TIN TỨC

Những nụ hôn chữa lành

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-13 06:37:31
mail facebook google pos stwis
1111 lượt xem

Nhà thơ NGUYỄN THỊ THANH LONG
(Đọc tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế của Phạm Đình Phú)

Có những câu thơ chỉ cần đọc một lần đã in dấu trong lòng. Có những nụ hôn chỉ trao một lần trong đời, nhưng cháy mãi trong thơ. Tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế của nhà thơ Phạm Đình Phú là một trường hợp đặc biệt: một người lính từng vào sinh ra tử, một bác sĩ lăn lộn nơi đạn bom, chữa lành hàng ngàn vết thương, nay trở về chắt lọc cảm xúc đời mình thành những vần thơ dịu dàng, thiêng liêng và đẹp đến ngẩn ngơ.


Nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long

Không chọn những chủ đề hùng tráng, nhà thơ đi vào một hình ảnh nhỏ: nụ hôn – tưởng chừng riêng tư, mềm yếu, nhưng lại ẩn chứa sức mạnh tinh thần sâu sắc, như chính cuộc đời ông: một đời lính, một đời thầy thuốc lặng thầm, một đời yêu thương.

Ngay từ những bài đầu, ông đã dựng lên hình tượng nụ hôn thiêng liêng giữa chiến trường – nơi cái đẹp và cái chết cùng hiện diện:
"Liệt sĩ Anh hùng - nữ cứu thương
Thơm lừng ‘nụ gió’ ướt môi hường…" (Cháy mãi)
Nụ hôn ấy không phải để chiếm hữu, mà là lời tiễn biệt cuối cùng, là nghĩa tình vượt qua ranh giới sống - chết. Hình ảnh "nụ gió" nhẹ như hơi thở, nhưng chính là phép thiêng giữ lại chút ấm áp cuối cùng nơi người nằm xuống. Câu thơ giản dị mà khắc khoải nao lòng.

Cũng trong mạch cảm xúc ấy, nhà thơ thăng hoa bằng những liên tưởng táo bạo mà vẫn dịu dàng như lời thì thầm bên tai người yêu:
"Miên man ánh mắt chập chờn
Môi mím chặt nhưng không ghì được sóng" (Anh hư thế)
Ở đây, "sóng" không chỉ là ẩn dụ cho cảm xúc dâng trào, mà còn là đam mê, khao khát được sống và được yêu, dù đang giữa chiến hào đầy chết chóc. Môi mím chặt, nhưng vẫn không thể kìm nén cơn sóng lòng. Câu thơ mang vẻ đẹp của sự kềm nén và bùng vỡ, của cái lặng thầm rất lính và cái da diết rất người.

Một trong những câu thơ đẹp nhất tập thơ về nụ hôn là:
"Cho nhận cháy nhau quá đỗi ngọt ngào
Hơi thở phập phồng nghe lòng hoang dại" (Yêu em đi)
Nhà thơ nói thay lời một vong hồn nữ liệt sĩ, nhưng lại chan chứa sự sống. Tình yêu ở đây vượt qua ranh giới vật lý và thời gian. "Cháy nhau" – cách diễn đạt mạnh mẽ, đầy nhục cảm nhưng không hề dung tục, ngược lại, chạm tới sự thần thánh hóa của tình yêu và đức hy sinh.

Nhà thơ còn có những câu nhẹ nhàng hơn, nhưng chứa đựng chiều sâu của sự chờ đợi và hồi tưởng:
"Vành môi chín mọng nguyên trinh
Anh như chết lặng
Nghe tình lên ngôi!" (Nụ xuân)
Tình yêu ở đây không ồn ào, không gào thét. Nó đến trong khoảnh khắc ngỡ ngàng, khi vẻ đẹp chín đúng lúc khiến trái tim phải cúi đầu quy phục. Câu "Nghe tình lên ngôi!" là sự lên ngôi của vẻ đẹp thuần khiết, của xúc cảm chân thành không tô vẽ.

Tình yêu trong tập thơ này không chỉ là cảm xúc đôi lứa. Đó còn là tình đồng đội, tình quê, tình đất nước:
"Chiến trường hiện về trong ánh mắt
Tổ quốc trên vai
Quê hương gửi gắm chí trai…" (Dang dở)
Hay:
"Bạn đồng môn
Biền biệt cách xa…
Má kề môi thay lời sẻ chia thầm thì thân ái" (Ấm lòng những nụ hôn như thế)

Nụ hôn trong thơ Phạm Đình Phú không giới hạn trong một "kiểu yêu". Đó là biểu tượng của kết nối, của niềm tin, của một thời rất thật đã đi qua. Và mỗi nụ hôn như thế, dù là của mẹ, người yêu, đồng đội hay chính Tổ quốc, đều ấm lòng, đều thiêng liêng.

Không quá lời khi nói rằng, nhà thơ Phạm Đình Phú đã xây nên một tượng đài thơ bằng chất liệu "nụ hôn". Ở tuổi 80, ông không chọn hồi ký, không chọn khẩu hiệu, mà chọn một cách tiếp cận tinh tế, đầy thi ca và nhân văn. Trong cách viết ấy, ông không hô khẩu hiệu mà thủ thỉ; không áp đặt mà khơi gợi; không bi lụy mà thấm đẫm yêu thương.

Ấm lòng những nụ hôn như thế không chỉ là hành trình thi ca, mà còn là bức khắc họa bằng ngôn ngữ đậm tính nhân văn về tâm hồn người lính, về tình yêu và sự sống giữa lằn ranh sinh tử. Ông không "phô diễn kỹ thuật", nhưng những câu thơ ngấm vào người đọc bằng chính sự từng trải, trung thực và tinh tế.

Một tập thơ đáng đọc. Đáng nhớ. Và đáng trân quý.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 7 năm 2025
NTTL


NHỮNG NỤ HÔN

Kính tặng nhà thơ Phạm Đình Phú
 

Cuối chiều - Tìm lại - Nụ xưa

Ngất ngây - Khao khát – Cơn mưa dại khờ

Nụ xuân - Không phải trong mơ

Dành riêng anh để - Đôi bờ - Còn không

Nụ em chiêm trũng - Ấm nồng

Lần theo đốm lửa - Sang sông - Bến đò

Hãy ngủ đi và ước mơ

Niềm thiêng - Dang dở - Tình xưa ùa về

Yêu em đi ! -  Ánh trăng quê

Tại anh hư thế - Lối về còn vương

Gửi cho anh - Cháy -  Nụ hường

Niềm xưa - Thương nhớ yêu thương lạ kỳ

Đợi anh! Nụ gió đương thì

Cận kề chưa kịp gửi đi - Hỡi người!

Nụ hôn - Thế hệ chúng tôi

Ấm lòng như thế - một thời đạn bom

Trời cho, Ai mất ai còn

Cờ sao - Khát vọng - Các con chuyện trò

Hương tình - Kỷ niệm trong mưa

Nụ Xuân trọn vẹn Tháng Tư - nhớ người.
 

                                                 NTTL

Ghi chú: Những cụm từ in đậm là tên những bài thơ trong tập thơ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm