TIN TỨC

Sức hấp dẫn và chiều sâu văn chương Nguyễn Quang Sáng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-08 11:40:28
mail facebook google pos stwis
1317 lượt xem

VÕ VĂN NHƠN

(Bài viết tham luận cho Hội thảo "Nguyễn Quang Sáng - cuộc đời và sự nghiệp")

Trong các nhà văn thuộc đội ngũ văn nghệ giải phóng miền Nam, Nguyễn Quang Sáng có lẽ là nhà văn có phong cách Nam Bộ nhất. Giọng văn của ông hồn hậu, mộc mạc, tự nhiên như cảnh sắc thiên nhiên của Nam Bộ, nói như nhà thơ Trần Đăng Khoa từng nhận xét là “nó sục lên mùi vị của sông nước Tháp Mười, cả cái chất đậm đặc không thể trộn lẫn” (Khôi Vũ, 2014). Tính cách Nam Bộ thể hiện ngay trong bút danh của ông. Trong khi các nhà văn khác lúc vào miền Nam phải đổi bút danh để giữ bí mật, như Nguyễn Văn Bổng đổi thành Trần Hiếu Minh, Lê Khâm đổi thành Phan Tứ, Bùi Đức Ái đổi thành Anh Đức, Nguyên Ngọc đổi thành Nguyễn Trung Thành, Ca Lê Hiến đổi thành Lê Anh Xuân, Bùi Minh Quốc đổi thành Dương Hương Ly… thì Nguyễn Quang Sáng chỉ đơn giản lược bỏ chữ lót trong tên mình để thành Nguyễn Sáng.


PGS.TS Võ Văn Nhơn đọc tham luận tại Hội thảo, sáng 6/12/2024.

Sức hấp dẫn của truyện Nguyễn Quang Sáng trước hết là ở tài kể chuyện, câu chuyện của ông bao giờ cũng tạo nên một không khí đầy kịch tính với nhiều chi tiết sinh động, đắt giá. Nhà văn Khôi Vũ kể trong một lần nói chuyện với lớp bồi dưỡng viết văn trẻ năm 1982, Nguyễn Quang Sáng đã cho biết: “Viết cái truyện mà không có không khí thì “giục” đi cho rồi. Còn cái truyện mà không có chi tiết nào đặc biệt thì người ta sẽ không nhớ lâu đâu!” (Khôi Vũ, 2014). Truyện của ông thường có những kết thúc bất ngờ, thú vị, như Quán rượu người câm, Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch chẳng hạn. Các chi tiết trong truyện của ông cũng rất gây ấn tượng. Chúng ta hẳn không quên chi tiết thằng bé mới mấy tháng tuổi được ba mẹ bọc vào túi ni lông dìm xuống nước để tránh trực thăng địch đi càn trong phim Cánh đồng hoang, bộ phim được Huy chương vàng ở liên hoan phim quốc tế Moskva do nghệ sĩ Nguyễn Hồng Sến làm đạo diễn và Nguyễn Quang Sáng viết kịch bản.

Nhưng hồn nhiên, mộc mạc, tự nhiên không có nghĩa là truyện Nguyễn Quang Sáng không có chiều sâu. Khi viết về đề tài chiến tranh, một trong những thử thách lớn cho các nhà văn miền Nam là bên cạnh việc xây dựng những chân dung anh hùng cách mạng, những người nông dân Nam Bộ trượng nghĩa, những hình tượng rất đẹp về người phụ nữ miền Nam trong chiến đấu, đó là làm thế nào khắc họa được chân dung của kẻ thù một cách sâu sắc, thuyết phục. Thường thì người đọc sẽ thấy “thằng ngụy”, thằng Mỹ nào cũng gian xảo, độc ác, không có tình người, ăn gan uống máu người không một chút ghê tởm. Và đặc biệt là lính Mỹ luôn có một mùi hôi đặc trưng, khiến chúng dù nằm phục kích cách cả cây số nhưng chúng ta vẫn nghe được mùi hôi đó. Phạm Văn Sĩ trong công trình Văn học giải phóng miền Nam có nói đến thử thách này đối với các nhà văn: “nhà văn miền Nam đã có ý thức tìm hiểu kẻ thù để mô tả chúng với những âm mưu khác nhau của chúng, những biểu hiện nhiều vẻ khác nhau của chúng cũng như hình dáng của chúng. Đó là thành tựu bước đầu. Tuy nhiên, tìm hiểu kẻ thù và và mô tả chúng cho được chân thật và sâu sắc là một việc lâu dài, khó khăn. Nhà văn chúng ta nói chung chưa có hoàn cảnh thuận lợi để hiểu kẻ thù thật sâu. Vì vậy, ngoài một số nhân vật phản diện được mô tả có tìm tòi với một số nét tạo hình, một số nét tâm lý có chiều sâu, phần lớn nhân vật phản diện trong tiểu thuyết miền Nam hoặc chưa đạt được trình độ tính cách văn học hoặc còn là những nét phác thảo châm biếm” (Phạm Văn Sĩ, tr. 101).

Nguyễn Quang Sáng cũng rất ý thức về vấn đề này: “Đọc của anh em và tự nghĩ những sáng tác của mình, tôi có một băn khoăn. Viết về cán bộ, bộ độ, du kích và nhân dân, các tác giả miền Nam - mỗi người theo một phong cách riêng, đều đạt đến những đỉnh cao. Những con người, những nhân vật chính diện trong các tác phẩm ấy, đã trở thành những điển hình sống, phong phú, đa dạng, có sức chinh phục và thuyết phục lòng người, đã trở thành những tấm gương sống cho người đọc.

Ngược lại những con người, những nhân vật đầy kính yêu ấy, thằng Mỹ, thằng ngụy – nhân vật phản diện trong tác phẩm thì hãy còn mờ nhạt. Nó tàn bạo đó, nó giết người đó, nó ăn cả thịt người nữa – nó lố lăng nó lưu manh, nhưng đọc rồi, ta cứ vẫn thấy nó méo mó. Bởi vì ta chỉ thấy cái bên ngoài hơn là cuộc sống bên trong của nó… Tôi cũng cố gắng khắc phục bằng cách tìm hiểu đối tượng đó trong công tác binh vận. Một đôi lần, tôi tìm cách gặp gỡ một số binh sĩ quân đội Sài Gòn trong những dịp đình chiến, tôi đã tìm nắm những bà mẹ vừa có con “đi giải phóng” vừa có con vì lẽ này lẽ nọ đang cầm súng cho giặc. Qua đó tôi thấy, nói riêng về thằng ngụy, nó còn có cái riêng của nó cần phải được khai thác thêm” (Nhiều tác giả, tr. 29).

Từ suy nghĩ này, Nguyễn Quang Sáng đã xây dựng những hình tượng về “thằng ngụy” sâu sắc, đa dạng và đời hơn, hiện thực hơn, như thiếu úy Khanh, đại úy Long chẳng hạn. Đại úy Long trong tiểu thuyết Mùa gió chướng là một tên ác ôn nhưng lại yêu nhạc Trịnh Công Sơn và rất yêu đứa con chưa đầy tuổi tôi của mình. Chính vì vậy mà hắn cam tâm để cho đội du kích của cô Sáu Linh bắt sống khi đang bồng con trên tay. Nếu khắc họa một tên đại úy ngụy ác ôn không nhân tính theo kiểu cũ thì nhà văn hẳn đã cho hắn ta tàn nhẫn quăng đứa con nhỏ để tìm đường thoát thân cho riêng mình.

Chiều sâu trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng còn thể hiện ở chỗ ông rất quan tâm đến những tình cảm sâu lắng, giàu giá trị nhân bản như tình cha con, tình mẹ con, tình vợ chồng. Truyện ngắn Chiếc lược ngà của ông, nếu xử lý non tay sẽ dễ trở thành một tác phẩm minh họa đơn giản cho nhũng bi kịch của chiến tranh, nhưng qua tay ông, tác phẩm đã đạt đến một chiều sâu nhân văn cao cả, vì thế đã lay động bao trái tim bạn đọc. Quán rượu người câm cũng nói lên được những thay đổi không ngờ tới của con người khi trải qua sự thử thách ác liệt của chiến tranh.

Không chỉ có thế, Nguyễn Quang Sáng còn đem đến cho người đọc nhiều bất ngờ thú vị. Văn chương ông mộc mạc, tự nhiên, có lúc lại rất hóm hỉnh như với Tôi thích làm vua chẳng hạn. Đó cũng là truyền thống của văn chương Nam Bộ xưa nay, từ Phi Vân ở đầu thế kỷ XX cho đến Sơn Nam của giai đoạn 1954 – 1975. Nhưng cũng có lúc ông làm ta ngạc nhiên như với truyện Con mèo của Foujita chẳng hạn, một truyện ngắn rất hiện đại với thủ pháp đồng hiện, với những hiểu biết về hội họa đương đại. Có lẽ vì thế mà Trần Đăng Khoa khi nói về Nguyễn Quang Sáng đã có những kết luận rất xác đáng: “Đọc Nguyễn Quang Sáng, không hiểu sao, tôi cứ hình dung nhà văn có nét gì đó của một người nông dân Nam Bộ ngang tàng, coi những chuyện nguy hiểm chết người cũng bông phèng như trò chơi con trẻ, có thể chống xuồng lao ve vé giữa lúc bom đạn đang vây bủa mù mịt, cũng có thể ngồi thì lì trong một cái quán rượu tạm bợ, dựng tồng tềnh bên vệ cỏ, ngoảnh ra phía sông nước mà nhậu lai rai, nhậu tối ngày. Con người ấy hình như vừa đơn giản, lại vừa phức tạp đến bí hiểm. Hình như đó là một phần của thiên nhiên Nam Bộ, do thiên nhiên chắt ra, bởi thế có lúc hồn nhiên như cỏ dại, có lúc ương ngạnh như vách đá”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm