TIN TỨC

Những ký tự dắt tay nhau đi về phía hoàng hôn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-22 15:37:48
mail facebook google pos stwis
2439 lượt xem

Sáng 23/9/2025, Nhóm “Bạn văn & Miền chữ” sẽ tổ chức ra mắt cuốn sách Chữ gọi mùa trăng của nhà thơ Triệu Kim Loan – hội viên Hội Nhà văn TP.HCM. Bằng giọng văn tha thiết và sự đồng cảm sâu xa, Nguyên Bình đã dẫn dắt độc giả bước vào thế giới thi ca trong tập thơ mới này. Bài viết không chỉ soi chiếu những giá trị ngôn ngữ, cảm xúc và chiều sâu nhân bản của thơ, mà còn làm nổi bật sự chín muồi trong hành trình sáng tạo của tác giả. Một góc nhìn đằm thắm, giàu trải nghiệm để người đọc thêm trân trọng thi phẩm và tình yêu thơ ca.
 

NGUYÊN BÌNH

(Cảm nhận tác phẩm “Chữ gọi mùa trăng”)


 

Nhà thơ Triệu Kim Loan đưa tôi vào không gian thơ đằm thắm mà đầy ắp những suy niệm mới mẻ, câu chữ tinh khiết như linh hồn thiên thanh, cấu trúc ngôn ngữ trong mỗi bài thơ thể hiện sự tìm tòi nghiêm túc hướng về xu thế hiện đại. Đó là đôi nét phác họa về hành trình cảm thụ, giao thoa với tác phẩm CHỮ GỌI MÙA TRĂNG do Nhà xuất bản Hội Nhà văn cấp phép ấn hành 2025. Có thể nói, thi tập mới của nhà thơ Triệu Kim Loan (TKL) là nơi cất giấu nội hàm tư duy bao quát về cuộc sống, lại là nơi phơi bày sự tinh túy về thi ý, thi ngôn, thi ảnh sau năm tác phẩm chị xuất bản khá thành công. Ngôn ngữ thơ Triệu Kim Loan càng ngày càng đẹp, mỗi bước đi trên con đường sáng tác ngày càng vững vàng, đầy thuyết phục.

“Chữ gọi mùa trăng” là bài thơ đầu tiên trong tập thơ CHỮ GỌI MÙA TRĂNG (CGMT). Thể loại thơ - văn xuôi được chị sắp đặt ấn tượng, và quan trọng hơn là bài thơ chủ đề chứa đựng nội dung khái quát, phạm vi suy tưởng kỳ vĩ với tâm thế trưởng thành, điểm đạm và tự tin đến mức hồn nhiên. Bài thơ xứng đáng là thông điệp, là khát vọng, là trái tim của thi tập. Phải chăng đó là kết quả của niềm say mê, sự trải nghiệm, trách nhiệm sáng tác của một nhà thơ - nhà giáo - Th.Sĩ văn chương. Trong bài thơ tiêu biểu này, Triệu Kim Loan nêm chặt nhiều liên tưởng thú vị “Những ký tự dắt tay nhau đi về phía hoàng hôn”, lồng trong một không gian thơ bát ngát, thiêng liêng:“Bên núi đồi trập trùng miền trung du đất Tổ”, nơi tác giả đau đáu trút hết tâm tư, mở rộng cửa trái tim thơ để: “gieo cạn yêu thương lên cánh đồng gió chướng” rồi trở về với niềm tin cuộc sống “xanh mướt như đời”:

Ngước lên trời cao giữa đêm đợi bình minh.
Muôn ngàn vì sao không vì ai cứ sáng. Em đã
gieo cạn yêu thương lên cánh đồng gió chướng.
Mầm thương yêu lại xanh mướt như đời.

(Chữ gọi mùa trăng)

Tôi (Nguyên Bình) xin phép đi sâu vào mạch thơ đầy cảm xúc và tinh tế trong CGMT, du hành để khám phá đáy thẳm của tâm hồn đa cảm cộng với cảm thức thơ đã chín muồi suốt hành trình suy nghiệm Chữ gọi mùa trăng.

Có thể nói, khả năng dụng ngôn đã vượt thoát cấu trúc ngữ pháp bài bản, truyền thống trong quá trình sáng tạo của nhà thơ. Soi chiếu mỗi câu thơ dưới đây, ta dễ dàng nhận thấy hầu như câu nào cũng lấp lánh thăng hoa, “thơ đáng là thơ” với bàn tay như có phép mầu, TKL tạo ra “hoa văn ngôn từ” độc đáo, ngay trong thể loại lục bát:

Nhóm bình minh lúc phân thân
Vòng tay người quấn những chần chừ em
Mình xây cổ tích nhiều đêm
Trăng là nhân chứng cùng em dịu dàng...

(Hoài niệm biển)

Các bạn hãy kiên nhẫn cho phép tôi (dài hơi) dẫn thêm một bài thơ năm chữ, (quá tam ba bận), để chứng minh rằng, dưới ngòi bút của TKL, không gian văn hóa Việt cổ kính cũng là điểm hẹn cho ngôn từ nhảy múa cùng với cảm xúc và cung bậc hiện đại một cách tự nhiên:

Lòng vẫn nguyên ngọc bích
Cốm Làng Vòng thương sen
Anh có còn anh cũ?
Em giờ vẫn em nguyên

(Ngọc lan đêm)

Thành công của một thi tập là sự gắn kết những bài thơ tạo thành một không gian thi vị đặc trưng chứa đựng hơi thở của riêng tác giả, nơi mà tâm thức thơ tuôn trào dòng suối thơ đồng điệu, mát lành chứ không phải là những ý tưởng cóp nhặt. TKL đã làm chủ cái không gian ấy, làm chủ căn nhà thơ của mình. Ta có thể khẳng định chủ điểm trên khi phân tích tác giả sử dụng thể thơ lục bát để trần tình với chính mình trong dịp tìm về với nét văn hóa truyền thống. Chị khéo léo nắm tay chúng ta cùng chị thưởng thức một làn quan họ người ơi người ở đừng về: Giấc đêm trở lại quê nhà/ Xoan vừa chạm ngõ tháng ba hội làng/ Lí lơi câu ghẹo bên đàng/ Lá răm lúng liếng bước sang vườn trầu (Giấu đêm)

Thế nhưng, ngày bước chân lên cao nguyên Lang Biang, thăm thành phố Đà Lạt mộng mơ, thơ chị lại như ru hồn ta say đắm với chiều sâu xúc cảm bằng nét phác thảo hoang sơ, sau những quan sát và chiêm nghiệm tinh tế: Hoàng hôn khói/ Sương mềm như lụa/ Hồ thẳm sâu/ Soi mắt đóm đang cười. (Hẹn em về cao nguyên). Trong khung cảnh đó, nhà thơ diễn đạt nỗi nhớ rất riêng với một tâm thế tan chảy vào không gian thực tế, sẻ chia nỗi niềm cùng một địa danh thanh lịch và ngay cả với nhánh cỏ lẻ loi. Nỗi nhớ ấy mênh mang dịu dàng tan loãng vào âm thanh của chuông nhớ diệu vợi: Mỗi giây phút xa anh/ Đà Lạt thành nhật kí./ Phím chữ ngân như nốt nhạc không lời/  Nỗi nhớ ấp iu như giọt sương nép mình bên nhánh cỏ/ Dịu dàng tan vào chuông nhớ chơi vơi. (Dịu dàng tan).

Thăm thú miền biên cương đang dậy sóng trong CGMT, ta phát hiện nghìn trùng cách ngăn biển đảo và đất liền, giữa anh và em được TKL hóa giải bằng mật ngôn của sóng. Thơ như từng đợt xao động của sóng âm từ khơi xa dội về bến đợi. Hai bờ cách ngăn được thơ nối liền, chung thủy và thiết tha: Lá thư này anh viết giữa mùa trăng/ Trăng đẹp lắm như em đang mùa chín/ Anh khẽ khàng đợi khuya nhờ cánh sóng/ Mang yêu thương tình tự đất liền em. (Lá thư cánh sóng).

Nàng thơ soi chiếu nội tâm chính mình, tái hiện hoài cảm với một cảm xúc đẹp, thánh thiện trong sự cào xé của nỗi đau đã thấm buốt: “Câu thơ em mắc cạn/ Giằng co giữa lở bồi/ Trái tim vừa thấm buốt/ Có còn nguyên bồi hồi”? (Mơ một ngày nắng hát). Nỗi hụt hẫng trong tình yêu, hạnh phúc được nhà thơ lý giải nhẹ nhàng, chẳng hề xốc nổi, không một lời oán trách. Đó là dấu hiệu nhà thơ quá đủ trưởng thành để xác định rằng, đau thương cũng là một kỷ niệm đáng nhớ trong đời: “Tự giải phẫu nỗi đau/ Thương hình hài goá bụa/ Chút son môi không đủ từ trường/ Thì buông nhé/ Bình an - độ lượng/ Dẫu đò tình xanh lá bạc vôi*. (Hồng gai). Sự chịu đựng âm thầm, khi nếm vị đắng của tình yêu cũng chân thành như khi đang yêu: Những đêm dài/ Từ xa, ai gọi/ Trái tim đau không tự vá nổi mình/ Em đã yêu thật vội/ Uống say mềm/ Giọt mật của dối gian (Độc thoại).

Bên cạnh đó, TKL, với sự giản dị của một tâm hồn độ lượng ngát xanh, chị đã viết những câu thơ thật thà đáng yêu, thể hiện khát vọng gắn kết lứa đôi rất duyên dáng. Chắc hẳn tôi và các bạn khi đọc “Trầu xanh vội trắng/ Tôi và một … thì ai cũng đoan chắc sẽ là một… tôi. Nhưng không, thương quá câu thơ: “Ước gì mưa thuận gió hoà/ Trầu xanh vôi trắng/ Tôi và một ai..”. (Một tôi). Dễ thương đến độ tôi bất giác mỉm một nụ cười.

Bài thơ dưới đây không còn là một cảm xúc thời sự mà là một tiếng thét xé ruột gan. Tôi đau đớn và các bạn cũng đau đớn. Phải chăng đó là sứ mệnh của thơ, thơ cứu rỗi và thức tỉnh lương tri con người:

Mẹ ơi ở đâu
Có nghe con gọi
Chiều muộn từ lâu
Con thèm bữa tối...


Mẹ ơi mẹ ơi
Con nhớ bạn bè
Hẹn rằm tháng tám
Rước đèn kéo xe


Con nằm trong đất
Sâu lắm mẹ ơi
Ước gì cỏ mật
Nâng con lên trời...

(Làng Nủ)

Tôi có dụng ý để dành hai bài thơ mà tôi cho là trang trọng nhất và chân thành nhất đặt ở cuối bài viết.

Bài thứ nhất thể hiện sự hiếu kính muôn đời dành cho bậc sinh thành của tác giả:

Lớn lên từ gánh hàng rong
Mẹ tảo tần ngày mưa tháng hạn
Con chữ thẹn thùng neo thầm nụ nhớ
Phút áo hoa chạm gió sân trường
Ước mơ xanh ủ tàu lá cọ
Mưa đầu mùa
Có giọt biếc trong nhau

(Trổ biếc hương quê)

Và bài thứ hai dành cho các chiến sĩ Điện Biên đã ngã xuống trên đồi A1:

Họ nằm lại như những khúc lặng đếm thời gian.
Những mảnh xương rời vẫn nằm im trong màu
xanh áo trận. Những nén hương thơm nối âm
dương giữa người còn – mất. Hoa lá cỏ cây từ
xương máu luân hồi

(Những người nằm lại đồi A1)

Nét đẹp và sự thành công của thi tập CGMT đã được nhà văn Kao Sơn giới thiệu đầy đủ trong lời tựa. Phần bạt cuối sách cũng có hai bài viết của nhà thơ Hương Thu và Phan Ngọc Quang. Tôi xem phép cảm nhận đôi lời với tình cảm thân thiện dành cho TKL, một “muội” rất dễ mến luôn gọi tôi là huynh. Và đó là niềm vui mà thơ mang lại.

Chúc muội TKL ra mắt, phát hành thành công tác phẩm thơ thứ sáu CHỮ GỌI MÙA TRĂNG của mình.

Bà Rịa, ngày 20 tháng 9 năm 2025

N.B.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm