TIN TỨC

Sức bền của ngòi bút

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-03-29 16:57:07
mail facebook google pos stwis
2727 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

(Nghĩ từ Mây hồng, tập truyện ngắn của Nguyễn Trường, Nxb Thanh niên, 2023)


Duyên văn, hay là sức bền của ngòi bút

Nhà văn Nguyễn Trường đoạt ngôi Khôi nguyên Cuộc thi truyện ngắn 2015-2017 báo Văn nghệ với chùm truyện Vương quốc mộng mơ, Quà tặng tương lai, Mùa thanh long. Giải thưởng văn chương như là một thứ “vương miện” của nghệ thuật ngôn từ, một cuộc vượt vũ môn ngoạn mục trong nghề chữ. Nhưng bằng trải nghiệm văn chương, những độc giả tinh tường sẽ không thỏa mãn với “mức xà” mà nhà văn mình yêu thích vừa vượt qua, trái lại luôn hồi hộp đón chờ và kỳ vọng vào những thành tích mới, kỷ lục mới của người đó trong tương lai gần và xa. Tính đến năm 2023, nhà văn Nguyễn Trường đã làm chủ một “văn sản” không hẳn đã đầy đặn về số lượng nhưng rõ ràng tiệm tiến chất lượng nghệ thuật, hay nói cách khác là thặng dư hàm lượng văn hóa: bốn tiểu thuyết (Hơn cả tình yêu, Mộng đế vương,  Đi qua thời áo trắng, Tâm linh) và ba tập truyện ngắn (Thiên nhãn, Khai khẩu, Mây hồng), chưa kể đến một tập tiểu luận - phê bình viết chắc tay Văn học - Một hướng nhìn. Riêng viết truyện ngắn, kể từ Đêm chiến tranh in vào đầu những năm chín mươi thế kỷ trước đến nay, nhà văn đã có một “pho” chừng khoảng bốn chục “cái”. Nói duyên văn hay dấu ấn Nguyễn Trường trên văn đàn đương đại, hẳn là nhờ vào truyện ngắn. Tôi nghĩ, sau Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Bảo Ninh có Sương Nguyệt Minh, Trần Thùy Mai, Nguyễn Trường, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thi Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư đã góp công tôn cao cái nền vững chắc của truyện ngắn dân tộc thờì nay.

 Cổ nhân hay nói đến chữ “duyên” áp vào mỗi số phận con người, nếu vận vào lĩnh vực văn học nghệ thuật lại càng sát thực. Thi sĩ Xuân Diệu có bài Thơ duyên rất hay, càng đọc càng thấy ý vị (cái duyên tạo nên sự hấp dẫn của thơ ca cũng như cái duyên tạo nên sự hấp dẫn của một cô gái dẫu nhan sắc chưa đến độ “nghiêng nước nghiêng thành”). Đọc rồi vận vào chuyện viết lách của giới văn chương  càng thấm thía. Theo cách diễn đạt của giới lý luận - phê bình thì đó là năng lực “neo chữ” của người viết khiến cho chữ được “neo” vào ký ức độc giả. Không nhiều nhà văn như Nguyễn Trường trong bốn năm liền được chọn Top 10 truyện ngắn hay báo Văn nghệ (2016, 2017, 2018, 2020). Đặc biệt hơn, báo Văn nghệ đã ưu ái dành hẳn một trang đăng ý kiến của độc giả và nhà văn về thiên truyện Khai khẩu (đăng báo Văn nghệ số 35+36, ra ngày 1/9/2018), đây là  một trong những “cái ngắn” đậm đà phong cách Nguyễn Trường (tâm lý - triết lý - trữ tình). Trên báo Văn nghệ số Tết Giáp Thìn, nhà văn Nguyễn Trường đứng chân truyện ngắn Tác phẩm còn lại. Với “cái ngắn” này, tôi nghĩ, số báo Văn nghệ Tết càng thêm “bắt mắt”, thậm chí nhiều bạn văn còn nói có thể còn tăng tirage (số lượng in) nữa.
 

 Đi tìm sự thật trong những mảnh vỡ của số phận

Mây hồng là tập truyện ngắn thứ ba của nhà văn Nguyễn Trường, gồm 12 truyện (Di cảo của cha, Người từ nước Mỹ trở về, Người của đảo, Bữa cơm chiều ba mươi tết, Người trong cõi mộng, Đồi Phượng Hoàng, Minh châu tỏa sáng, Mây hồng, Chuyện trên biển Cần Giờ,  Người viết sử, Điểm gặp lịch sử, Quà tặng tương lai). Mỗi truyện, trừ truyện Mây hồng được dùng làm đặt tên cho cả tập, tôi hình dung, như là những “mảnh vỡ” của số phận, của kiếp người, như là những “góc khuất” của đời sống xã hội và con người trong cõi nhân gian lắm cuộc bể dâu, tang thương ngẫu lục. Có thể thấy chủ đề xuyên suốt nhiều truyện trong Mây hồng là nỗi niềm và khát vọng của con người trên hành trình đi tìm sự thật, cao hơn và cuối cùng là chân lý. Di cảo của cha là một thiên truyện cô đặc được chủ đề trung tâm và quan  trọng này - sự thật mang tính khách quan hay mang tính chủ quan, luôn luôn là một câu hỏi lớn và khó với con người mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi thế hệ. Sau bao biến cố thăng trầm, sau nhiều trải nghiệm người con mới ngộ ra “Nhưng Cha ơi, việc của đời xưa từng mơ hồ, lẫn lộn, phải tìm ra sự thật mới được vinh danh”. Truyện Người từ nước Mỹ trở về, theo tôi, là một “biến tấu chữ” trong cách viết của Nguyễn Trường, nếu có thể nói thì nó hao hao dạng thức “xã hội ba đào ký” trước 1945 do nhà văn Nguyễn Công Hoan cầm trịch trên báo chí từng làm sôi động văn đàn. Người Việt có lắm giấc mộng nào là thành đế vương, nào là thành triệu phú, nào là thành nhân tài, thành “sao”,....Nhưng đa số lại thiếu hẳn cái căn cơ là tinh thần thực tiễn nên mới ăn quả đắng như nhân vật anh chàng Thắng trong truyện, như lời nhận xét của cô bạn gái có cảm tình  với anh chàng đi tìm miền đất hứa “Tại bạn không cố gắng. Sống được trên nước Mỹ yêu cầu người ta phải có nghị lực ghê gớm vì đó là cả một cuộc cạnh tranh khốc liệt để làm giàu, còn bạn vẫn không thoát ra khỏi những chiến thắng hư ảo”.

 Trong Mây hồng, ngòi bút của nhà văn hướng tới một mạch (dòng chảy) đời sống khác - nơi những con người bình thường nhưng tử tế trú ngụ, tỏa sáng, giữ tròn thiên lương, bảo tồn nhân cách trong bất kỳ tình huống nào của đời sống. Theo tôi, nước ta hiện không thiếu những người thông minh (cứ xem số lượng mấy chục nghìn tiến sĩ thì rõ), song le đáng tiếc ta còn thiếu những người tử tế. Nên đời sống cứ loanh quanh, eo xèo, đôi khi như là bế tắc, kiểu như “mảnh đất lắm người nhiều ma” vậy. Đi tìm con người tử tế, nâng cao vị thế của nó trong nghệ thuật ngôn từ, với nhà văn Nguyễn Trường, theo tôi là một niềm say mê có tính bẩm sinh cốt cách từ trong máu huyết, sau đó hiện hình trên từng trang văn ngày càng rõ ràng như dưới thanh thiên bạch nhật. Quà tặng tương lai (một trong ba truyện ngắn được giải thưởng báo Văn nghệ 2017, như đã nói ở trên) đã làm phát lộ phương diện quan trọng của sự viết văn - đề cao tình nghĩa của con người tử tế trong lối sống, văn hóa ứng xử. Nhân vật người Mẹ trong truyện hiện lên như một liệt nữ. Viết theo hướng này thực sự nhà văn đã thể hiện cái ý thức chắt chiu cái đẹp. Người Mẹ trong truyện không bao giờ phản bội lý tưởng về cái đẹp của mình, dẫu có thể là bản năng và tự phát, vì suốt đời bà đã trung thành tuyệt đối với nhân nghĩa. Bà Mẹ là một mẫu mực của con người bảo lưu  được ký ức lương thiện. Các nhân vật ấn tượng nổi bật khác như Danh Tốt trong Người của đảo, Mỹ Hương trong Chuyện trên biển Cần Giờ,...đều là những con người bình thường, thậm chí đôi khi bị khuất lấp giữa dòng đời được nhà văn đặc biệt quan tâm với nhiệt hứng khích lệ, cổ vũ, thậm chí có sự phóng đại (khuyếch đại) thẩm mỹ cái tốt và cái đẹp, theo sự dẫn dắt của nguyên lý tối thượng “cái đẹp chính là đời sống’.

Nhân vật được ghi vào sử sách trong truyện ngắn Nguyễn Trường có cái đặc tính “hòa âm” giữa bản năng và lý trí, giữa khả năng thích nghi thời cuộc, tầm nhìn lịch sử và tinh thần tiết tháo kẻ sĩ, tiêu biểu như nhân vật Đại tướng Dương Văn Minh - trên ngôi vị Tổng thống cuối cùng (chỉ trong ba ngày) của Việt Nam Cộng hòa (Chính quyền Sài Gòn) trong truyện Điểm gặp lịch sử. Đồng ý rằng đã là truyện đều hư cấu, song Điểm gặp lịch sử gây ấn tượng với độc giả như thể một phóng sự văn học thú vị “Dương Văn Minh cầm tấm ảnh mà ông đạo Dừa đã trả lại ngẫm nghĩ “Chỉ có con đường thuận theo lòng dân là thắng”; ông đã thẳng thắn trả lời Francoiis Vanussème - Tướng tình báo ở Đại sứ quán Pháp tại Sài Gòn “Tôi từng làm việc cho Pháp, rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi, bây giờ không dại gì sa vào bẫy của nước lớn”. Lời nhận xét của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt về Đại tướng Dương Văn Minh quả là nhân ái và công tâm “Còn ông đã góp phần cứu Sài Gòn này không bị đổ nát, cứu sinh mạng hàng vạn con người. Nhất là không đưa đất nước lại rơi vào vòng xoáy chiến tranh”. Chắc hẳn nhiều người đã thích thú đọc sách Dương Văn Minh - Tổng thống cuối cùng của Chính quyền Sài Gòn của nhà báo - nhà văn Nguyễn Trần Thiết. Nhưng nếu cần một ấn tượng duy nhất và ám ảnh thì có thể đọc thiên truyện Điểm gặp lịch sử của nhà văn Nguyễn Trường, cũng có thể đủ đầy.
 

Những biến tấu chữ hay là sự linh hoạt bút pháp

Trong các bài viết trực tiếp hay có liên quan đến nhà văn Nguyễn Trường, tôi từng khẳng định rằng, dường như “ông” này hoàn toàn xa lạ với các chủ nghĩa (ism) thời thượng đang như một cơn sốt từ nhẹ chuyển sang nặng trong văn giới nước nhà, rõ nhất ở thế hệ F+ (7X, 8X, 9X) - nào là Hậu hiện đại, Hậu thực dân, Nữ quyền luận, nào là Phi lý, Phân tâm học, Sinh thái học,... đang như nấm mọc mùa xuân. Những động thái này biểu hiện sự xa rời hay cắt đứt với truyền thống dân tộc trong sự nỗ lực (hay là nôn nóng thì đúng hơn) hiện đại hóa nghệ thuật ngôn từ nhưng đáng tiếc thiếu sự chính cương, thiếu sự hợp lý hợp tình, hẳn vì nghệ thuật không phải là thời trang.

Đọc văn Nguyễn Trường (tiểu thuyết, truyện ngắn) tôi thấy nhà văn dường như thể cứ đủng đỉnh, tự tại, tự tin “lối cũ ta về” khi viết. Cốt cách này lần nữa hiện hình rất đậm đà trong tập truyện ngắn thứ ba có tựa Mây hồng. Tính truyền thống của các thiên truyện chính là nương tựa (dựa hẳn) vào các “tích trò”, “sự tích”, “chuyện” hiện tồn trong thực tế, hoặc giả trở thành như là những giả định về đức tin của tâm linh. Những thiên truyện như Di cảo của cha, Quà tặng tương lai gần với mô hình cổ tích, nhưng là cổ tích thời hiện đại; lại có những “cái ngắn” gần với tích tuồng như Người từ nước Mỹ trở về;  có cái ngắn gần với thể truyền kỳ như Người trong cõi mộng, Mây hồng,...

Nếu nói phong cách văn xuôi Nguyễn Trường được xác nhận trong khung khổ “tâm lý - triết lý - trữ tình” thì quả thực tập truyện Mây hồng đã thực thi được cái gọi là “neo chữ”, cũng bởi sự biến ảo của bút pháp. Mười hai truyện trong tập nương theo những mạch cảm hứng khác nhau kiến tạo nên những bút pháp linh hoạt: lúc hoạt kê (Người từ nước Mỹ trở về), lúc huyền kỳ (Người trong cõi mộng), lúc tân văn (Điểm gặp lịch sử), lúc trữ tình (Quà tặng tương lai), lúc triết luận (Di cảo của cha), lúc tâm lý (Đồi phượng hoàng),...

Nguyễn Trường có hai truyện viết rất kỹ và thú vị về nghề văn: Di cảo của chaTác phẩm còn lại (in trên báo Văn nghệ số Tết Giáp Thìn). Hai thiên truyện này, theo tôi, có yếu tố tự truyện. Đọc hai thiên này tôi liên hệ tới bài viết hàm súc và sâu sắc của Nguyễn Minh Châu, có tựa Nam Cao “Thật thế, cuối cùng, ta có thể nói rằng cả một đời cầm bút của Nam Cao cứ đau đáu nhìn vào cái nhân cách. (....). Văn chương Nam Cao làm người ta “mệt” vì thế, vì những dòng văn xuôi của ông như một sợi dây thừng cứ bện lấy chúng ta, không cho phép một ai trong chúng ta  rời khỏi chính mình, quay lưng lại với phần lương tâm nhân cách của chính mình, hoặc tự nhìn mình bằng con mắt bông phèng hoặc nửa vời, để có thể sống vô trách nhiệm, buông thả” (Nguyễn Minh Châu toàn tập, năm tập, tập V, Nxb Văn học, 2001).

Mây hồng của nhà văn Nguyễn Trường dĩ nhiên chưa phải là một cái gì toàn bích, dễ hiểu vì tất cả chỉ là tương đối. Nhưng có thể khẳng định, tác phẩm góp một tiếng nói nghệ thuật mới mẻ, đầy trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ nhân cách như một hoạt động tinh thần mang ý nghĩa văn hóa. Vì tột cùng văn hóa là con người.

Hà Nội, 2-2024/B.V.T

Nguồn: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 116, ngày 21/3/2024

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm