TIN TỨC

Những ký tự dắt tay nhau đi về phía hoàng hôn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-22 15:37:48
mail facebook google pos stwis
2549 lượt xem

Sáng 23/9/2025, Nhóm “Bạn văn & Miền chữ” sẽ tổ chức ra mắt cuốn sách Chữ gọi mùa trăng của nhà thơ Triệu Kim Loan – hội viên Hội Nhà văn TP.HCM. Bằng giọng văn tha thiết và sự đồng cảm sâu xa, Nguyên Bình đã dẫn dắt độc giả bước vào thế giới thi ca trong tập thơ mới này. Bài viết không chỉ soi chiếu những giá trị ngôn ngữ, cảm xúc và chiều sâu nhân bản của thơ, mà còn làm nổi bật sự chín muồi trong hành trình sáng tạo của tác giả. Một góc nhìn đằm thắm, giàu trải nghiệm để người đọc thêm trân trọng thi phẩm và tình yêu thơ ca.
 

NGUYÊN BÌNH

(Cảm nhận tác phẩm “Chữ gọi mùa trăng”)


 

Nhà thơ Triệu Kim Loan đưa tôi vào không gian thơ đằm thắm mà đầy ắp những suy niệm mới mẻ, câu chữ tinh khiết như linh hồn thiên thanh, cấu trúc ngôn ngữ trong mỗi bài thơ thể hiện sự tìm tòi nghiêm túc hướng về xu thế hiện đại. Đó là đôi nét phác họa về hành trình cảm thụ, giao thoa với tác phẩm CHỮ GỌI MÙA TRĂNG do Nhà xuất bản Hội Nhà văn cấp phép ấn hành 2025. Có thể nói, thi tập mới của nhà thơ Triệu Kim Loan (TKL) là nơi cất giấu nội hàm tư duy bao quát về cuộc sống, lại là nơi phơi bày sự tinh túy về thi ý, thi ngôn, thi ảnh sau năm tác phẩm chị xuất bản khá thành công. Ngôn ngữ thơ Triệu Kim Loan càng ngày càng đẹp, mỗi bước đi trên con đường sáng tác ngày càng vững vàng, đầy thuyết phục.

“Chữ gọi mùa trăng” là bài thơ đầu tiên trong tập thơ CHỮ GỌI MÙA TRĂNG (CGMT). Thể loại thơ - văn xuôi được chị sắp đặt ấn tượng, và quan trọng hơn là bài thơ chủ đề chứa đựng nội dung khái quát, phạm vi suy tưởng kỳ vĩ với tâm thế trưởng thành, điểm đạm và tự tin đến mức hồn nhiên. Bài thơ xứng đáng là thông điệp, là khát vọng, là trái tim của thi tập. Phải chăng đó là kết quả của niềm say mê, sự trải nghiệm, trách nhiệm sáng tác của một nhà thơ - nhà giáo - Th.Sĩ văn chương. Trong bài thơ tiêu biểu này, Triệu Kim Loan nêm chặt nhiều liên tưởng thú vị “Những ký tự dắt tay nhau đi về phía hoàng hôn”, lồng trong một không gian thơ bát ngát, thiêng liêng:“Bên núi đồi trập trùng miền trung du đất Tổ”, nơi tác giả đau đáu trút hết tâm tư, mở rộng cửa trái tim thơ để: “gieo cạn yêu thương lên cánh đồng gió chướng” rồi trở về với niềm tin cuộc sống “xanh mướt như đời”:

Ngước lên trời cao giữa đêm đợi bình minh.
Muôn ngàn vì sao không vì ai cứ sáng. Em đã
gieo cạn yêu thương lên cánh đồng gió chướng.
Mầm thương yêu lại xanh mướt như đời.

(Chữ gọi mùa trăng)

Tôi (Nguyên Bình) xin phép đi sâu vào mạch thơ đầy cảm xúc và tinh tế trong CGMT, du hành để khám phá đáy thẳm của tâm hồn đa cảm cộng với cảm thức thơ đã chín muồi suốt hành trình suy nghiệm Chữ gọi mùa trăng.

Có thể nói, khả năng dụng ngôn đã vượt thoát cấu trúc ngữ pháp bài bản, truyền thống trong quá trình sáng tạo của nhà thơ. Soi chiếu mỗi câu thơ dưới đây, ta dễ dàng nhận thấy hầu như câu nào cũng lấp lánh thăng hoa, “thơ đáng là thơ” với bàn tay như có phép mầu, TKL tạo ra “hoa văn ngôn từ” độc đáo, ngay trong thể loại lục bát:

Nhóm bình minh lúc phân thân
Vòng tay người quấn những chần chừ em
Mình xây cổ tích nhiều đêm
Trăng là nhân chứng cùng em dịu dàng...

(Hoài niệm biển)

Các bạn hãy kiên nhẫn cho phép tôi (dài hơi) dẫn thêm một bài thơ năm chữ, (quá tam ba bận), để chứng minh rằng, dưới ngòi bút của TKL, không gian văn hóa Việt cổ kính cũng là điểm hẹn cho ngôn từ nhảy múa cùng với cảm xúc và cung bậc hiện đại một cách tự nhiên:

Lòng vẫn nguyên ngọc bích
Cốm Làng Vòng thương sen
Anh có còn anh cũ?
Em giờ vẫn em nguyên

(Ngọc lan đêm)

Thành công của một thi tập là sự gắn kết những bài thơ tạo thành một không gian thi vị đặc trưng chứa đựng hơi thở của riêng tác giả, nơi mà tâm thức thơ tuôn trào dòng suối thơ đồng điệu, mát lành chứ không phải là những ý tưởng cóp nhặt. TKL đã làm chủ cái không gian ấy, làm chủ căn nhà thơ của mình. Ta có thể khẳng định chủ điểm trên khi phân tích tác giả sử dụng thể thơ lục bát để trần tình với chính mình trong dịp tìm về với nét văn hóa truyền thống. Chị khéo léo nắm tay chúng ta cùng chị thưởng thức một làn quan họ người ơi người ở đừng về: Giấc đêm trở lại quê nhà/ Xoan vừa chạm ngõ tháng ba hội làng/ Lí lơi câu ghẹo bên đàng/ Lá răm lúng liếng bước sang vườn trầu (Giấu đêm)

Thế nhưng, ngày bước chân lên cao nguyên Lang Biang, thăm thành phố Đà Lạt mộng mơ, thơ chị lại như ru hồn ta say đắm với chiều sâu xúc cảm bằng nét phác thảo hoang sơ, sau những quan sát và chiêm nghiệm tinh tế: Hoàng hôn khói/ Sương mềm như lụa/ Hồ thẳm sâu/ Soi mắt đóm đang cười. (Hẹn em về cao nguyên). Trong khung cảnh đó, nhà thơ diễn đạt nỗi nhớ rất riêng với một tâm thế tan chảy vào không gian thực tế, sẻ chia nỗi niềm cùng một địa danh thanh lịch và ngay cả với nhánh cỏ lẻ loi. Nỗi nhớ ấy mênh mang dịu dàng tan loãng vào âm thanh của chuông nhớ diệu vợi: Mỗi giây phút xa anh/ Đà Lạt thành nhật kí./ Phím chữ ngân như nốt nhạc không lời/  Nỗi nhớ ấp iu như giọt sương nép mình bên nhánh cỏ/ Dịu dàng tan vào chuông nhớ chơi vơi. (Dịu dàng tan).

Thăm thú miền biên cương đang dậy sóng trong CGMT, ta phát hiện nghìn trùng cách ngăn biển đảo và đất liền, giữa anh và em được TKL hóa giải bằng mật ngôn của sóng. Thơ như từng đợt xao động của sóng âm từ khơi xa dội về bến đợi. Hai bờ cách ngăn được thơ nối liền, chung thủy và thiết tha: Lá thư này anh viết giữa mùa trăng/ Trăng đẹp lắm như em đang mùa chín/ Anh khẽ khàng đợi khuya nhờ cánh sóng/ Mang yêu thương tình tự đất liền em. (Lá thư cánh sóng).

Nàng thơ soi chiếu nội tâm chính mình, tái hiện hoài cảm với một cảm xúc đẹp, thánh thiện trong sự cào xé của nỗi đau đã thấm buốt: “Câu thơ em mắc cạn/ Giằng co giữa lở bồi/ Trái tim vừa thấm buốt/ Có còn nguyên bồi hồi”? (Mơ một ngày nắng hát). Nỗi hụt hẫng trong tình yêu, hạnh phúc được nhà thơ lý giải nhẹ nhàng, chẳng hề xốc nổi, không một lời oán trách. Đó là dấu hiệu nhà thơ quá đủ trưởng thành để xác định rằng, đau thương cũng là một kỷ niệm đáng nhớ trong đời: “Tự giải phẫu nỗi đau/ Thương hình hài goá bụa/ Chút son môi không đủ từ trường/ Thì buông nhé/ Bình an - độ lượng/ Dẫu đò tình xanh lá bạc vôi*. (Hồng gai). Sự chịu đựng âm thầm, khi nếm vị đắng của tình yêu cũng chân thành như khi đang yêu: Những đêm dài/ Từ xa, ai gọi/ Trái tim đau không tự vá nổi mình/ Em đã yêu thật vội/ Uống say mềm/ Giọt mật của dối gian (Độc thoại).

Bên cạnh đó, TKL, với sự giản dị của một tâm hồn độ lượng ngát xanh, chị đã viết những câu thơ thật thà đáng yêu, thể hiện khát vọng gắn kết lứa đôi rất duyên dáng. Chắc hẳn tôi và các bạn khi đọc “Trầu xanh vội trắng/ Tôi và một … thì ai cũng đoan chắc sẽ là một… tôi. Nhưng không, thương quá câu thơ: “Ước gì mưa thuận gió hoà/ Trầu xanh vôi trắng/ Tôi và một ai..”. (Một tôi). Dễ thương đến độ tôi bất giác mỉm một nụ cười.

Bài thơ dưới đây không còn là một cảm xúc thời sự mà là một tiếng thét xé ruột gan. Tôi đau đớn và các bạn cũng đau đớn. Phải chăng đó là sứ mệnh của thơ, thơ cứu rỗi và thức tỉnh lương tri con người:

Mẹ ơi ở đâu
Có nghe con gọi
Chiều muộn từ lâu
Con thèm bữa tối...


Mẹ ơi mẹ ơi
Con nhớ bạn bè
Hẹn rằm tháng tám
Rước đèn kéo xe


Con nằm trong đất
Sâu lắm mẹ ơi
Ước gì cỏ mật
Nâng con lên trời...

(Làng Nủ)

Tôi có dụng ý để dành hai bài thơ mà tôi cho là trang trọng nhất và chân thành nhất đặt ở cuối bài viết.

Bài thứ nhất thể hiện sự hiếu kính muôn đời dành cho bậc sinh thành của tác giả:

Lớn lên từ gánh hàng rong
Mẹ tảo tần ngày mưa tháng hạn
Con chữ thẹn thùng neo thầm nụ nhớ
Phút áo hoa chạm gió sân trường
Ước mơ xanh ủ tàu lá cọ
Mưa đầu mùa
Có giọt biếc trong nhau

(Trổ biếc hương quê)

Và bài thứ hai dành cho các chiến sĩ Điện Biên đã ngã xuống trên đồi A1:

Họ nằm lại như những khúc lặng đếm thời gian.
Những mảnh xương rời vẫn nằm im trong màu
xanh áo trận. Những nén hương thơm nối âm
dương giữa người còn – mất. Hoa lá cỏ cây từ
xương máu luân hồi

(Những người nằm lại đồi A1)

Nét đẹp và sự thành công của thi tập CGMT đã được nhà văn Kao Sơn giới thiệu đầy đủ trong lời tựa. Phần bạt cuối sách cũng có hai bài viết của nhà thơ Hương Thu và Phan Ngọc Quang. Tôi xem phép cảm nhận đôi lời với tình cảm thân thiện dành cho TKL, một “muội” rất dễ mến luôn gọi tôi là huynh. Và đó là niềm vui mà thơ mang lại.

Chúc muội TKL ra mắt, phát hành thành công tác phẩm thơ thứ sáu CHỮ GỌI MÙA TRĂNG của mình.

Bà Rịa, ngày 20 tháng 9 năm 2025

N.B.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm