TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tâm hồn tinh tế bẩm sinh của “Chàng thơ” Xuân Diệu qua thi phẩm Vội Vàng

Tâm hồn tinh tế bẩm sinh của “Chàng thơ” Xuân Diệu qua thi phẩm Vội Vàng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-01-03 13:22:26
mail facebook google pos stwis
2559 lượt xem

Trần Tuấn

Đôi đồng tử của “chàng” nhấp nhánh như ánh sao, đen và sâu không đáy, ẩn mờ sau bờ mi màu sẫm tuyệt vời, ánh lên những đốm lửa vui tràn đầy sinh lực. Viền tóc mềm mại chảy lửng lơ trước vầng trán toát lên vẻ hồn nhiên, tinh nghịch. Tính tinh tế của tâm hồn thể hiện qua nét môi đỏ mọng như hoa anh đào. Những nếp gấp nơi khóe miệng, nơi hàng lông mày biểu đạt sự phong phú của nhiệt tâm. Chàng là Xuân Diệu, người "nồng" và "trẻ" nhất trên chiếu thơ đương thời. “Chàng” đã đưa cái nồng, thắm, dào dạt vào thế giới thi ca vốn tẻ lặng, bình yên này. Sức xuân đang ca hát, nhảy múa trong tâm linh “chàng” một thoáng mê đắm như muốn níu kéo lòng người. Vội Vàng là phút giây bừng sáng nhất của tình yêu trong tâm hồn thi nhân, sự cao đẹp từng khoảng khắc đó, vĩnh cửu qua một đời người.

Nhà thơ Xuân Diệu

Triết lý nhân sinh độc đáo trong Vội Vàng có được nhờ tiên cảm sâu sắc, cùng dòng năng lượng giàu đam mê của nhà thơ. Đó là khái niệm sống vội vàng, một lối sống rất trần tục và rất con người của một tâm hồn tinh tế bẩm sinh.

Vội vàng  "tuyên ngôn" cho thế gian thấy được sự ngắn ngủi của đời người và nên xây dựng một tốc độ sống gấp gáp để nếm nhận đủ đầy những nồng ấm, êm say của cuộc đời tươi đẹp này. Trong những năm tháng đó, thơ ca hiện đại đang nương náu ẩn mình trong nỗi buồn sâu sắc của cả một thế hệ chìm lút trong cơn đại hồng thủy của Chủ nghĩa Thực dân. Việc “thiếu quê hương” khiến họ lúng túng trong những góc tối của quá khứ, trong tình yêu và trong khung cảnh thiên nhiên đất nước. Có bao nhiêu nhà thơ yêu cuộc sống, yêu một cách nghiêm túc nhưng vẫn trống rỗng, buồn, cô đơn, lạc lõng. Xuân Diệu khác, nhà thơ mang đến một hơi thở rất thực tế, nhưng vẫn giàu cảm xúc, đó là giai điệu của tình yêu. Tâm hồn thi nhân chóng mở cửa đón mùa xuân với sự nguyện hiến thiết tha, cháy bỏng.

Chàng muốn mặt trời ngưng chiếu sáng để màu đừng phai, chàng muốn gió ngừng thổi, làm ơn đừng bay hương. Chàng đang muốn vì cái đẹp mà sẵn sàng chống lại tạo vật : “Tôi muốn tắt nắng đi/Cho màu đừng nhạt mất/Tôi muốn buộc gió lại/Cho hương đừng bay đi”

Luật lệ của tự nhiên đã định sẵn không thể thay đổi, chủ thể cảm xúc nồng nàn, cuồng quyến, tham vọng tuột bậc muốn can thiệp, giành lấy quyền được tự mình dừng lại cái qui luật đã mặc định của thượng đế. Chìa khóa của khát vọng đó là giữ lại vẻ đẹp của cuộc sống để tận hưởng chìm đắm. Quả là một tâm hồn cuồng nhiệt, nồng thắm mới dám táo tợn tranh quyền đoạt vị với hóa công.

Tình yêu cuộc sống của chàng chưa dừng lại ở ham muốn mà còn ở sự khát khao được cháy hết mình, bởi mặt đất là thiên đường, để rồi chàng sợ hãi, run rẩy trước dòng chảy nghiệt ngã, trôi lăn của vạn vật mà cuống quýt, rạo rực. Xuân Diệu đã giải thích độc đáo về thời gian để bày tỏ tình yêu róng riết của mình và trả lời cho các “thi dân”, vì sao anh muốn tắt nắng, ngừng gió.

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

...

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Miền cảnh đẹp như ru đó không phải là chốn tiên thiên mà đều gần gặn, quen thuộc xung quanh chúng ta. Xuân Diệu đã thêm những cử động của linh hồn để làm cho những cảnh vật  kéo giãn, tươi mới, tưới tắm sắc màu mùa xuân trên trang giấy, như nha phiến quyến rũ lòng người. Sắc Xuân được chuyển tải bằng phương pháp liệt kê, biến tất cả những vẻ đẹp thực tế thành một bữa tiệc thơ mà Chàng vẫy tay chào mời. Xuân Diệu đã đốt cháy hiện trường cõi mơ, xua mọi người ra thế giới thực, để gắn bó với cuộc sống hiện hữu muôn sắc ngàn hương, tươi trẻ, nồng đượm. Trong cuộc dạo chơi trần gian đó, chàng không quên trao tình yêu cho con người. Những phận người trong thơ Diệu không xuất hiện với những hình thức, chân dung cụ thể mà thông qua những so sánh đặc biệt, nhà thơ đã trưng ra những mỹ cảm nghệ thuật mới, độc đáo, ý vị: “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”; “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

Nếu như đoạn thơ trên tác giả xây dựng những ảnh tượng lấy từ những sự vật của thiên nhiên thì lúc này bình mình lại nhấp nháy trong đôi mắt cô gái, tháng giêng ngọt như một cặp môi gần. Nay Xuân Diệu táo tợn lấy nhân loại làm thước đo cho vẻ đẹp của đất trời, đó là cách thi sĩ khẳng định, nâng cao, tôn vinh con người và sự sống, con người chính là ưu phẩm của đấng toàn năng.

Nhưng con người không thể chống lại các qui tắc của tạo vật. Xuân Diệu đã sử dụng một bài thơ dài để lập luận, tuyên xưng về sự tàn ác trong luật pháp của hóa công. Anh đếm được từng bước đi lạnh lẽo của thời gian :“xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua/ xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”.

Thời gian không phải lưu thông không một gút sợi như ta từng nghĩ, nó lặng lẽ đi và uống lẹm những giấc mơ đẹp. Mỗi phút giây là một mất mát, thời gian rút máu thanh xuân và cuộc đời. Nhà thơ đã trưng ra bằng chứng phạm tội của thời gian bằng một sự khiêm hạ khi nói về thực tại “Lòng ta rộng nhưng lượng trời cứ chật/ không cho dài thời trẻ ở nhân gian”.

Sau tất cả, Xuân Diệu cũng như bao nhà thơ mới khác, yêu say đắm nhưng cũng đốn tận tim, bàng hoàng cơ thể vì luật lệ khắc kỉ của đấng quyền năng, chàng lo lắng, buồn đau cho những “niềm đáng tiếc”. Quan niệm về thời gian của tác giả trong Vội vàng cũng chính là quan điểm triết học sâu sắc về một đời người. Do đó, Vội vàng không phải là một bài thơ buồn, cũng không phải là một bài thơ nặng nề, ảo ảnh về sự suy tư. Ngược lại, nó cực kỳ giàu “sinh quyển” nhờ sự hùng biện sắc sảo của nhà thơ đối với đất trời về lí do tại sao tác giả đưa ra quan niệm sống vội vàng. Thơ của Xuân Diệu luôn đầy nhiệt huyết, nhiệt tình, và hàm chứa tính triết luận uyên nguyên. Nhà thơ nói: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm....Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào người”

Ý nghĩa của bài thơ được thực thành từ sự thôi thúc "buông" để sống, cống hiến và tận hưởng. Xuân Diệu khuấy động mọi người bằng cách đưa ra những điều kiện sống mạnh mẽ nhất, hãy đến ôm, say, siết và thậm chí cắn riết. Anh không lãng phí, bỏ lỡ một phút hân hưởng thuần lành nào trong cuộc sống. Những khoảnh khắc này phải toàn tâm, toàn trí, toàn hồn để say mê nếm trải. Con người trong cuộc sống đôi khi cảm thấy yếu đuối, mềm mại, chán nản... nhưng ở mọi thời điểm, đặc biệt là ở tuổi trẻ rất đáng để trải nghiệm nên đừng hoài phí thanh xuân.

Giá trị lớn nhất của triết học là giúp cho con người nhận ra rằng bản thân mình là một hiện hữu, nhìn nhận cuộc sống như một thực tại sống động. Vội vàng chỉ là một bài thơ, không phải là một báo cáo luận đề triết học nhưng Xuân Diệu thông qua thi cảm tinh tế của mình cũng xứng đáng được liệt kê trong số những nhà triết thuyết vĩ đại. Thơ ca giúp mọi người nhận diện cách sống, giúp chúng ta nhận thức được vai trò, giá trị của con người trong cuộc sống, đó là yếu nghĩa mà một kiệt tác nghệ thuật hướng tới người đọc.

Đã vắt qua hai thế kỉ trôi lăn kể từ ngày Xuân Diệu bước đến thi đàn, cũng đã biết bao biết đổi bể dâu về nhân tình thế thái, quan niệm xã hội, ngay cả bản thân tình yêu cũng có nhiều những biến đổi bạo liệt. Thế nhưng sự nồng, trẻ và quan niệm sâu sắc về tình đời, tình người trong bài thơ Vội vàng vẫn sống mãi trong người đọc bao thế hệ, đánh thức bao hoài vọng, bao khát khao cao quí, muốn được sống hết mình, yêu hết mình và khi cần được hi sinh cho tình yêu.

                                                                                  T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm