TIN TỨC

Những ký tự dắt tay nhau đi về phía hoàng hôn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-22 15:37:48
mail facebook google pos stwis
2323 lượt xem

Sáng 23/9/2025, Nhóm “Bạn văn & Miền chữ” sẽ tổ chức ra mắt cuốn sách Chữ gọi mùa trăng của nhà thơ Triệu Kim Loan – hội viên Hội Nhà văn TP.HCM. Bằng giọng văn tha thiết và sự đồng cảm sâu xa, Nguyên Bình đã dẫn dắt độc giả bước vào thế giới thi ca trong tập thơ mới này. Bài viết không chỉ soi chiếu những giá trị ngôn ngữ, cảm xúc và chiều sâu nhân bản của thơ, mà còn làm nổi bật sự chín muồi trong hành trình sáng tạo của tác giả. Một góc nhìn đằm thắm, giàu trải nghiệm để người đọc thêm trân trọng thi phẩm và tình yêu thơ ca.
 

NGUYÊN BÌNH

(Cảm nhận tác phẩm “Chữ gọi mùa trăng”)


 

Nhà thơ Triệu Kim Loan đưa tôi vào không gian thơ đằm thắm mà đầy ắp những suy niệm mới mẻ, câu chữ tinh khiết như linh hồn thiên thanh, cấu trúc ngôn ngữ trong mỗi bài thơ thể hiện sự tìm tòi nghiêm túc hướng về xu thế hiện đại. Đó là đôi nét phác họa về hành trình cảm thụ, giao thoa với tác phẩm CHỮ GỌI MÙA TRĂNG do Nhà xuất bản Hội Nhà văn cấp phép ấn hành 2025. Có thể nói, thi tập mới của nhà thơ Triệu Kim Loan (TKL) là nơi cất giấu nội hàm tư duy bao quát về cuộc sống, lại là nơi phơi bày sự tinh túy về thi ý, thi ngôn, thi ảnh sau năm tác phẩm chị xuất bản khá thành công. Ngôn ngữ thơ Triệu Kim Loan càng ngày càng đẹp, mỗi bước đi trên con đường sáng tác ngày càng vững vàng, đầy thuyết phục.

“Chữ gọi mùa trăng” là bài thơ đầu tiên trong tập thơ CHỮ GỌI MÙA TRĂNG (CGMT). Thể loại thơ - văn xuôi được chị sắp đặt ấn tượng, và quan trọng hơn là bài thơ chủ đề chứa đựng nội dung khái quát, phạm vi suy tưởng kỳ vĩ với tâm thế trưởng thành, điểm đạm và tự tin đến mức hồn nhiên. Bài thơ xứng đáng là thông điệp, là khát vọng, là trái tim của thi tập. Phải chăng đó là kết quả của niềm say mê, sự trải nghiệm, trách nhiệm sáng tác của một nhà thơ - nhà giáo - Th.Sĩ văn chương. Trong bài thơ tiêu biểu này, Triệu Kim Loan nêm chặt nhiều liên tưởng thú vị “Những ký tự dắt tay nhau đi về phía hoàng hôn”, lồng trong một không gian thơ bát ngát, thiêng liêng:“Bên núi đồi trập trùng miền trung du đất Tổ”, nơi tác giả đau đáu trút hết tâm tư, mở rộng cửa trái tim thơ để: “gieo cạn yêu thương lên cánh đồng gió chướng” rồi trở về với niềm tin cuộc sống “xanh mướt như đời”:

Ngước lên trời cao giữa đêm đợi bình minh.
Muôn ngàn vì sao không vì ai cứ sáng. Em đã
gieo cạn yêu thương lên cánh đồng gió chướng.
Mầm thương yêu lại xanh mướt như đời.

(Chữ gọi mùa trăng)

Tôi (Nguyên Bình) xin phép đi sâu vào mạch thơ đầy cảm xúc và tinh tế trong CGMT, du hành để khám phá đáy thẳm của tâm hồn đa cảm cộng với cảm thức thơ đã chín muồi suốt hành trình suy nghiệm Chữ gọi mùa trăng.

Có thể nói, khả năng dụng ngôn đã vượt thoát cấu trúc ngữ pháp bài bản, truyền thống trong quá trình sáng tạo của nhà thơ. Soi chiếu mỗi câu thơ dưới đây, ta dễ dàng nhận thấy hầu như câu nào cũng lấp lánh thăng hoa, “thơ đáng là thơ” với bàn tay như có phép mầu, TKL tạo ra “hoa văn ngôn từ” độc đáo, ngay trong thể loại lục bát:

Nhóm bình minh lúc phân thân
Vòng tay người quấn những chần chừ em
Mình xây cổ tích nhiều đêm
Trăng là nhân chứng cùng em dịu dàng...

(Hoài niệm biển)

Các bạn hãy kiên nhẫn cho phép tôi (dài hơi) dẫn thêm một bài thơ năm chữ, (quá tam ba bận), để chứng minh rằng, dưới ngòi bút của TKL, không gian văn hóa Việt cổ kính cũng là điểm hẹn cho ngôn từ nhảy múa cùng với cảm xúc và cung bậc hiện đại một cách tự nhiên:

Lòng vẫn nguyên ngọc bích
Cốm Làng Vòng thương sen
Anh có còn anh cũ?
Em giờ vẫn em nguyên

(Ngọc lan đêm)

Thành công của một thi tập là sự gắn kết những bài thơ tạo thành một không gian thi vị đặc trưng chứa đựng hơi thở của riêng tác giả, nơi mà tâm thức thơ tuôn trào dòng suối thơ đồng điệu, mát lành chứ không phải là những ý tưởng cóp nhặt. TKL đã làm chủ cái không gian ấy, làm chủ căn nhà thơ của mình. Ta có thể khẳng định chủ điểm trên khi phân tích tác giả sử dụng thể thơ lục bát để trần tình với chính mình trong dịp tìm về với nét văn hóa truyền thống. Chị khéo léo nắm tay chúng ta cùng chị thưởng thức một làn quan họ người ơi người ở đừng về: Giấc đêm trở lại quê nhà/ Xoan vừa chạm ngõ tháng ba hội làng/ Lí lơi câu ghẹo bên đàng/ Lá răm lúng liếng bước sang vườn trầu (Giấu đêm)

Thế nhưng, ngày bước chân lên cao nguyên Lang Biang, thăm thành phố Đà Lạt mộng mơ, thơ chị lại như ru hồn ta say đắm với chiều sâu xúc cảm bằng nét phác thảo hoang sơ, sau những quan sát và chiêm nghiệm tinh tế: Hoàng hôn khói/ Sương mềm như lụa/ Hồ thẳm sâu/ Soi mắt đóm đang cười. (Hẹn em về cao nguyên). Trong khung cảnh đó, nhà thơ diễn đạt nỗi nhớ rất riêng với một tâm thế tan chảy vào không gian thực tế, sẻ chia nỗi niềm cùng một địa danh thanh lịch và ngay cả với nhánh cỏ lẻ loi. Nỗi nhớ ấy mênh mang dịu dàng tan loãng vào âm thanh của chuông nhớ diệu vợi: Mỗi giây phút xa anh/ Đà Lạt thành nhật kí./ Phím chữ ngân như nốt nhạc không lời/  Nỗi nhớ ấp iu như giọt sương nép mình bên nhánh cỏ/ Dịu dàng tan vào chuông nhớ chơi vơi. (Dịu dàng tan).

Thăm thú miền biên cương đang dậy sóng trong CGMT, ta phát hiện nghìn trùng cách ngăn biển đảo và đất liền, giữa anh và em được TKL hóa giải bằng mật ngôn của sóng. Thơ như từng đợt xao động của sóng âm từ khơi xa dội về bến đợi. Hai bờ cách ngăn được thơ nối liền, chung thủy và thiết tha: Lá thư này anh viết giữa mùa trăng/ Trăng đẹp lắm như em đang mùa chín/ Anh khẽ khàng đợi khuya nhờ cánh sóng/ Mang yêu thương tình tự đất liền em. (Lá thư cánh sóng).

Nàng thơ soi chiếu nội tâm chính mình, tái hiện hoài cảm với một cảm xúc đẹp, thánh thiện trong sự cào xé của nỗi đau đã thấm buốt: “Câu thơ em mắc cạn/ Giằng co giữa lở bồi/ Trái tim vừa thấm buốt/ Có còn nguyên bồi hồi”? (Mơ một ngày nắng hát). Nỗi hụt hẫng trong tình yêu, hạnh phúc được nhà thơ lý giải nhẹ nhàng, chẳng hề xốc nổi, không một lời oán trách. Đó là dấu hiệu nhà thơ quá đủ trưởng thành để xác định rằng, đau thương cũng là một kỷ niệm đáng nhớ trong đời: “Tự giải phẫu nỗi đau/ Thương hình hài goá bụa/ Chút son môi không đủ từ trường/ Thì buông nhé/ Bình an - độ lượng/ Dẫu đò tình xanh lá bạc vôi*. (Hồng gai). Sự chịu đựng âm thầm, khi nếm vị đắng của tình yêu cũng chân thành như khi đang yêu: Những đêm dài/ Từ xa, ai gọi/ Trái tim đau không tự vá nổi mình/ Em đã yêu thật vội/ Uống say mềm/ Giọt mật của dối gian (Độc thoại).

Bên cạnh đó, TKL, với sự giản dị của một tâm hồn độ lượng ngát xanh, chị đã viết những câu thơ thật thà đáng yêu, thể hiện khát vọng gắn kết lứa đôi rất duyên dáng. Chắc hẳn tôi và các bạn khi đọc “Trầu xanh vội trắng/ Tôi và một … thì ai cũng đoan chắc sẽ là một… tôi. Nhưng không, thương quá câu thơ: “Ước gì mưa thuận gió hoà/ Trầu xanh vôi trắng/ Tôi và một ai..”. (Một tôi). Dễ thương đến độ tôi bất giác mỉm một nụ cười.

Bài thơ dưới đây không còn là một cảm xúc thời sự mà là một tiếng thét xé ruột gan. Tôi đau đớn và các bạn cũng đau đớn. Phải chăng đó là sứ mệnh của thơ, thơ cứu rỗi và thức tỉnh lương tri con người:

Mẹ ơi ở đâu
Có nghe con gọi
Chiều muộn từ lâu
Con thèm bữa tối...


Mẹ ơi mẹ ơi
Con nhớ bạn bè
Hẹn rằm tháng tám
Rước đèn kéo xe


Con nằm trong đất
Sâu lắm mẹ ơi
Ước gì cỏ mật
Nâng con lên trời...

(Làng Nủ)

Tôi có dụng ý để dành hai bài thơ mà tôi cho là trang trọng nhất và chân thành nhất đặt ở cuối bài viết.

Bài thứ nhất thể hiện sự hiếu kính muôn đời dành cho bậc sinh thành của tác giả:

Lớn lên từ gánh hàng rong
Mẹ tảo tần ngày mưa tháng hạn
Con chữ thẹn thùng neo thầm nụ nhớ
Phút áo hoa chạm gió sân trường
Ước mơ xanh ủ tàu lá cọ
Mưa đầu mùa
Có giọt biếc trong nhau

(Trổ biếc hương quê)

Và bài thứ hai dành cho các chiến sĩ Điện Biên đã ngã xuống trên đồi A1:

Họ nằm lại như những khúc lặng đếm thời gian.
Những mảnh xương rời vẫn nằm im trong màu
xanh áo trận. Những nén hương thơm nối âm
dương giữa người còn – mất. Hoa lá cỏ cây từ
xương máu luân hồi

(Những người nằm lại đồi A1)

Nét đẹp và sự thành công của thi tập CGMT đã được nhà văn Kao Sơn giới thiệu đầy đủ trong lời tựa. Phần bạt cuối sách cũng có hai bài viết của nhà thơ Hương Thu và Phan Ngọc Quang. Tôi xem phép cảm nhận đôi lời với tình cảm thân thiện dành cho TKL, một “muội” rất dễ mến luôn gọi tôi là huynh. Và đó là niềm vui mà thơ mang lại.

Chúc muội TKL ra mắt, phát hành thành công tác phẩm thơ thứ sáu CHỮ GỌI MÙA TRĂNG của mình.

Bà Rịa, ngày 20 tháng 9 năm 2025

N.B.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm