Đã có lúc tôi nghĩ: hay là cứ đánh liều về quê một chuyến xem họ hàng con cái thế nào? Thế nhưng cái ý nghĩ đó vừa nhú lên thì ngay lập tức đã có một ý nghĩ chắn ngang: Về quê thế nào người ta cũng bảo: cùng đi bộ đội với nhau sao người ta lên úy, lên tá mà ông thì bao năm vẫn là thằng lính trơn, laị bây giờ mới ló mặt ra? Không đi đầu hàng địch thì cũng đào ngủ chứ gì? Thế là như bị giội gáo nước lạnh, tôi lập tức từ bỏ ngay ý nghĩ đó. Đặc biệt là sau việc này xảy ra…

Tôi nhớ là hình như vào khoảng năm 1985 thì phải - ở gần Tung Amô có một kẻ giết người từ Thành phố Hồ Chí Minh trốn lên đây giả dân làm ăn. Trong đoàn công an đi bắt kẻ giết người hôm đó có một anh còn trẻ cứ nhìn tôi chằm chằm, sau đó anh ta hỏi: Chú có phải là Lê Như Khoa không? Nhìn chú rất giống người trong ảnh cháu thấy ở làng. “Có người nhận ra mình” – Một nỗi sợ hãi làm tôi cuống quýt. Tôi lắc đầu nói bằng tiếng Jrai: “Chắc anh nhầm. Tôi cũng là Khoa nhưng mà Rơ Châm Khoa, người Jrai’’. Anh ta lắc đầu thất vọng rồi bỏ đi. Sau sự việc đó tôi càng co mình lại, cố đi thật ít ra khỏi làng, lấy việc rẫy nương làm khuây khỏa… Và cứ thế càng ngày tôi càng trượt dài theo dốc thời gian…                 

Ông Khoa ngừng lời nhấp một ngụm nước, đưa cặp mắt rầu rĩ nhìn chúng tôi như để tìm kiếm một sự thông cảm nào đó rồi kể tiếp:

Cho mãi đến năm 2001 xã Ia Dreng mới thành lập. Người Kinh từ Bình Định lên, người Tày ở Bắc vào; Nhà nước đầu tư cho trường học, điện, đường… bấy giờ làng Tung Amô mới mở cửa ra với cuộc sống bên ngoài. Gia đình tôi cũng bắt đầu thay đổi. Những đứa nhỏ được đi học (tôi có 7 đứa con. Mấy đứa lớn đều thất học) cuộc sống đã đỡ tù túng nặng nề. Tuy nhiên sự mặc cảm cố hữu vẫn chưa hề vơi bớt trong tôi. Và có lẽ tôi sẽ như một con người đã chết nếu không gặp Hùng Tĩnh – một ân nhân của tôi…

Số là khi xã được thành lập, huyện đã cử một đoàn cán bộ địa chính về đo đạc, quy hoạch các công trình cho xã. Hôm đo đạc ở làng Tung Amô, Hùng Tĩnh ngẫu nhiên vào nhà tôi xin nước uống. Thấy tôi anh ta cứ nhìn ngó đầy vẻ nghi hoặc rồi xoắn vào hỏi chuyện. Đấy là người Kinh thứ hai mà tôi được tiếp xúc trong gần ba mươi năm trời! Trước sự nhiệt tình của anh ta tôi cũng bắt chuyện lại, nhưng phải rất chậm mới nhớ ra được vốn từ. Có nhiều câu tôi nói lơ lớ như người Jrai. Hóa ra là Hùng Tĩnh cùng huyện Thanh Liêm, kế bên xã tôi. Phải mất rất nhiều thời gian Hùng Tĩnh mới làm cho tôi nhớ lại được tên người thân, bạn bè… Bây giờ thì sự mặc cảm trong tôi cũng dần vơi bớt… Tôi cởi mở kể cho Hùng Tĩnh nghe tất cả… Sau cùng tôi ngập ngừng ngỏ với Hùng Tĩnh là hai con tôi gửi bên nội nuôi, không biết còn sống hay bị bom đạn chết rồi. Nếu có tin tức gì thì nhờ anh báo giùm… Cho đến lúc này tôi cũng không mong là mình có đủ can đảm để về quê hay có dịp gặp lại các con mình nữa!

Hùng Tĩnh quả là người nhiệt tình hiếm có. Hôm sau về huyện, anh ấy tìm cách gọi điện về quê tôi. Biết hai con tôi còn sống, gia đình bình yên, Hùng Tĩnh trở vào Tung Amô báo tin và bảo tôi viết thư về cho gia đình. Tôi cầm cây bút mà hai tay run bắn. Những con chữ khó nhọc bò ngoằn ngoèo. Hơn ba chục năm nay lần đầu tiên tôi mới cầm cây bút và đặt tay lên tờ giấy!

Đầu năm 2002 qua điện thoại, hai con tôi đã tìm được nhà Hùng Tĩnh.  Rất tế nhị, Hùng Tĩnh không dẫn thẳng chúng vào nhà tôi mà đưa vào ở nhà ông Châu làng Tông Đao, sau đó mới vào đưa vợ chồng tôi đến… Từ ngày biết tin con tôi đã tưởng tượng đến giây phút này. Tôi sẽ nhào vào ôm lấy chúng, và tiếng khóc sẽ vỡ ra uất nghẹn… Thế nhưng bây giờ một tấm chắn vô hình làm tôi sững lại. Có lẽ nào hai con người luống tuổi, tóc đã chớm bạc kia lại là con tôi được? Ngày tôi đi B thằng Long mới 8 tuổi, con Mai 7 tuổi. Chúng ngơ ngác không hiểu tôi đi bộ đội để làm gì kia mà… Còn hai đứa, chúng cũng nhìn tôi nghi hoặc. Lẽ nào cha chúng lại là một ông già đen đúa, lụ khụ đi bên cạnh một bà già mặc váy lộc ngộc… Những lời hỏi han ban đầu cứ như là những người xa lạ bị ép đến gặp nhau. Rất tinh ý, Hùng Tĩnh gợi cho hai đứa kẻ chuyện về quê hương và bà con họ hàng… Từng lời chúng kể như những tia chớp lóe sáng trong trí nhớ u minh của tôi. Một sức hút vô hình khiến chúng tôi nhào tới ôm chầm lấy nhau. Những tiếng khóc vỡ ra nghẹn ngào. Biết bao lâu rồi những giọt nước mắt của tôi mới thực sự trào ra tự đáy lòng như thế…

                   

Hàng bao năm nay cái thôn Đạt Hưng tĩnh lặng của tôi mới xảy ra một chuyện lạ đời như vậy… Ba bốn ngày liền nhà thằng Long con tôi cứ chật ních. Người đến thăm, người đến vì sự tò mò. Cán bộ xã cũng đến làm lễ hạ bằng “Tổ quốc ghi công’’cho tôi. Vậy là tôi đã chẵn ba chục cái giỗ! Đó là tính từ ngày nhà tôi chính thức nhận danh hiệu Liệt sĩ chứ thực sự thì gia đình tôi đã giỗ tôi từ ngày đi B rồi. Từ năm 1965 cho đến 1975 có tin tức gì về tôi đâu! Bởi thế sau ngày miền Nam giải phóng chỉ một thời gian ngắn, xã đã đề nghị  trên công nhận liệt sĩ và xây nhà tình nghĩa cho các con tôi… “Thế sao giải phóng rồi không về quê, chí ít thì cũng có vài dòng báo tin chứ ?’’. Ai cũng xoắn vào tôi câu hỏi ấy. Tôi phải kể đi kể lại cái làng Tung A Mô ngày ấy thế nào, tôi sống trong cái làng ấy ra sao… Bà con có người cảm động chảy nước mắt. Duy chỉ có một điều mà tôi giấu mọi người: Đó là sự mặc cảm của tôi, song le không một ai đả động. Sự trở về của tôi như một câu chuyện cổ tích cuối cùng của chiến tranh… Và tôi hiểu có lẽ chỉ còn tôi là người sót lại sau cùng với cái nếp nghĩ đã qua thời…                                                 

Ông Khoa đứng lên đi tìm cho chúng tôi một cái gì để quạt vì thấy lưng áo ai cũng ướt mồ hôi… Vợ và các con ông đã lên rẫy. Căn nhà im ắng. Thỉnh thoảng con tắc kè nấp đâu đó lại rướn lên vài tiếng kêu ngắn ngủn. Nhìn dáng đi cóm róm xo xụi của ông, trong tôi bỗng gợn lên một ý nghĩ xa xôi: Liệu ông có còn cơ hội thấy lại quê cha đất tổ? Dường như đoán được ý nghĩ của tôi, ông đón chuyện:

-Tôi định ở lại quê chí ít là một tháng để chuyện trò với anh em, họ hàng cho đã. Nhưng mới được hơn mười ngày đã thấy trong bụng như kiến cắn. Ăn uống, tiện nghi sinh hoạt chẳng thiếu thứ gì. Quê tôi bây giờ sướng quá! Thế nhưng hóa ra tất cả những thứ đó lại không hợp với tôi. Từ lâu tôi đã là con người của núi rừng rồi. Với tôi căn nhà sàn này, mùi mồ hôi của bà Choah và những đứa con thô tháp như giọt mật ong rừng này mới thực sự là cuộc sống… Thế là dù họ hàng, con cháu xoắn xuýt tôi vẫn một hai xin vào lại Tung A Mô…                

Và bây giờ thì hẳn ông đã mãn nguyện với nẻo tình duyên mình chọn. Chiến tranh đã lùi xa. Dư luận đã xóa án cho ông. Tôi biết những người lính sau chiến tranh có hoàn cảnh tương tự vẫn lựa chọn như ông đã lựa chọn. Không ai vứt bỏ sự lựa chọn của mình dù nhiều người có cơ hội “giải phóng”. Tình yêu ấy chỉ người lính một thời mới có…Tôi nói lại ý nghĩ của mình với ông Khoa. Ông nhìn tôi với vẻ mặt đầy xúc động “Chú nói nghe được lắm. Lần đầu tiên trong những người đến đây, tôi mới thấy có người hiểu bọn tôi là vậy…’’.                                                                     

II

Trước khi vào làng Kuk tìm ông, tôi đã nghe không ít lời đồn đại chuyện thuốc thư, bùa ngãi khá ly kỳ ở ngôi làng này. Người mách tin cho tôi thậm chí còn quả quyết:  Cứ cho là trước đây rừng núi mịt mù, điều kiện liên lạc không có thì cũng đành. Bây giờ ở làng Kuk, đến đứa trẻ con cũng biết điện thoại di động mà vẫn không nghĩ đến chuyện về quê hay tìm cách liên lạc với gia đình thì tôi tin chắc là ông ấy đã bị bỏ bùa ( ! )

Bây giờ thì Đinh Xuân Vi đang ngồi trước mặt tôi… Quần cộc, chiếc áo khép hờ lộ tấm thân gầy. Rất tự nhiên, ông cứ ngồi bệt giữa nhà mà tiếp khách. Tôi hiểu là nếp làng đã bắt vào ông. Giá vô tình gặp ngoài đường, tôi cũng sẽ đinh ninh ông là một già làng như bao nhiêu già làng khác…

 Quê tôi ở tận thị xã Yên Bái – ông Vi chậm rãi bắt đầu câu chuyện... Tôi nhập ngũ năm 1965, phiên hiệu đơn vị bây giờ chỉ còn nhớ là Tiểu đoàn 1, Quân khu Việt Bắc. Được một năm thì đi B, phiên chế về Binh trạm Trung, Mặt trận B3. Suốt 14 năm lăn lộn với chiến trường Tây nguyên ác liệt, chẳng nhớ nổi tôi đã qua bao nhiêu sắc lính: Khi là trinh sát, thông tin; lúc coi kho, lúc vệ binh… Cấp bậc cũng đã trung uý, đại đội trưởng. Với trình độ văn hoá lớp 10 nữa, lẽ ra không vì cái sự cố ấy thì sau này chí ít cũng được cái lon thượng tá mà về hưu, đâu phải mỏi mòn ở cái làng này cho đến bây giờ…

Ông Vi dừng lại rít một hơi thuốc vẩy tàn xuống nền nhà, giọng bỗng trở nên xa xăm:

 - Số là cuối năm 1972 tôi được giao phụ trách kho gạo ở đồn Ba Không… Một đêm nghe tiếng mưa đổ bất thường, tôi tỉnh giấc nhìn ra thì đã thấy bốn bề nước láng băng. Ở xứ này những cơn mưa lở trời lở đất như thế cũng chẳng phải hiếm gặp. Đang định khoác nilon ra kho xem thế nào thì đã nghe ngoài vách tiếng rào rào nổi lên như có bầy voi rừng đang đạp cây tiến đến. Một cơn lũ quét bất chợt ập về. Chúng tôi ngoi ngóp trong làn nước, may mà không ai bị cuốn trôi. Định thần lại nhìn ra bờ suối thì kho gạo đã bay biến mất tự lúc nào… Sự cố bất khả kháng nhưng tất cả lính kho đều bị kỷ luật, và đương nhiên tôi là người nặng nhất. Cũng cứ nghĩ đấy chỉ là cái án nhất thời, nào ngờ cho đến tận ngày giải phóng, mọi cuộc bình bầu khen thưởng tôi đều bị gạt ra… Nghĩ mình vào chết ra sống bao nhiêu trận, cũng huân, huy chương đủ cả, thế mà chẳng ai nghĩ đến chuyện giải oan. Không nén nổi sự bất bình, tôi viết một bức thư cho chỉ huy, đại ý: Bao nhiêu năm bom đạn ác liệt cũng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ ngũ hay thoái lui. Bây giờ đất nước hoà bình, phận sự đã tròn, tôi muốn được ra ngoài tạo lập cuộc sống. Xin hứa dù bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không làm điều gì ảnh hưởng đến thanh danh người lính…

 Mỗi bộ quần áo trên người, tôi lội rừng về làng Kuk. Mới chạy nạn ở Campuchia về, làng Kuk bấy giờ xác xơ đói rét lắm, song cũng chẳng biết đi đâu bởi đây là nơi duy nhất tôi có người quen. Nghe tôi kể đầu đuôi, ông Chơn chủ tịch xã bảo: cứ ở chơi rồi từ từ hãy tính… Và rồi trong những ngày vô vị ấy, tôi đã tình cờ gặp Rơ Ma Thận. Cô vốn là thanh niên xung phong của Mặt trận B3. Cũng đã gặp mặt một đôi lần gì đó ở binh trạm nhưng tôi đâu có hay cô ở làng này. Như là duyên tiền định, chỉ con gà với ghè rượu, chúng tôi nên vợ nên chồng…

 Nhà Rơ Ma Thận chẳng giúp được gì, chúng tôi bắt đầu tạo dựng cuộc sống từ con số “không”. Sáng tinh mơ đã chui ra khỏi lều, chiều nhọ mặt người mới chui về, vậy mà ba năm đầu cũng đói vàng cả mắt, có khi phải đi đào củ mài. Nguyên do là sốt rét hoành hành. Mỗi gùi lúa ba chục cân chỉ đổi được liều thuốc sốt. Bệnh tật rình rập, song với tôi đáng sợ hơn là sự mê tín. Chỉ thấy đau, bất kỳ nặng nhẹ là bà con đi bói thầy cúng. Cả nhà tôi cũng vậy. Vợ chồng bất bình luôn vì chuyện này… Trong môi trường ấy, dù tôi có cố thì sự lấm láp của gia đình cũng là điều không thể. Buồn nhất là các con tôi. Có đe nẹt hết cách, một đứa cũng tới được lớp 6, một đứa men tới lớp 9 thì bỏ. Chúng thích lên rẫy hơn là đến trường. Đau nhất là đứa con đầu. Nó cao to, trắng trẻo, đẹp trai nhất làng. Với đồng bào, điều khác thường như vậy chỉ là do ma lai ám. Giá là con ai khác thì bị giết công khai rồi, song có lẽ vì ngại tôi, người ta chỉ xầm xì bàn tán. Thế rồi bỗng dưng nó bị bệnh, chết một cách bí hiểm. Vợ tôi quả quyết là cháu bị bỏ thuốc thư. Tôi chẳng tin nhưng nỗi đau này cứ ám ảnh tôi không thể nào nguôi…

 Nhưng dù có lấm láp, nhọc nhằn đến mức nào thì cuộc sống cũng phải đến lúc sáng lên. Làng Kúc như bây giờ các anh thấy: điện, đường ô tô đã đến tận làng. Cuộc sống của tôi giờ cũng không đến nỗi. Nhà tôi có 1 ha lúa nước; 2 ha điều, 2 ha mì. Thu nhập mỗi năm cũng được năm, sáu chục triệu đồng. Tội đào nhiệm của tôi kể như cũng được xoá với việc đã được nhà nước cho hưởng trợ cấp một lần. Vậy thì hà cớ gì tôi vẫn không liên lạc với gia đình, vẫn tự coi mình như là người đã chết ?

 Gói “Era” đã đốt đến điếu cuối cùng. Nền nhà trắng những tàn thuốc lá. Khuôn mặt ông như chìm sau lớp khói sương:

 -Cha tôi mất trước lúc tôi vào bộ đội. Ông có hai vợ. Mẹ tôi, Hoàng Thị Điệp là bà cả. Anh đầu của tôi tên là Thắng, ở nhà làm ruộng. Anh kế tên là Chế đi bộ đội biên phòng (Bấy giờ vẫn gọi là Công an vũ trang). Em gái sau tôi chết vì lũ cuốn cùng hai cô em con bà hai lúc đi xem phim về. Hồi còn chiến tranh, tôi gửi thư hai lần mà chẳng thấy hôi âm. Từ đó cho đến nay – có lẽ cũng hơn bốn chục năm rồi, tôi cũng chẳng biết hai mẹ tôi còn sống không, các anh tôi ai còn ai mất !

 Từ lúc bỏ đơn vị về làng Kuk, thú thật là cũng đã không ít lần tôi nghĩ đến việc về thăm nhà. Con chim, con thú còn biết nhớ cây nhớ cội, con người sao có thể đành đoạn với ruột thịt, quê hương ? Thế nhưng đã có lần khoác túi bước xuống cầu thang, cứ nghĩ đến điều tất yếu là mẹ và các anh tôi thế nào cũng hỏi: cùng đi B với nhau, cũng bấy nhiêu năm vào chết ra sống, sao người ta lên uý, lên tá. Mày trơ cái thân không trở về, nếu không đi đầu hàng địch thì cũng đào ngũ. Chắc là xấu hổ quá nên bây giờ mới dám ló mặt ra chứ gì? Hẳn rằng tôi có thanh minh thế nào thì mẹ và các anh tôi cũng không chấp nhận. Thế là tôi lại khoác túi trở lên nhà. Cứ trượt theo dòng suy nghĩ ấy, thư tôi cũng chẳng viết, điện cũng không… Bây giờ thì dễ chừng tôi đã có bằng “Tổ quốc ghi công” treo ở nhà, nỗi đau của người thân cũng đã lắng. Vậy thì hãy để niềm tin ngủ yên, còn xáo động lên làm gì sự hoài nghi dằn vặt bởi sự “sống lại”  muộn màng này nữa ?

 Tôi không thể không bật cười bởi dòng suy nghĩ cực đoan của ông. “Đã đành là bác có lỗi, nhưng cái nhìn xã hội bây giờ đã thoáng lắm rồi. Mà như bác nói thì nhà nước đã cho hưởng trợ cấp một lần, thế có nghĩa là xem như mình được xoá lỗi. Bưu điện xã ngay kia, chỉ cần một cú gọi dịch vụ là có ngay số điện thoại uỷ ban chỗ bác. Rồi cứ nhắn tin như thế như thế… việc gặp lại người thân chỉ gang tấc mà thôi”. Mặc cho tôi “tán”, ông vẫn cứ ngồi lặng, lúc lâu mới buông một câu gọn lỏn “Có lẽ rồi cũng thử xem ?”

Chắc là nói để lấy lòng khách chứ tôi tin ông chẳng chịu làm đâu ! Sự mặc cảm trong ông đã nặng quá rồi.  Chẳng vậy mà bao năm nay ông đã tự coi mình như người đã chết ?

 

III

Bà Siu Pương đang ngồi sưởi nắng trước hiên nhà. Cả tháng nay cứ cảm giác như có con lươn đang trườn trên da thịt. Cái lạnh cứ thấm vào từng đốt xương rờn rợn… Hôm trước thầy cúng chặt cành cây, bảo bà sải tay do rồi nói rằng có người bỏ “thuốc thư”… Chả hiểu đang bực mình vì đau ốm hay nghe không hiểu, phải đến dăm phút sau bà mới cất tiếng gọi cậu con trai về đưa tôi ra rẫy…

Mặt trời đứng bóng, ông Nguyễn Tiến Chung mới về. Mình trần, chiếc quần dài trễ xuống quá rốn. Khuôn ngực gầy nổi từng đốt xương phập phồng theo nhịp thở. Căn lều mái tôn sùm sụp trên đầu khiến tôi có cảm giác ông mang nguyên từ rẫy về tất cả cái nắng nôi và bụi bặm… “Chẳng nhớ bao năm rồi tôi đã mất hết ý niệm thời gian. Cứ khi nào việc xong thì ấy là giờ nghỉ. Căn lều này, khu rẫy này là tất cả thế giới của tôi…”

… Nguyễn Tiến Chung quê ở thôn Phi Điền, xã Phú Thịnh, huyện Lục Ngạn ( Hà Bắc ). Thực ra đấy chỉ là nơi cư ngụ trước lúc đi bộ đội chứ cha quê Hải Hưng, mẹ quê Nam Định. Ông bà chạy giặc lên đó rồi gặp nhau nên chẳng có họ hàng thân thích gì. Dù là con một, Nguyễn Tiến Chung vẫn xung phong đi bộ đội. Ông nhập ngũ năm 1966, là lính pháo thuộc Trung đoàn 204. Năm 1968 Nguyễn Tiến Chung vào mặt trận Quảng Trị, tham gia chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, tiếp đó sang chiến trường Lào, Campuchia rồi đáo về mặt trận B3. Năm 1975 ông phục viên với cấp bậc trung sĩ…Chuyện cùng Siu Pương nên duyên rồi khép mình trong làng Kuk suốt hơn 35 năm qua là một câu chuyện tình lãng mạn đầy trắc trở - chính xác hơn thì đó là một mối tình lãng mạn nhọc nhằn… Số là năm 1972 do sức khoẻ giảm sút, Nguyễn Tiến Chung được đơn vị chuyển sang làm nhiệm vụ tăng gia sản xuất. Làng Kuk, lúc bấy giờ để tránh sự oanh tạc của địch phải lánh sang đất Campuchia. Trong những lần đi “dân vận” nhờ bà con giúp đỡ, nguyễn Tiến Chung đã gặp cô du kích Siu Pương. Lễ cưới được đơn vị tổ chức vào cuối năm đó. Tháng tư năm 1975 khi Nguyễn Tiến Chung cùng đơn vị tiến về Sài Gòn thì cũng là lúc vợ mang bầu và ở quê mẹ mất…

- “Từ Sài gòn trở lại làng Kuk, mình như người bước sang một thế giới khác” – Ông Chung thở hắt khi nhớ về chuyện cũ… Thời chiến tranh con mắt nhìn mọi chuyện đều đơn giản, bây giờ hoà bình mới thấy cuộc sống bao điều phải suy xét, lo toan. Mà làng Kuk bấy giờ mới chạy giặc trở về xác xơ đói rét lắm. Nhà vợ 6 con người phải chen chúc nhau trong túp lều dễ chừng chỉ nhỉnh hơn chòi lúa. Hiểu rằng mình đang như con bò độc lực kéo cỗ xe ngược dốc, từ tinh mơ đến tối mịt tôi trần mình trên rẫy, tối lại về xoay trần nấu rượu; rồi thì đi bộ cả hai chục cây số lấy muối, cá khô về cho vợ đổi lúa lấy lời… Ngày tiếp ngày, những gì đang xảy ra ngoài làng Kuk, với tôi là cả một thế giới xa xăm. Làm việc không tiếc thân mình, vốn liếng đã có lúc lên tới 7 con bò, lẽ ra tôi đã được đền bù – chí ít thì cũng đã có căn nhà đàng hoàng để ở, thế nhưng rốt cuộc lại trở về tay trắng. Đơn giản là lúc bấy giờ mỗi liều thuốc sốt phải đổi bằng một gùi lúa. Mà tôi thì chẳng nhớ bao lần bị sốt. Có một lần tôi sốt chẳng biết đã mấy ngày. Trong mê man chợt nghe văng vẳng tiếng chiêng. Cố mở mắt thì ra họ hàng đang xắng xở chuẩn bị đập heo để làm ma…Đã không dưới hai lần tôi được chuẩn bị cho về làng ma như thế, vậy mà như có phép mầu lại được sống. Trời có lẽ cũng thương tôi vào chết ra sống bao năm ở chiến trường không nỡ hay chăng (?)

Thực ra thì nỗi đau thể xác ấy có đận rồi cũng qua. Chuyện đáng nói hơn là con cái. Dù ông chỉ kể sơ sài thì tôi cũng cảm nhận được nỗi buồn thầm kín ấy. Ông có đến 8 đứa con – 4 trai, 4 gái. Trong cái không gian làng như bao đứa trẻ một thời, chúng cứ lớn lên lấm láp và gần như hoang dã. Mấy đứa lớn chỉ học được đến lớp 1 – 2 rồi bỏ. Bây giờ thì theo lẽ thường tạo hoá, chúng lần lượt lấy vợ lấy chồng, gắn cuộc đời với rẫy nương.. Buồn hơn cả trong số chúng là Siu Hoa. Hoa là cô gái trắng trẻo, xinh xắn vào hàng nhất làng Kuk. Hoa lấy Rơ Châm Then cùng làng. Năm 2004 làng Kuk bị cuốn vào cơn lốc vượt biên. Nghe lời bọn phản động dụ dỗ, Then đã đành đoạn bỏ lại đứa con mới thôi nôi và người vợ trẻ để đi tìm “đất hứa”. Trong chuyến đò vượt sông Pô Kô vào cái đêm mưa gió bão bùng ấy, chỉ mỗi Then và đứa cháu gái may mắn thoát chết. Nhưng cập được bờ “đất hứa’ rồi, anh ta lại viết thư về tuyên bố bỏ vợ… Đau nỗi con dang dở đã một nhẽ, mình là cựu chiến binh, là người hiểu biết ở làng này, lại để xảy ra chuyện đáng chê trách như vậy, chẳng phải là mang tiếng lắm sao ?

…Bây giờ tôi mới có dịp ngó nghiêng cái “thế giới” của ông. Căn chòi thưng ván lợp tôn vá víu được ông chia làm hai ngăn. Ngăn trong cắm một chiếc sạp gỗ buông màn tối om, ý chừng là nơi ngủ của ông. Gian ngoài làm bếp. Từ đây về tới làng Kuk dễ chừng phải đến 3 km. Hút mắt nhìn ra chỉ thấy bốn bề cao su vây bủa… Hơn ba chục năm đã bó mình giữa làng, lại còn co mình vào cõi cùng của thế giới ấy nữa, ông đã mặc cảm với cuộc sống đến độ không biết tự thương thân ? Đón ý tôi, khuôn mặt ông như chợt già đi mấy tuổi:

- Mẹ tôi goá chồng từ lúc tuổi còn rất trẻ vẫn ở vậy nuôi con. Những năm ở chiến trường tôi vẫn hình dung nỗi khát khao cháy lòng mong được gặp lại con một lần của mẹ. Nhưng rồi không chỉ phút lâm chung đã không được bên mẹ mà cho đến bây giờ tôi cũng chưa biết mộ mẹ nằm đâu…Giá như những ngày mới hết chiến tranh về viếng mẹ, hẳn mẹ tôi sẽ tha thứ. Thế nhưng tôi đã quá mặc cảm để bao tháng năm đã trôi qua rồi. Hẳn rằng đã gần 10 năm không tin tức, trước lúc từ giã cõi đời, mẹ tôi vẫn đinh ninh rằng tôi đã chết. Nỗi đau chồng con không trở về, thời ấy đâu riêng một mẹ tôi. Vậy thì hãy để người hoá thân với nỗi đau ấy. Khơi dậy lại, hoá ra tôi là kẻ bất hiếu hai lần ?

Tôi lặng đi, lòng dậy lên niềm chua xót bởi cái lý của ông. Hoàn cảnh của ông bấy giờ thật khó mà cân đong “bên tình bên hiếu” thì đời cũng bù trừ. Chẳng trọn vẹn được như người thì 8 đứa con ông cũng đã có đất, có nhà từ thành quả lao động của ông. Và sự đền đáp quý giá nhất đời ông là một tình yêu bền chặt… “Anh hiểu tôi đấy” – Ông cắt lời tôi hứng khởi. “Bà ấy không được học hành, sống theo lẽ thường của bao người người đàn bà ở làng này. Nhưng với tôi, trong cái vỏ thô tháp ấy là một viên ngọc tình yêu… Thú thật là những ngày đầu sống chung, không ít lần tôi đã trăn trở về sự lựa chọn của mình, thậm chí đã có lúc tôi định bỏ trốn. Thế nhưng cứ mỗi lần chạm tới ý nghĩ tội lỗi ấy là lại thấy mình hèn… Những tai ương, những nỗi buồn đã qua, nói “trời thương” là thuận miệng chứ không có bà ấy, dễ tôi đã buông xuôi hay “tiêu cực” từ rất lâu rồi. Và cái “thế giới” này, có người ngộ nhận là tôi những muốn trốn chạy khỏi cuộc sống làng. Làm sao tồn tại bằng sự “trốn chạy” ấy nếu phía sau không có bà là điểm tựa… Rồi 2 ha rẫy, bây giờ mỗi năm thu năm, sáu chục triệu đồng - thành quả lao động bao nhiêu năm trời, tôi đâu phải là cái máy nếu không có tình yêu của bà ấy “điều khiển”… Thế nên đã bao lần tôi tự cười mình khi đâu đó người ta xì xầm rằng tôi bị “bỏ bùa”. Đúng là tôi đã bị bỏ bùa như thế đấy!”

Ở đời, nếu cứ đứng ở vị trí của mình, có lẽ ta chẳng bao giờ hiểu được hạnh phúc của người khác… Năm nay ông đã bước vào tuổi 65. Nghĩ trộm ông, cuối đời hẳn rằng cũng như bao người ở làng Kuk này, ông lại về với đất, sẽ được bỏ mả để rồi tan biến vào cõi đời như một giọt sương. Kiếp người với cái vòng luân hồi “đất - người – ma - đất” theo quan niệm của người Jrai thô sơ mà triết lý ôm hết cho bao tộc người trên thế gian này. Thế nên sự tồn tại đích thực của mỗi con người giản dị là liệu anh có dám cháy hết mình cho một lối đi trên đường đời mà anh đã chọn ?

                                                                               

                                                                      N. T

                                        

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm