TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh

Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-16 02:37:40
mail facebook google pos stwis
462 lượt xem

BÙI HỮU THƯỢC

Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.

Mười năm trong kháng chiến chống Mỹ, sống và chiến đấu giữa túi bom Hàm Rồng – nơi ranh giới sinh tử chỉ cách một nhịp thở. Khẩu hiệu “Thà gục trên mâm pháo, quyết không để cầu gục” không chỉ là ký ức tập thể, mà thành một thứ “thương hiệu” in dấu trong văn ông. Viết trên mâm pháo, ông không thể nhìn chiến tranh bằng con mắt mỹ lệ. Giải thưởng Nhà nước không chỉ ghi nhận một hành trình hơn sáu thập kỷ cầm bút, mà xác tín một tiếng nói đã đi qua lửa đạn. Văn ông thẳng, ít mượt, không né tránh. Đọc Dấu vết chiến tranh, tôi đọc một mạch. Rồi đọc lại. Ám.

 

Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh ở Thanh Hóa

 

Tấm thẻ bài không chỉ là một mắt xích trong hành trình sáng tác đã định hình, mà là một nấc lặng sâu hơn sau vinh dự lớn. Cuốn sách giống một lời tri ân lặng: với bạn đọc, với những trang sách từng nuôi dưỡng nhiều thế hệ, và với chính ký ức chưa chịu yên.

Nó không sinh ra từ một khoảnh khắc ngẫu hứng. Đằng sau là những đêm trắng, là những lần lật lại ký ức như lật trầm tích. Là những chuyến trở về chiến trường cũ, đi qua nhiều phận người. Và cả những chuyến sang Mỹ – không để so sánh, mà để nhìn chiến tranh từ phía bên kia. Bởi ám ảnh lớn nhất của ông là: khi đánh nhau, người ta không nhìn thấy khuôn mặt kẻ thù.

Từ tích lũy âm thầm ấy, Tấm thẻ bài thành hình. Không chỉ là ký ức, mà là day dứt, là nhu cầu đối thoại với lịch sử. Ở đó, viết không còn là kể, mà là xuyên qua sự kiện để chạm vào phần người – mong manh, kiên cường, và cần được hiểu.

Tiểu thuyết không kể lại chiến tranh. Nó dựng một diễn ngôn hậu chiến. Chiến tranh đã dừng trên thực địa, nhưng vẫn kéo dài trong thân thể, ký ức, huyết thống.

“Tấm thẻ bài” – vật nhận dạng của lính Mỹ – trở thành trung tâm biểu tượng. Từ một căn cước quân sự, nó bị kéo ra khỏi chức năng hành chính, đặt vào số phận con người, và biến thành một dị vật luân lý. Nó không còn thuộc về kẻ đeo, mà bắt đầu luồn lách, sắc lạnh, rạch vào đời sống – từ chiến trường đến tha hương, từ vật chứng đến chứng tích của những quan hệ.

Ở đây, tác phẩm không hỏi đúng – sai. Nó hỏi: chiến tranh đã biến dạng con người đến đâu? Và có thể phục hồi không?

Ký ức trong Tấm thẻ bài không vận hành như hồi tưởng thông thường. Nó là một quá trình truy tìm. Nhân vật không chỉ nhớ, mà lần dấu, đối thoại, đối chất, lật lại. Ký ức trở thành hành vi nhận thức – gần với điều tra, thẩm vấn, và cuối cùng là tự phán xét.

Cấu trúc tiểu thuyết vì thế đa tầng: hiện tại (ông Minh hấp hối), quá khứ chiến tranh (mối tình Minh – Thúy – Hạnh), và hậu chiến tha hương. Ba lớp thời gian không xếp tuyến tính, mà va đập, phản chiếu, tạo ra một không gian nơi mỗi chi tiết hiện tại đều có bóng quá khứ đi kèm.

 

Tiểu thuyết trong tập “Dấu vết chiến tranh” của Từ Nguyên Tĩnh – NXB Hội Nhà văn, 2025.

 

Ông Minh là minh chứng: chiến tranh không kết thúc khi rời chiến trường. Ông sống một đời bình thường, giữ phẩm hạnh, có gia đình. Nhưng đến cuối đời, quá khứ trỗi dậy như một lực không cưỡng. “Khối u” trong cơ thể ông là một phát hiện sắc lạnh: chiến tranh không chỉ ở ký ức, mà bám rễ như một thực thể sinh học.

Ở đây, nhà văn đi xa hơn nhiều tác phẩm trước. Không còn là suy tư. Là giải phẫu.

Trục thứ hai – nơi ngòi bút trở nên trần trụi – là thân phận người phụ nữ và đứa con lai.

Bà Hạnh và bà Thúy: hai hướng rẽ. Một người ở lại, giữ mái ấm, chịu đựng. Một người ra đi, lưu lạc, mang theo đứa con và vết thương không tên. Giữa họ là ông Minh – điểm giao của những lựa chọn sai lầm.

Bà Thúy không được nâng đỡ như một biểu tượng. Bà bị dồn ép đến tận cùng. Một cô gái quê, mang tình yêu trong veo với người lính Phú. Anh ngã xuống, mang theo phần sáng nhất của đời bà. Từ đó, mọi thứ trượt dần.

Nỗi đau lớn nhất không phải bom đạn, mà là khi thân thể bị xâm phạm. Đứa con sinh ra không chỉ là một sinh linh, mà là dấu tích sống của một vết cắt. Bà nuôi con trong cô độc, đi qua đời như một sự gắng gượng. Chiến tranh kết thúc – với bà, nó vẫn ở lại, trong từng nhịp thở.

Hành trình sang Mỹ tìm cha cho con không phải là hy vọng. Nó giống một lần nữa bước vào tuyệt vọng.

Hạnh Allen – đứa con – là điểm hội tụ. Hành trình tìm cha bắt đầu từ tấm thẻ bài. Nhưng càng đi, sự thật càng mờ. Người mang tên không phải cha. Người cha thật chối bỏ. Cô mang hai dòng máu, hai lịch sử, nhưng không thuộc về đâu.

Ở bình diện sâu hơn, đây là một dạng tồn tại của chiến tranh trong hậu chiến: sự đứt gãy căn cước. Câu hỏi “tôi là ai” trở thành ám ảnh không lời giải.

Khi nghĩ về nhân vật này, tôi từng nói với tác giả: “Anh đã tạo ra một con ma văn học.” Một dạng “khối u” ẩn dụ – nơi ký ức và đổ vỡ di truyền. Và nghịch lý: cô lại là người viết. Càng xóa, dấu vết càng hiện.

Một chi tiết nhỏ mà không nhỏ: đứa con trong mối quan hệ tay ba lại mang tên của người phụ nữ còn lại. Một “dấu vết lành” hiếm hoi. Một khả năng tái sinh của nhân tính giữa đổ vỡ.

Từ đó, tiểu thuyết không còn là câu chuyện một thế hệ. Nó trở thành bi kịch liên thế hệ.

Hình tượng “giặc lái” cũng được xử lý khác. Không còn là một thực thể đơn giản. Phi công Mỹ được đặt vào một không gian đạo đức phức tạp: bản năng, sợ hãi, chối bỏ, và cả dằn vặt muộn màng. Không phải để hòa giải dễ dãi, mà để chỉ ra một sự thật: chiến tranh tha hóa con người ở nhiều cấp độ – cả kẻ gây ra lẫn người chịu đựng.

Tác phẩm thu hẹp không gian vào gia đình, vào cá nhân. Nhưng đào sâu đến mức mỗi cá nhân thành một “chiến trường” thu nhỏ.

Cuộc hội ngộ cuối không phải hòa giải. Nó giống một phiên tòa không thẩm phán. Mỗi người vừa là bị cáo, vừa là nhân chứng, vừa là nạn nhân. Không ai có thể tha thứ trọn vẹn. Nhưng cũng không ai có thể sống nếu không đối diện sự thật.

Ở tầng sâu nhất, Tấm thẻ bài vận hành như một lưỡi dao phẫu thuật. Nó không chữa lành ngay. Nó làm vết thương lộ ra – đau hơn, trần trụi hơn. Nhưng chính ở đó, khả năng chữa lành mới xuất hiện: không phải bằng quên, mà bằng nhìn thẳng.

Có thể nói, với cuốn tiểu thuyết này, người viết đã đi đến một giới hạn khác: không chỉ viết về chiến tranh như ký ức, mà phơi bày nó như một thực thể sống – tiếp tục tồn tại, vận động trong đời sống con người.

“Tấm thẻ bài” vì thế không còn là vật chứng. Nó là cơ chế của ký ức. Một điểm nút nơi quá khứ – hiện tại – tương lai gặp nhau.

Và văn học, ở đây, làm công việc khắc nghiệt nhất: không an ủi, không ca ngợi, mà buộc con người nhìn vào phần khó chấp nhận nhất của mình.

Hơn tất cả, cuốn sách vẫn giữ lại một điều: một miền thiện tâm. Một niềm tin nhỏ nhưng bền vào điều lành, vào trách nhiệm của người cầm bút trước con người.

Sống gần Từ Nguyên Tĩnh, tôi hiểu thêm cái “tâm” ấy: lặng, giản dị, nghĩ cho người khác trước. Có lẽ từ đó, trang viết của ông mới chạm được sâu và lâu.

Khép sách lại. Nhưng nỗi day dứt thì không. Nó ở lại, âm thầm, như một vết chạm.

Tôi chỉ mong cuốn tiểu thuyết Dấu vết chiến tranh đến được với nhiều bạn đọc hơn, để những điều ông gửi gắm bền lâu như khát vọng hòa bình.

Chúc ông sức khỏe. Để còn viết. Và còn đối thoại với chúng ta – bằng những trang văn không dễ quên.

B.H.T

Nguồn: VanVn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm