TIN TỨC

Những ký tự khóc cười trong cuốn sách xưa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-11 16:40:37
mail facebook google pos stwis
1947 lượt xem

NGUYÊN BÌNH
(Đôi dòng cảm nhận về bài thơ “Đại lộ chữ" của Vũ Thanh Hoa)

Đã từ rất lâu, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền cho rằng, thơ hay khi nó đạt đến ngưỡng “ngôn ngữ mầu nhiệm, không chỉ chuyên chở ý tưởng mà còn ám ảnh vang vọng mãi trong tâm hồn người đọc”, cho dù đó là thơ truyền thống hay thơ hiện đại, thơ siêu thực, thơ hiện sinh, thơ duy mỹ, thơ hậu hiện đại v.v…

Trước khi đi sâu vào bài thơ ĐẠI LỘ CHỮ, cho phép tôi nói đôi điều về môi trường văn nghệ trong giai đoạn nhà thơ Vũ Thanh Hoa trưởng thành và sáng tác.

Vào những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, nền thơ Việt đã thực sự chuyển biến với nhiều khuynh hướng sáng tác xuất hiện trên văn đàn. Nhiều nhà thơ trưởng thành thời kỳ trước đã thử nghiệm cách tân bút pháp, thay đổi tư duy nghệ thuật đã cho ra đời những tác phẩm mới lạ, đặc sắc thu hút bạn đọc. Sở hữu kiến văn sâu rộng cộng với điều kiện tiếp cận các trường phái thơ hiện đại, hậu hiện đại phương Tây, họ kết hợp tri thức mới trên nền tảng văn hoá và ngôn ngữ Việt tạo ra những tác phẩm mang tính đột phá, được giới văn nghệ đánh giá cao. Có thể kể tên các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Bình Phương v.v.

Vũ Thanh Hoa, trưởng thành và tiếp cận trào lưu này từ mối quan hệ rộng rãi với nhiều tầng lớp văn nghệ sĩ, ngòi bút chị sớm định hình phong cách mới trong sáng tác, kể cả văn xuôi và thơ.

ĐẠI LỘ CHỮ
 

có câu thơ anh vừa bước vào

có câu thơ anh vừa đi mất

cơn mưa bóng mây nhòe mơ và thực

đại lộ chữ rông rênh ảo mờ

những kí tự khóc cười trong cuốn sách xưa

pho tượng gỗ trăm năm thinh lặng

tơ nhện giăng đầy ngõ nhớ

mây trải thênh thang thềm trời

tựa vào thơ tròng trành

con thuyền mơ mắc cạn

em lạc giữa dòng sông gió

giữa trang báo rờm rợp chữ

tìm khoảng trống của mình

Có thể nói ngay rằng, Vũ Thanh Hoa viết Đại lộ chữ (ĐLC) là “viết về thực tại nhưng đã vượt trên tầm của thực tại trần trụi (cấp thấp nhất), theo cách nói của nhà PBVH Đào Quốc Minh.

"Có câu thơ anh vừa bước vào/ có câu thơ anh vừa đi mất”. Đó là cách mà tác giả chọn lựa để mở đầu bài thơ quyến rũ nhất, hồn nhiên nhất như khi ta đang hít thở khí trời. Tình yêu và Thơ là bảo vật ẩn tàng trong tâm hồn thi sĩ, thế cho nên, chỉ cần một làn gió nhẹ thoảng qua là ngôn từ hé nụ trổ bông.

Anh, hình bóng khó phai mờ đi qua đời Em, là huyền ức của một tình yêu tuyệt đẹp, chập chờn lúc ẩn lúc hiện như ánh sao xa.

Anh đến Anh đi qua thế giới thơ em, qua ý nghĩ em, rất ngẫu nhiên, ảo mị, hững hờ.

Anh như cơn mưa bóng mây ngoài của sổ, con chữ em gieo trên trang giấy bỗng hoang mang “rông rênh ảo mờ".

Anh, giọt thơ lay động “nhòe mơ và thực” khiến em mãi mộng du trong hoài cảm bồng bềnh.

Phải chăng, thưa các bạn, đây là khúc dạo đầu của "một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu" như L.Tolxtoy từng nói?

Bây giờ, em ngồi đây với “những kí tự khóc cười trong cuốn sách xưa”. Kí tự nào? Phải chăng là nét khắc đơn sơ trong hang động tiền sử? Hay là kí tự viết nên sử thi của Homere? ở đầu ngọn bút lông Sheakpeare vẩy mực? là thân phận Anna Karenina của L.Tolxtoy hay cảm giác Buồn nôn của jean Paul Sarte? Từ Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi hay từ Truyện Kiều của Nguyễn Du? Cả miền tâm thức văn hóa đa tầng ấy ùa về lấp kín thư phòng chật hẹp, dày đặc trầm tích ảo huyền. Quanh em, “những pho tượng gỗ trăm năm thinh lặng”, em mường tượng như là hiện thân của lạnh lùng vô cảm, trầm mặc với bóng thời gian. Đây đó, bung xung “tơ nhện giăng đầy nỗi nhớ”, trong khi ngoài kia “mây trải thênh thang thềm trời”. Em cô đơn giữa những thăng trầm, hụt hẫng giữa tồn sinh muôn hình vạn trạng của thế giới văn minh.

Có thể nói, mỗi câu trong khổ thơ thứ 2 đều chứa đựng những từ ngữ hàm ngôn, kích hoạt nhiều hướng tư duy cho người đọc: “kí tự khóc cười", "tượng gỗ thinh lặng", "thềm trời”. Khổ thơ có "sức gợi” lạ lùng, khó cưỡng, cuốn tôi đồng hành cùng nhà thơ lưu vong vào chân trời suy tưởng.

Khi Vũ Thanh Hoa trở về với không gian chật chội của thực tại vây lấy mình, thơ trở nên chới với, ngộp thở trong hành trình nhọc nhằn đi tìm một chỗ đứng bình an:

tựa vào thơ tròng trành

con thuyền mơ mắc cạn

em lạc giũa dòng sông gió

giữa trang báo rờm rợp chữ

tìm khoảng trống của mình

Ta dễ dàng phát hiện lời bộc bạch chân thành từ trái tim, với niềm tin mong manh tựa vào thơ để vươn tới. Tiếc thay, thơ cũng chỉ là con thuyền tròng trành, dòng sông thơ trơ đáy không đủ sức chuyên chở “ki tự khóc-cười”, mặc cho giấc mơ em “mắc cạn”. Lênh đênh trên con thuyền trôi dạt giữa “dòng sông gió”, ngoảnh lại là những bộn bề lo toan, chìm ngập “giữa trang báo rờm rợp chữ” trong công việc biên tập. Chúng ta cùng chia sẻ với nhà thơ duyên dáng chút tâm sự của nàng thơ trích trong bài Giả tưởng vừa được đăng trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội:

Một mình em đi trên sợi tóc dài

trên kia là mây dưới kia là đá nhọn

bóng chen bóng những hình nhân giẫm đạp

hoang vu

gió cũng đơn thân

(Giả tưởng)

Dẫu vậy, Vũ Thanh Hoa vẫn lặng lẽ đi “tìm khoảng trống cho mình” giữa ĐẠI LỘ CHỮ ken đầy dòng người chen lấn. Tôi tin rằng, nhà thơ đáng yêu của chúng ta sẽ tìm thấy chỗ đứng phù hợp, khẳng định bản ngã trước những "rờm rợp" ngựa xe trên ĐẠI LỘ CHỮ đông người.

Thoạt nhìn toàn bài, ta có cảm giác như nhà thơ chỉ hờ hững liên tưởng, ghi nhận sự luân chuyển của dòng ý thức rời rạc. Đâu đó trên cao là một chút ám ảnh diệu vợi của tình yêu, sau lưng là cái tôi cô đơn hụt hẫng và bên kia sông là hành trình tìm kiếm bình yên. Tuy nhiên, khi đã thẩm thấu thật sâu, tôi nhận ra sợi dây vô hình liên kết nội hàm hết sức đồng điệu về cả nội dung và hình thức biểu cảm.

Chúc nhà thơ Vũ Thanh Hoa luôn dồi dào năng lượng sáng tạo, tiếp tục cho ra đời những tác phẩm xứng đáng với sự yêu mến cùng lời chúc tụng của bạn bè văn nghệ trong nước và nước ngoài.

Bà Rịa, 30/7/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm