TIN TỨC

Những ký tự khóc cười trong cuốn sách xưa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-11 16:40:37
mail facebook google pos stwis
2015 lượt xem

NGUYÊN BÌNH
(Đôi dòng cảm nhận về bài thơ “Đại lộ chữ" của Vũ Thanh Hoa)

Đã từ rất lâu, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền cho rằng, thơ hay khi nó đạt đến ngưỡng “ngôn ngữ mầu nhiệm, không chỉ chuyên chở ý tưởng mà còn ám ảnh vang vọng mãi trong tâm hồn người đọc”, cho dù đó là thơ truyền thống hay thơ hiện đại, thơ siêu thực, thơ hiện sinh, thơ duy mỹ, thơ hậu hiện đại v.v…

Trước khi đi sâu vào bài thơ ĐẠI LỘ CHỮ, cho phép tôi nói đôi điều về môi trường văn nghệ trong giai đoạn nhà thơ Vũ Thanh Hoa trưởng thành và sáng tác.

Vào những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, nền thơ Việt đã thực sự chuyển biến với nhiều khuynh hướng sáng tác xuất hiện trên văn đàn. Nhiều nhà thơ trưởng thành thời kỳ trước đã thử nghiệm cách tân bút pháp, thay đổi tư duy nghệ thuật đã cho ra đời những tác phẩm mới lạ, đặc sắc thu hút bạn đọc. Sở hữu kiến văn sâu rộng cộng với điều kiện tiếp cận các trường phái thơ hiện đại, hậu hiện đại phương Tây, họ kết hợp tri thức mới trên nền tảng văn hoá và ngôn ngữ Việt tạo ra những tác phẩm mang tính đột phá, được giới văn nghệ đánh giá cao. Có thể kể tên các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Bình Phương v.v.

Vũ Thanh Hoa, trưởng thành và tiếp cận trào lưu này từ mối quan hệ rộng rãi với nhiều tầng lớp văn nghệ sĩ, ngòi bút chị sớm định hình phong cách mới trong sáng tác, kể cả văn xuôi và thơ.

ĐẠI LỘ CHỮ
 

có câu thơ anh vừa bước vào

có câu thơ anh vừa đi mất

cơn mưa bóng mây nhòe mơ và thực

đại lộ chữ rông rênh ảo mờ

những kí tự khóc cười trong cuốn sách xưa

pho tượng gỗ trăm năm thinh lặng

tơ nhện giăng đầy ngõ nhớ

mây trải thênh thang thềm trời

tựa vào thơ tròng trành

con thuyền mơ mắc cạn

em lạc giữa dòng sông gió

giữa trang báo rờm rợp chữ

tìm khoảng trống của mình

Có thể nói ngay rằng, Vũ Thanh Hoa viết Đại lộ chữ (ĐLC) là “viết về thực tại nhưng đã vượt trên tầm của thực tại trần trụi (cấp thấp nhất), theo cách nói của nhà PBVH Đào Quốc Minh.

"Có câu thơ anh vừa bước vào/ có câu thơ anh vừa đi mất”. Đó là cách mà tác giả chọn lựa để mở đầu bài thơ quyến rũ nhất, hồn nhiên nhất như khi ta đang hít thở khí trời. Tình yêu và Thơ là bảo vật ẩn tàng trong tâm hồn thi sĩ, thế cho nên, chỉ cần một làn gió nhẹ thoảng qua là ngôn từ hé nụ trổ bông.

Anh, hình bóng khó phai mờ đi qua đời Em, là huyền ức của một tình yêu tuyệt đẹp, chập chờn lúc ẩn lúc hiện như ánh sao xa.

Anh đến Anh đi qua thế giới thơ em, qua ý nghĩ em, rất ngẫu nhiên, ảo mị, hững hờ.

Anh như cơn mưa bóng mây ngoài của sổ, con chữ em gieo trên trang giấy bỗng hoang mang “rông rênh ảo mờ".

Anh, giọt thơ lay động “nhòe mơ và thực” khiến em mãi mộng du trong hoài cảm bồng bềnh.

Phải chăng, thưa các bạn, đây là khúc dạo đầu của "một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu" như L.Tolxtoy từng nói?

Bây giờ, em ngồi đây với “những kí tự khóc cười trong cuốn sách xưa”. Kí tự nào? Phải chăng là nét khắc đơn sơ trong hang động tiền sử? Hay là kí tự viết nên sử thi của Homere? ở đầu ngọn bút lông Sheakpeare vẩy mực? là thân phận Anna Karenina của L.Tolxtoy hay cảm giác Buồn nôn của jean Paul Sarte? Từ Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi hay từ Truyện Kiều của Nguyễn Du? Cả miền tâm thức văn hóa đa tầng ấy ùa về lấp kín thư phòng chật hẹp, dày đặc trầm tích ảo huyền. Quanh em, “những pho tượng gỗ trăm năm thinh lặng”, em mường tượng như là hiện thân của lạnh lùng vô cảm, trầm mặc với bóng thời gian. Đây đó, bung xung “tơ nhện giăng đầy nỗi nhớ”, trong khi ngoài kia “mây trải thênh thang thềm trời”. Em cô đơn giữa những thăng trầm, hụt hẫng giữa tồn sinh muôn hình vạn trạng của thế giới văn minh.

Có thể nói, mỗi câu trong khổ thơ thứ 2 đều chứa đựng những từ ngữ hàm ngôn, kích hoạt nhiều hướng tư duy cho người đọc: “kí tự khóc cười", "tượng gỗ thinh lặng", "thềm trời”. Khổ thơ có "sức gợi” lạ lùng, khó cưỡng, cuốn tôi đồng hành cùng nhà thơ lưu vong vào chân trời suy tưởng.

Khi Vũ Thanh Hoa trở về với không gian chật chội của thực tại vây lấy mình, thơ trở nên chới với, ngộp thở trong hành trình nhọc nhằn đi tìm một chỗ đứng bình an:

tựa vào thơ tròng trành

con thuyền mơ mắc cạn

em lạc giũa dòng sông gió

giữa trang báo rờm rợp chữ

tìm khoảng trống của mình

Ta dễ dàng phát hiện lời bộc bạch chân thành từ trái tim, với niềm tin mong manh tựa vào thơ để vươn tới. Tiếc thay, thơ cũng chỉ là con thuyền tròng trành, dòng sông thơ trơ đáy không đủ sức chuyên chở “ki tự khóc-cười”, mặc cho giấc mơ em “mắc cạn”. Lênh đênh trên con thuyền trôi dạt giữa “dòng sông gió”, ngoảnh lại là những bộn bề lo toan, chìm ngập “giữa trang báo rờm rợp chữ” trong công việc biên tập. Chúng ta cùng chia sẻ với nhà thơ duyên dáng chút tâm sự của nàng thơ trích trong bài Giả tưởng vừa được đăng trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội:

Một mình em đi trên sợi tóc dài

trên kia là mây dưới kia là đá nhọn

bóng chen bóng những hình nhân giẫm đạp

hoang vu

gió cũng đơn thân

(Giả tưởng)

Dẫu vậy, Vũ Thanh Hoa vẫn lặng lẽ đi “tìm khoảng trống cho mình” giữa ĐẠI LỘ CHỮ ken đầy dòng người chen lấn. Tôi tin rằng, nhà thơ đáng yêu của chúng ta sẽ tìm thấy chỗ đứng phù hợp, khẳng định bản ngã trước những "rờm rợp" ngựa xe trên ĐẠI LỘ CHỮ đông người.

Thoạt nhìn toàn bài, ta có cảm giác như nhà thơ chỉ hờ hững liên tưởng, ghi nhận sự luân chuyển của dòng ý thức rời rạc. Đâu đó trên cao là một chút ám ảnh diệu vợi của tình yêu, sau lưng là cái tôi cô đơn hụt hẫng và bên kia sông là hành trình tìm kiếm bình yên. Tuy nhiên, khi đã thẩm thấu thật sâu, tôi nhận ra sợi dây vô hình liên kết nội hàm hết sức đồng điệu về cả nội dung và hình thức biểu cảm.

Chúc nhà thơ Vũ Thanh Hoa luôn dồi dào năng lượng sáng tạo, tiếp tục cho ra đời những tác phẩm xứng đáng với sự yêu mến cùng lời chúc tụng của bạn bè văn nghệ trong nước và nước ngoài.

Bà Rịa, 30/7/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm