TIN TỨC

Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-02 08:42:35
mail facebook google pos stwis
471 lượt xem

PHẠM ĐÌNH THÀNH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.

 

Tác giả tại nhà riêng của nhà thơ Phạm Thiên Thư

 

Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

Động hoa vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư có lẽ đã trở thành một miền ký ức khó phai đối với người yêu thơ miền Nam trước năm 1975. Người yêu nhạc lại càng mê đắm ca khúc “Đưa em tìm động hoa vàng” của nhạc sỹ Phạm Duy – một bản phổ nhạc được chắt lọc từ những câu thơ đẹp nhất trong thi phẩm này. Nhưng vượt lên trên sức lan tỏa của âm nhạc, Động hoa vàng trước hết vẫn là một hiện tượng thơ độc đáo của văn học Việt Nam hiện đại, nơi Phạm Thiên Thư tạo dựng cho mình một cõi thơ riêng: vừa bảng lảng thiền vị phương Đông, vừa phóng khoáng trong cảm thức hiện đại.

Tập thơ gồm bốn trăm câu lục bát chia thành một trăm đoạn ngắn, nhưng gần như đoạn nào cũng thấp thoáng một ánh sáng thi ca riêng biệt. Đặc biệt, hình tượng bốn mùa xuất hiện với tần suất dày đặc: mùa xuân 15 lần, mùa hạ 3 lần, mùa đông 11 lần và mùa thu nhiều nhất với 19 lần. Điều đáng nói là ở Phạm Thiên Thư, bốn mùa không chỉ là tín hiệu thời gian mà đã trở thành một hệ mỹ cảm, một cấu trúc biểu tượng mang tính thi pháp.

Thi thoảng trong tập thơ, nhà thơ nhắc đến mùa rất tự nhiên, gần như chỉ để ghi nhận một vòng quay đời sống. Nhưng chính sự giản dị ấy lại tạo nên cái duyên riêng cho thơ:

Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân
                                    (Đoạn 31)

Cái thú “uống đông”, “uống xuân” ở đây không chỉ là thú tao nhã của người xưa mà còn gợi một quan niệm sống mang màu sắc Đông phương: con người hòa nhập với tiết điệu của đất trời. Mùa không đứng ngoài đời sống mà đi vào chén trà, bầu rượu, thấm vào nhịp sinh hoạt thường ngày. Ẩn sau những câu thơ tưởng như mộc mạc ấy là tinh thần “thiên nhân tương dữ”, nơi con người giao cảm với tự nhiên như một phần máu thịt.

Sự hồi tưởng về những tháng ngày yêu thương vốn thường được nhiều thi sĩ gắn với tà áo thiếu nữ. Nguyên Sa nhớ người yêu “bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”, rồi từ màu áo mà yêu luôn cả sắc hoa, màu lá:

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường…

Còn Phạm Thiên Thư lại đặt sắc áo người yêu trong dòng chảy bốn mùa:

Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa
                                     (Đoạn 8)

Ở đây, thời gian không còn là khái niệm trừu tượng mà trở thành màu sắc. Mỗi mùa là một gam màu trên thân thể người thiếu nữ. Thi pháp ấy khiến hình tượng nhân vật trữ tình mang vẻ đẹp vừa thực vừa mộng. Nhà thơ không miêu tả trực tiếp nhan sắc mà để mùa thay mình nói hộ. Chính sự “thi vị hóa thời gian” ấy đã làm nên nét tài hoa của Phạm Thiên Thư.

Nếu mùa thu trong thơ ca truyền thống thường gắn với nỗi buồn ly biệt, với gió heo may và tiếng mưa ngâu, thì mùa thu trong thơ Phạm Thiên Thư lại mang một vẻ đẹp rất khác: nhẹ, xanh và trong trẻo:

Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân
                                   (Đoạn 21)

“Thu xanh” là một sáng tạo ngôn ngữ đặc biệt. Về logic thị giác, thu thường gắn với sắc vàng; nhưng ở đây nhà thơ cố tình phá vỡ quán tính liên tưởng quen thuộc để tạo nên một trường nghĩa mới. Mùa thu không tàn phai mà mang màu của tuổi trẻ, của thanh xuân chưa úa. Chính sự chuyển đổi cảm giác ấy đã cho thấy khuynh hướng tượng trưng và siêu thực thấp thoáng trong thơ ông.

Đến đoạn:

Chim nào hát giữa thôn hoa
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay
Lụa nào phơi nắng sông tây
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông
(Đoạn 25)

cái đẹp dường như đã đạt đến độ phi thời gian. “Xanh hoài thu đông” không chỉ là màu áo mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp vượt thoát quy luật tàn phai. Thi pháp lục bát của Phạm Thiên Thư ở đây không đi theo lối kể mà nghiêng về gợi. Câu thơ mở ra nhiều khoảng trắng liên tưởng hơn là khép lại bằng một ý nghĩa xác định.

Một đặc điểm nổi bật khác là nhà thơ thường đặt bốn mùa bên dòng sông. Trong thi ca Việt Nam, sông vốn là biểu tượng của thời gian, của nỗi nhớ và sự lưu chuyển. Nhưng ở Phạm Thiên Thư, dòng sông còn là nơi hội tụ cảm xúc thẩm mỹ:

Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm
(Đoạn 26)

và:

Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
                                      (Đoạn 30)

Sông hạ trong thơ ông không dữ dội mà trong xanh, dịu nhẹ, đủ để mây trắng soi bóng mình. Đó là vẻ đẹp của một tâm hồn không bi lụy. Nếu Hàn Mặc Tử từng nhìn thấy “mây chết đuối giữa dòng sông vắng lặng”, thì Phạm Thiên Thư lại nhìn thấy một dòng sông biết “ngâm mây trắng”. Thiên nhiên trong thơ ông luôn mang trạng thái giao cảm hiền hòa, như thể vạn vật đều có linh hồn.

Khi mùa thu hiện ra, dòng sông lại trở nên bảng lảng cổ điển:

Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
                                       (Đoạn 27)

Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.

Bên cạnh hệ thống hình ảnh giàu chất họa, nghệ thuật tu từ trong thơ ông cũng đặc biệt tinh tế. Phép đối ngữ xuất hiện tự nhiên mà vẫn tạo được độ ngân:

Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa
                                     (Đoạn 65)

“Cuối xuân” đối với “sớm thu”, “thềm hoa dại tàn” đối với “cỏ mộ vàng cúc hoa”, tất cả tạo nên một nỗi ngậm ngùi nhẹ mà sâu. Đó không phải nỗi đau dữ dội của mất mát, mà là cảm thức vô thường rất gần với tinh thần Phật giáo trong thơ Phạm Thiên Thư.

Dường như ông còn chủ ý làm mới cấu trúc lục bát bằng những đảo ngữ bất ngờ:

Đón em như ngóng chim trời
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu
                                    (Đoạn 69)

“Bãi xuân”, “khói thu” được đặt trong một trật tự cú pháp khác thường, khiến câu thơ vừa có độ chênh của hội họa siêu thực vừa giữ được nhạc điệu mềm mại của lục bát truyền thống. Có thể nói, Phạm Thiên Thư là một trong những người đã góp phần hiện đại hóa lục bát mà không làm mất đi hồn cốt dân tộc của thể thơ này.

Nghệ thuật nhân hóa bốn mùa cũng là một nét đặc sắc:

Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa
                               (Đoạn 34)

và:

Mùa xuân mặc lá trên ngàn
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư
                            (Đoạn 49)

Ở đây, mùa xuân và mùa thu hiện lên như những thiếu nữ biết “mặc”, biết “chơi”, biết làm duyên cùng cỏ cây. Thiên nhiên không còn là phông nền mà trở thành một sinh thể sống động. Điều đó cho thấy cái nhìn vạn vật hữu linh rất rõ trong thơ ông.

Nếu Nguyễn Du trong Truyện Kiều từng khắc họa bốn mùa bằng bút pháp ước lệ cổ điển, thì Phạm Thiên Thư lại vẽ bốn mùa bằng một thi pháp hiện đại hơn, giàu trực giác và cảm giác. Ông không đi theo lối mô tả quen thuộc của thơ truyền thống. Hạ trong thơ ông không rực lửa; thu không lá vàng hiu hắt; đông không rét buốt quạnh hiu; xuân cũng không tràn ngập tiếng reo vui. Các mùa hiện ra như những miền cảm xúc nội tâm hơn là những thực thể tự nhiên.

Đó chính là nét riêng không thể trộn lẫn của Phạm Thiên Thư. Ông không chỉ “tả cảnh” mà còn “tạo cảnh”. Bốn mùa trong Động hoa vàng là bốn miền tâm tưởng, nơi hiện thực được gạn lọc qua cảm giác và trực giác nghệ sĩ. Có lẽ vì thế mà thơ ông luôn đẹp như một giấc mộng, mong manh mà ám ảnh.

Và nếu cần một lời lý giải vì sao mùa ở đây lại nhẹ nhàng, thanh thoát đến vậy, thì có lẽ câu trả lời giản dị nhất vẫn là: bởi đó là bốn mùa trong “Động hoa vàng”, một động thi ca lục bát mang tên Phạm Thiên Thư.

P.Đ.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm