TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Những sắc màu ánh sáng trong tập thơ Thắp nến tôi để dành của Nguyên Bình

Những sắc màu ánh sáng trong tập thơ Thắp nến tôi để dành của Nguyên Bình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-05-06 06:13:35
mail facebook google pos stwis
2387 lượt xem

TRIỆU KIM LOAN
 

Trả em thời gian xanh

đồi uyên ương lộng gió

góc không gian hoa cỏ

thắp nến tôi để dành... (Khép mắt)

Những câu thơ giàu thi ảnh, ngân vang như những nốt nhạc của một giai điệu tình yêu nồng nàn, tha thiết đã cuốn hút tôi khám phá những sắc màu ánh sáng đa chiều trong tập thơ Thắp nến tôi để dành của nhà thơ Nguyên Bình.

Nguyên Bình tên thật là Nguyễn Bá Bĩnh sinh ra ở Thừa Thiên Huế, tốt nghiệp ĐHSP Huế, gắn bó với nghề dạy học cho đến khi nghỉ hưu, hiện sinh sống và sáng tác tại Thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Thắp nến tôi để dành là tập thơ thứ tư của anh sau Tiền kiếp (2019), Hoa vàng trên áo xanh (2020), Dòng nhựa thơm nguyện ước (2021). Ngoài thơ, anh còn viết cảm nhận văn học cho hàng trăm tác phẩm của bạn bè trong và ngoài nước. Những vài viết đã được xuất bản qua hai tập QUYỀN NĂNG CỦA NGÔN NGỮ TỪ TRÁI TIM (Cảm nhận văn học I) và BÀI LUÂN VŨ CỦA GIAO CẢM THI CA (Cảm nhận văn học II) mà tôi vinh hạnh là một trong những tác giả được anh quan tâm với thi phẩm KHÁT VỌNG XANH.

Lawrence Ferlinghetti từng nói: “Thi ca là khoảng cách ngắn nhất giữa hai con người. Thi ca là cái bóng được chiếu bởi những ngọn đèn đường của trí tưởng tượng”. Với 70 bài thơ, những mảng màu ánh sáng trong Thắp nến tôi để dành của Nguyên Bình được khúc xạ bởi tình yêu lứa đôi, tình yêu tha nhân, những thăng trầm trong cuộc sống mà nhà thơ trân quý. Tên gọi của tập thơ đã ngầm chứa những vỉa trầm tích, dẫn dụ người đọc đến với mạch nguồn chủ đạo xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Nguyên Bình.

Là một người xa xứ, những hoài niệm đau đáu đến khắc khoải về quê hương, gia đình nghèo khó được tái hiện trong thơ thật xúc động:

Đêm qua đất chảy thành sông/ nước lăn thành đá nhà rông thành thuyền/ Vườn sau sóng vỗ êm đềm/ con cá bơi ngửa trước thềm rêu xanh./ Quê nhà mạ đội mái tranh/ em bồng con đứng níu cành khế chua/ thằng cu húp chén nước mưa/ bàn thờ tiên tổ còn lưa lư đồng/ Tôi về ôm nhánh củi rong/ bập bềnh nước vỗ ong ong mái nhà/ cóng tay cha bế tôi qua/ bước trên đọt chuối oằn sa mấy buồng

(Giấc mơ Cam Lồ)

Quê hương, nguồn cội chính là nơi quay về - nơi bến đỗ bình yên, nơi bờ vai nương tựa được nhà thơ thi vị hóa bằng hình ảnh nụ đầu cành xanh biếc, vạt nắng vỗ tình đôi cánh lụa, đồi thạch thảo nở bừng hương diệu vợi và mây thong dong trong vầng sáng nhật nguyệt: Nơi ra đi cũng là chốn quay về/ mùa nhung nhớ nụ đầu cành xanh biếc/ mây lang thang một mình em nhật nguyệt/ nắng vỗ tình đôi cánh lụa là yêu (Quay về). Hoài niệm về một thời gian khốn khó với gánh nặng mưu sinh nhưng thơ Nguyên Bình không bi lụy, than vãn dù vẫn vương lại chút dư vị buồn:

Cùng lắm thì anh quẹt ga đốt trầm xông

hu hồn con cơ tình bò trên giấy

chiếc muỗng gãy đôi

trái tim gỗ cựa quậy

cô hàng ơi

cho anh xin tí đường...

(Nhớ những gì sẽ xa).

Thắp nến tôi để dành là vườn thơ tình yêu với đủ hương thơm, sắc màu và giọng điệu. Chủ thể có lúc nhập vai nhân vật trữ tình, có lúc tự phân thân thành hai nhân vật tự đối thoại về tình yêu lứa đôi. Có lúc là tình yêu tinh khôi, ngọt ngào và mê đắm:  Thức dậy tìm em/tóc rối xanh xưa xỏa mềm trên gối trắng/ vòng tay ôm cõi xa thăm thẳm/ có đủ ấm tình nhau (Cuối năm rồi). Có lúc trở về với bộn bề cảm xúc: trong tiết lạnh se se, dấu hương của hò hẹn đánh thức và chút buồn khe khẽ của nỗi nhớ vương mang đã tạo nên tứ thơ đẹp:  

Một chút lạnh se se ngoài sân vắng

một chút hương lưu dấu buổi hẹn hò

một chút nhớ tủi hờn sau ngực áo

một chút buồn khe khẽ rắc tàn tro

(Hoang vu)

Rất nhiều bài thơ viết về tình yêu mãnh liệt được mĩ lệ hóa qua những hình ảnh của đất trời cây cỏ: Trời đất rộng mà tình yêu duy nhất/vũ trụ mênh mông ta chọn dải ngân hà/ em hãy sáng như ngôi sao bất tử/ ta sẽ hái về từ mộng dấu yêu xa

(Quán trọ mùa đông), Trái tim xanh đã cháy hết mùa thu/ khi lá biếc vừa nhuốm vàng cuống nhớ/heo may em đi qua mùa trăn trở/ôi ngập ngừng tình lỡ với tình không…(Trái tim mùa thu), Trong đêm sâu/hai vì sao thức trắng/bờ hoang nhiên/tinh tú gối tay nằm/linh hồn ta/dạo qua chòm nhân mã/chạm thiên thu/vỡ một khúc nguyệt cầm.(Bóng thời gian). Niềm khát khao bỏng cháy đón nhận tình yêu được đo bằng ánh sáng dịu mát của vầng trăng, dòng chảy mềm mại mờ ảo trong khói mây của sông Ngân, vẻ đẹp lộng lẫy của vườn hoa thạch thảo:

Ta đứng chờ em

bên bờ sông Ngân huyền hoặc

gieo vần thơ vào mùa thu

vườn thạch thảo nở bừng hương sắc

bung lụa là

cả vầng trăng rót mật

ngọt lịm một mùa yêu

(Mũi tên vàng)

Tình yêu là đề tài muôn thuở cũng là mảnh đất mỡ màu để thi nhân gieo trồng và vun sới theo cách riêng của mình. Nói như Philip Larkin: “Mỗi bài thơ là một vũ trụ duy nhất, do đó không có cái gọi là truyền thống, một huyền thoại chung trong mỗi bài thơ của các nhà thơ khác nhau…” Gần gũi và chia xa, thủy chung và lừa dối là những mặt trái ngược trong tình yêu và đạo lí làm người. Nguyên Bình đã có những phá cách táo bạo để biểu đạt những phức điệu ấy bằng những ẩn dụ tinh tế:

Em cởi chiếc áo tình nhân
trả tôi màu hoang đường không có thật
sắc màu loài người đánh mất
bằng ánh mắt dối lừa nhau.

 

Tôi ngu ngơ thương tia sáng nhiệm mầu
ngu ngơ yêu tiếng cười pha lê vỡ
yêu bàn tay bé nhỏ
em siết chưa tròn một nỗi cô đơn

 (Phơi áo)

Để chuyển tải nhất quán những mảng màu ánh sáng trong Thắp nến tôi để dành, nhà thơ đã khai thác đa dạng đề tài, phong phú về thể loại và có những cách tân trong cách xây dựng tứ thơ, lựa chọn và xử lí ngôn ngữ, ngắt nhịp theo lối viết hiện đại. Những thi ảnh được sử dụng táo bạo đã tạo nên hiệu quả thẩm mĩ cao: Chiều lạc bước/ chiều rơi vàng lối nhỏ/gió chưa sang/ sợi nắng úa thầm thì ( Bóng thời gian). Hệ thống từ láy được sử dụng đậm đặc đã diễn tả tinh tế trạng thái của cảnh vật, con người: Thu chưa xa mà cúc tím rưng rưng/ phơn phớt gió xua đôi tà áo mỏng/ rơm rớm nắng hoe vàng hong số phận/ xao xác hồn từng chiếc lá me bay…(Trái tim mùa thu), Mắc chiếc áo màu tình yêu lên liềm trăng/ mới hôm qua thôi mà biếc xanh đã nhạt ( Phơi áo). Nhà thơ sử dụng nhiều phép so sánh, ẩn dụ, nhân hóa sáng tạo: Ai rót hương mà đầy khuông nhạc/ dòng kẻ xanh như ngón tay gầy (Nắng đầu mùa). Những so sánh độc đáo này mở ra trường liên tưởng rộng, nhờ vậy tránh được sự sáo mòn của sự biểu đạt ngôn ngữ thông thường:

Lời hờn ghen như bóng gã thủy triều

tràn lấp em rồi hồn nhiên rút chạy

bờ quạnh hiu dịu êm muôn đời ấy

thùy dương xanh xanh thắm lá đợi chờ

(Quay về)

Nguyên Bình viết nhiều thể thơ năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, tám chữ hiện đại, lục bát nhưng- như anh chia sẻ, thể thơ anh yêu thích và thành công hơn cả là thể thơ tự do. Với tư duy mở rộng biên độ về không gian, thời gian và những phức điệu tâm trạng của nhân vật trữ tình, thể thơ tự do là sự lựa chọn sáng suốt của tác giả.  Thơ lục bát của Nguyên Bình ngọt ngào, mềm mại, giàu nhạc tính, cách ngắt nhịp thả chữ hiện đại nhưng vẫn giữ được hồn cốt, tinh hoa của thơ ca truyền thống: Gieo vần/lạc khúc ca dao/ngàn sau ai biết/vì sao/nổi chìm.../Lật tung tiền kiếp soi tìm/thì ra/ mắc nợ/ lời nguyền xửa xưa (Lời nguyền xưa).

Phương Lựu từng nói: “Nghệ thuật là lĩnh vực của sự độc đáo vì vậy nó đòi hỏi người viết sự sáng tạo phong cách mới lạ, thu hút người đọc”. Thắp nến tôi để dành

là tập thơ thứ tư của Nguyên Bình đã khẳng định nét riêng trong cách biểu đạt và bản lĩnh của một cây bút chuyên nghiệp. Sự nghiêm túc và niềm đam mê trong lao động nghệ thuật đã giúp anh đạt được những thành công nhất định.

 

Trang bản thảo cuối cùng đã khép lại nhưng dư âm và những dòng thơ của Nguyên Bình cứ chầm chậm ngân nga và trò chuyện như nhắn nhủ và mời gọi.

Mùa thu hững hờ rắc hạt nhớ vào trăng
ta vun liếp gieo mầm thương mây trắng
heo may khóc trên bến xưa hoang vắng
ngày buồn rơi thả giọt nắng cuối mùa
... (Cuối mùa)

Giữa những bộn bề và hối hả của cuộc sống đương đại, vẫn có một người thơ cần mẫn gieo trồng, vun đắp trên cánh đồng chữ nghĩa nhọc nhằn để dâng hiến cho nghệ thuật. Xin chúc nhà thơ Nguyên Bình dồi dào bút lực và thành công trong hành trình sáng tác của mình.

T.P HCM 1/5/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm