TIN TỨC

Tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-11-29 00:25:06
mail facebook google pos stwis
3599 lượt xem

 

PGSTS. Trần Hoài Anh

Kỷ niệm 100 năm sinh nhà thơ Tế Hanh (1921-2021)                                                         

Quê hương hiện lên trong thơ Tế Hanh bằng những hình ảnh chân mộc, hồn nhiên đến lạ lùng, không hề có một chút “tô vẽ phấn son”.

Nhà thơ Tế Hanh

1. Không phải ngẫu nhiên khi suy niệm về tình yêu quê hương, Lacordaire đã xác quyết: “Phát xuất từ chủng tộc và quốc gia tính, lòng yêu quê hương nảy sinh trong lòng người. Nó là tâm tình sâu thẳm được nuôi dưỡng bằng lịch sử của quá khứ và kỷ niệm của cuộc sống cá nhân. Nơi đó tập trung hết những gì ta đã thấy, đã làm, đã sống từ những ngày lành của ấu thời đến những xao động của thời lão thành và đến những viễn tượng của mồ mả chúng ta”. (1)

Quả thật, tình yêu quê hương là một tình cảm đặc biệt trong trái tim mỗi người. Quê hương, vì thế, bao giờ cũng là nơi lưu giữ những gì thiêng liêng nhất trong tâm thức con người suốt hành trình sống ở đời. Điều này, ta có thể tìm thấy ở tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh mà biểu hiện của tâm thức làng quê ấy chính là tình yêu tha thiết đối với làng quê mà thi nhân rất hạnh phúc, tự hào, mỗi khi giới thiệu về quê hương mình:

“Làng tôi vốn làm nghề chài lưới:

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông

Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng

Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo vội vã vượt trường giang

Cánh buồm trương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió …”

(Quê hương)

Quê hương hiện lên trong thơ Tế Hanh bằng những hình ảnh chân mộc, hồn nhiên đến lạ lùng, không hề có một chút “tô vẻ phấn son”. Chính vì vậy, Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Q. hạ) Ba thế hệ của nền văn học mới (1862 đến 1945), Nxb. Trình bày, 1967, đã xếp “Tế Hanh vào khuynh hướng các nhà thơ tả chân cùng với Anh Thơ, Bàng Bá Lân”. (2) Sự chân mộc ấy, phải chăng được kết tinh từ cuộc sống những người nông dân ở “làng chài lưới” quê ông. Vậy mà, khi đọc lên, không ai, lại không cảm thấy nao lòng khi nghĩ về làng quê của mình. Bởi lẽ, đã là người, ai cũng có một làng quê để chào đời, một làng quê để lớn lên và một làng quê để thương nhớ. Tất cả những điều ấy đã hội tụ lại và kết tinh thành tâm thức làng quê trong mỗi con người. Tâm thức làng quê ấy đã trở thành một sức mạnh tinh thần trong hành trình dựng nước, giữ nước và bảo tồn “giòng sinh mệnh văn hoá” dân tộc. Vì lẽ đó, dân tộc Việt Nam, có thể “bị mất nước nhưng không bao giờ để mất làng” và từ sự trường tồn của làng chúng ta lại khôi phục lại đất nước. Bởi, nói như Eveque: “Chỉ có tình yêu quê hương có thể làm cho quê hương trường tồn” (3). Làng quê, vì thế, không chỉ là nơi nuôi ta lớn khôn mà cũng là nơi để chúng ta tìm về sau những ngày tháng “phiêu linh” vì sinh kế trong cuộc đời trần thế.

2. Cách đây 100 năm, Tế Hanh đã cất tiếng khóc chào đời trên chính quê hương mình ở làng Đông Yên, phủ Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi và cách đây 12 năm, ông đã lặng lẽ đi sau một thời gian trọng bệnh, để trở về với cõi vĩnh hằng, ẩn nấu trong “mảnh hồn làng” mà ông đã ôm ấp từ những ngày còn “tuổi hoa niên”. Tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh, vì thế đã trở thành một phẩm tính trong hành trình sáng tạo thơ của ông, có khả năng diệu kỳ trong việc đánh thức tình yêu làng quê trong tâm thức người đọc.

Từ góc nhìn địa văn hóa, làng quê của Tế Hanh là một vùng sông nước nằm ven bờ hạ lưu sông Trà Bồng, con sông đã “tắm mát đời tôi”, như chính ông đã chia sẻ. Đây cũng là nơi tạo nên nguồn cảm hứng để thi nhân sáng tác những bài thơ nổi tiếng, ẩn chứa trong đó cái “hồn” của tâm thức làng quê mà hình ảnh sông nước quê hương đã trở thành một nỗi ám ảnh của vô thức và tâm linh như một tâm thức hiện sinh theo suốt cuộc đời ông, kết tinh thành những dự phóng sáng tạo để cho ra đời những bài thơ đầy mỹ cảm văn chương, mà khi đọc lên lòng ta không khỏi rưng rưng, xao xuyến. Đó là những bài thơ đã trở thành tượng đài thơ ca khắc họa tâm thức làng quê trong tâm cảm người đọc như: Quê hương, Nhớ con sông quê hương, Trở lại con sông quê hương, Bài thơ mới về con sông xưa… Chính vì vậy, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân đã không tiếc lời ca ngợi: “Tế Hanh là một người tinh lắm. Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương. Người nghe thấy cả những điều không hình sắc, không thanh âm như “mảnh hồn làng”, trên “cánh buồm giương”, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ con đường quê nho nhỏ. Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới những tình cảm ta đã âm thầm trao cho cảnh vật…”(4). Phải chăng cái “thế giới rất gần gũi” trong thơ Tế Hanh mà Hoài Thanh – Hoài Chân đã nói đến trong Thi nhân Việt Nam chính là cái hồn/tình quê da diết kết tinh thành tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh.

Là một thi sĩ vốn sống lặng lẽ, khiêm nhường nên điệu hồn trong thơ Tế Hanh luôn nhẹ nhàng, đằm thắm, đôn hậu, trong trẻo nhưng cũng không kém phần tinh tế và sâu sắc. Tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh, vì thế không bao giờ hiện hữu qua những hình ảnh thơ hoành tráng, mang tính ước lệ như một số nhà thơ cùng thời mà chỉ là những hình ảnh nhỏ nhoi, gần gủi, thân quen với cuộc sống hằng thường, nơi một làng quê bé nhỏ, ở một vùng cù lao sông nước xa xăm với đồng ruộng, nương dâu mà ông luôn yêu quí:

Làng ấy buồn ủ rũ một bên sông

Hồn thương nhớ đắm chìm trong dĩ vãng

Thuở phong lưu sắc trời đầy tươi sáng

Tơ lụa vàng chói rạng khắp bao thôn

Dười trời xanh soi biếc cả tâm hồn

Dâu tăm tắp từ đồng ra đến bãi

(Một làng thương nhớ)

Là hình ảnh những “con đường quê” oằn mình trong mưa nắng để chia sẻ những nỗi vui buồn, gian khổ, cơ cực của người nông dân một nắng hai sương quanh năm lam lũ ở một làng quê xa ánh sáng thị thành:

Tôi con đường nhỏ chạy lang thang

Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng

Đến cuối thôn kia hơi cỏ vướng

Hương đồng quyến rũ hát lên vang

(…)

Tôi thâu tê tái trong da thịt

 Hương đất hương đồng chẳng ngớt tuôn

(Lời con đường quê)

Là một khu “vườn cũ” với đầy ắp nắng trưa, phủ trên những mái ngói rêu phong chứa đầy bao kỷ niệm tuổi thơ mà giờ đây những hình ảnh ấy vẫn đọng lại trong tâm cảm thi nhân như một ký ức không thể mờ phai. Tâm thức làng quê, vì thế như một tiếng gọi thê thiết luôn hiện hữu trong huyết quản để nuôi dưỡng cái hồn/tình quê nồng nàn trong trái tim thi sĩ:

Cánh cổng đi vào run rẩy đưa

Lối đi cỏ rậm phủ che vừa

Ngôi nhà mái cũ rêu in lớp

Hé bức rèm đơn đỡ nắng trưa

( …)

Nắng nhớ rưng rưng chớp lệ mờ

Mây buồn đôi mảnh vẫn lơ thơ

Cỏ cây im lặng như từ thuở

Đôi lứa xa nhau vẫn đợi chờ

(Vườn cũ)

Có khi là hình ảnh “cái ga tàu” lặng lẽ nơi phố huyện buồn xa vắng, đơn côi, khi chứng kiến bao cảnh tiễn biệt nơi sân ga. Để rồi với tâm hồn nhạy cảm của một thi nhân, Tế Hanh đã nghẹn ngào, xa xót…

Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu

Ngàn đời không đủ sức đi mau

Có chi vướng víu trong hơi máy

Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau.

(Những ngày nghỉ học)

Tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh, còn là hình ảnh ngôi trường làng bé nhỏ, ẩn mình lặng im, mà sau những tháng ngày xa cách, khi về thăm, thi nhân không khỏi chạnh lòng trước cảnh xác xơ của cái nơi đã từng ôm ấp bao kỷ niệm mộng mơ của tuổi học trò, giờ chỉ còn lại nỗi quạnh hiu làm tê buốt tâm hồn, khiến người thơ không khỏi bùi ngùi…

“Hơn bốn năm trời trở lại đây

Trường ơi! Sao giống tấm thân này?

Mái hư, vách lở buồn xơ xác

Tim héo, hồn đau tủi đoạ đày.    

(Trường xưa)

Và sự hiện hữu của tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh, có khi chỉ là hình ảnh “Chiếc rổ may” đơn sơ, bình dị nhưng chất chưa trong đó biết bao yêu thương của người mẹ, cả một đời chịu thương khó, hy sinh chính bản thân mình cho hạnh phúc những đứa con:

Thuở bé nhiều hôm tôi bỏ chơi

Cảm thương đứng ngó mẹ tôi ngồi

Vá bên chiếc rổ mùi thơm cũ

Như tấm lòng thơm của mẹ tôi

(…)

Mẹ ơi chiếc áo con đã rách

Con biết làm sao trở lại nhà

Để mẹ vá giùm? Con thấy lạnh

Gió lùa nỗi nhớ thấm vào da

(Chiếc rổ may)

Để rồi, tâm thức làng quê ấy lớn dần theo năm tháng, hằn sâu trong tâm cảm thi nhân, trở thành một dưỡng chất nuôi sống hồn thơ Tế Hanh và tạo nên một phẩm tính riêng có của thơ ông: chân chất và thành thực, dào dạt và sâu lắng, tha thiết và ngọt ngào, trong trẻo và tinh tế. Chính vì vậy, cho dẫu sau này, khi nhà thơ đã bước “sang bờ tư tưởng” của một cuộc đời mới, không còn “vướng víu” nhiều với những buồn tủi, cô đơn của một “thời thơ thuở trước”. Nhưng không vì thế mà tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh bị biến đổi, trái lại, trong tâm thức làng quê ấy, vẫn còn đó niềm tin yêu với những nhớ thương, thao thức đến nghẹn lòng mỗi khi nhà thơ hồi tưởng về hình ảnh quê hương. Và lúc ấy tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh lại hiện lên với những cung bậc tình cảm mới: da diết và nhói đau. Bởi, đây là thời gian nhà thơ phải ly hương “xa nhà đi kháng chiến”, để rồi sau đó phải sống dằn dặt xa quê với tâm trạng “ngày Bắc đêm Nam” trong hơn hai mươi năm, khi đất nước bị chia cắt.

Tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh lúc nầy gắn liền với những hồi ức, những hoài niệm nhưng đó là hoài niệm của một thi nhân đã trải qua một quá trình nghiệm sinh trong đời sống, không phải là hoài niệm của một thi nhân thưở thiếu thời, trong sáng và hôn nhiên nên tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh lúc nầy cũng ẩn chứa sức nặng của những suy tư, ưu lo về lẽ sống không chỉ của riêng nhà thơ mà của cả đất nước, dân tộc. Vì thế, lúc nầy tâm thức làng quê hiện lên trong thơ Tế Hanh là hình ảnh một mảnh “vườn xưa” không chỉ có nắng trưa, có chim hót mà đó là một mảnh vườn cháy bỏng khát vọng tìm về trong khắc khoải nhớ thương đối với người mẹ mà tuổi già như một cánh cửa thời gian với những giới hạn đang từng ngày, từng giờ khép lại cuộc đời mẹ, mà hình ảnh người con ra đi kháng chiến vẫn cứ mờ xa trong nỗi chờ mong của mẹ:

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh

Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc

Hai ta ở hai đầu công tác

Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

(Vườn xưa)

Là hình ảnh “con sông quê hương” như một biểu tượng thiêng liêng của tâm thức làng quê, cuồn cuộn chảy trong tâm khảm thi nhân, chuyên chở biết bao hồi ức, nhớ thương mà mỗi khi đọc bài thơ lòng chúng ta không khỏi cồn cào, se thắt khi nhớ về một dòng sông tuổi thơ nào đó!? Còn đây là hình ảnh “con sông quê” trong tâm thức Tế Hanh:

Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre.

Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè,

Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng.

Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng

Giữ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi?

Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!

Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ.

(Nhớ con sông quê hương)

Và với “hồn/tình quê” day dứt ấy, tâm thức làng quê trong thơ của Tế Hanh không chỉ là hình ảnh “con sông quê hương”, là “mảnh vườn xưa” mà còn là “tiếng sóng” xao xác trong hồn thơ của ông. Vì vậy, cho dù sống trong xa cách nghìn trùng, “tiếng sóng” ấy vẫn hiện hữu trong tâm thức thi nhân. Bởi, với ông cái “hồn quê sông biển” ấy là hiện thân của quê hương, vừa thực lại vừa mộng, khi ẩn, khi hiện, thấp thoáng trong cõi chiêm bao.

“Nơi rất thực và cũng là rất mộng.

Của đời tôi yêu biển tự bao giờ

Trong giấc ngủ vẫn nghe tiếng sóng

Như tiếng lòng, giục giã những lời thơ”

(Tiếng sóng)

Và cũng như bao người dân quê sống bằng “nghề chài lưới”, hình ảnh sông biển đã trở thành một biểu hiện sinh động của tâm thức làng quê, là sự kết tinh của cái “hồn/tình quê”, của văn hoá làng hiện hữu trong thơ Tế Hanh. Vì vậy, nói đến thơ Tế Hanh không thể không nói đến tâm thức sông biển như một phẩm tính thơ mà ông luôn hướng đến, muốn tìm về:

Tôi nói đến trời mây, tôi nói đến

Những cánh đồng, nhà máy, những hoa chim

Nhưng muốn nói nhiều hơn về xứ biển

Như cái gì thầm kín nhất trong tim

(Tiếng sóng)

Quả thật, tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh chính là kết tinh của “mảnh hồn làng” và đó là cái làm nên giá trị của thơ ông. “Mảnh hồn làng” ấy đã ôm ấp trong nó không chỉ có sông biển quê hương, có con đường quê với những ngày nghỉ học, những toa tàu, những vườn xưa lối cũ, những bãi mía xạc xào, những tiếng lòng thương nhớ mà còn có cả hình ảnh của những con người dân quê lam lũ “Sớm khuya chài lưới bên sông / Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng“, mà kết tinh đẹp đẻ cho biểu tượng của những con người quê hương ở tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh là hình ảnh người mẹ dấu yêu, bên “cái rổ may”, bên “mảnh vườn xưa” năm nào với ước mơ: “Mẹ ơi! Ngày gặp mẹ/ Mùa thu hay mùa hè/ Con sẽ là đứa bé/ Đọc sách mẹ nằm nghe” (Nhớ mẹ). Nhưng khi, nhà thơ được trở về với quê hương dấu yêu thì mẹ không còn nữa, chỉ còn trơ trọi một nấm mồ quạnh quẻ, Tế Hanh như thấy cả đất trời sụp đổ:

Con lặng nhìn chung quanh

Thấy mồ to mả bé

Và nhìn lại đời mình

Thấy từ đây thiếu mẹ

(Bên mồ mẹ)

Bên cạnh hình ảnh người mẹ, tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh, còn là hình ảnh người cha mà thi nhân hết mực kính trọng và thương yêu, qua nỗi nhớ về cái tủ sách của cha mà với nhà thơ “cái hòm nhỏ con con/ với tôi là của quý/ thơ đã hoá tâm hồn/ sách đã thành tri kỉ” (Cái tủ sách của cha tôi)… Và tất nhiên trong sâu thẳm của tâm thức làng quê ấy, không thể thiếu vắng hình ảnh “người thương” của “cái thuở ban đầu”, để rồi, cho mãi đến bây giờ thi nhân vẫn cứ thấy lòng ngẩn ngơ, trong tiếng xạc xào của làn sóng tình êm ái “ngây thơ tự thuở nào” với “cô bạn nhỏ”:

Câu chuyện ngây thơ tự thuở nào

Bây giờ nhớ lại ngỡ chiêm bao

Ơi cô bạn nhỏ đâu rồi nhỉ?

Chỉ thấy trong tôi mía xạc xào…

(Mía)

Và, cái làm nên tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh là thế đó. Tất cả chỉ là những ảnh hình thiên nhiên, con người bình thường, gần gũi trong cuộc sống, không hề nhuốm một chút gì “hào nhoáng, màu mè” vậy mà lại ẩn sâu trong tâm cảm người đọc. Thơ Tế Hanh vì thế là thơ của tình yêu thương chan chứa và ông cũng chỉ thành công ở những bài thơ mang nặng tâm tình nầy. Đó là cái duyên, cái độc đáo trong thơ Tế Hanh tạo nên gương mặt riêng của Tế Hanh trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Điều ấy mãi mãi hiện tồn như chính cái “hồn quê” trong thơ ông. Và chính cái hồn quê thấm đẫm chất văn hoá làng thuần Việt này đã trở thành máu thịt nuôi sống ông. Thế nên, dẫu đang sống ở Bắc Kinh tráng lệ, thi nhân vẫn thấy hồn quê, tình quê “lai láng chảy” trong tâm thức của mình

Đêm nay trăng sáng Bắc Kinh

Nhớ trăng Hà Nội thấm tình quê hương

Lòng như cuộn chỉ yêu thuơng

Quấn theo mỗi một đoạn đường ra đi

(Dặm liễu)

Để rồi như một qui luật tất yếu của tình cảm đối với đất nước, quê hương mà Tế Hanh đã cảm nhận từ sự trải nghiệm của mình: “Anh xa nước nên yêu thêm nước“, thi nhân đã mơ thấy “Hàng châu thành Hà Nội/ Nước Tây Hồ bỗng hoá nước Hồ Tây” (Bài thơ tình ở Hàng Châu).

Thế mới biết cái tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh sâu nặng đến dường nào!? Và nói như nhà thơ Phạm Hổ, trong lời giới thiệu tuyển tập thơ Tế Hanh (1938 – 1988) do Sở Văn hoá và Thông tin Quảng Ngãi, xuất bản năm 1989: “Nếu tôi không nhầm thì thời ấy, (thuở phong trào Thơ mới 1932 – 1945 – THA) khi Xuân Diệu say đắm làm thơ về tình yêu, Lưu Trọng Lư mơ màng làm thơ về sầu mộng, Chế Lan Viên suy tư về sự điêu tàn, Phạm Huy Thông hướng về lịch sử, Huy Cận cảm xúc với đất trời… thì Tế Hanh đã nói đến cái làng quê của mình: làng tôi vốn làm nghề chài lưới… (Quê hương). Tôi con đường nhỏ chạy lang thang, kéo nỗi buồn không dạo khắp làng – chữ “không” sao mà đáng yêu và đáng thương (Lời con đường quê). Và ngay từ đầu, anh đã nói về quê hương của mình với một nỗi buồn lặng lẽ, khá mênh mang… Có lẽ đó là cái “tạng” cái bản chất của anh chăng?” (5).

3. Suy niệm về hành trình sáng tạo thơ của Tế Hanh, đặc biệt là những bài thơ thể hiện tâm thức làng quê, Phạm Hổ có nhận xét đại ý rằng: Có thể nói, Tế Hanh là một con người có tấm lòng gắn bó với quê hương một cách tự nhiên như “trời sinh” nhưng cuộc sống lại dành cho Tế Hanh những điều không may, mà lại rất may cho sự nghiệp làm thơ của mình: “Yêu quê hương nhưng không mấy khi được sống với làng quê!”. Phải chăng, chính cái điều tưởng chừng như nghịch lý này lại là căn tố hình thành nên tâm thức làng quê trong thơ Tế Hanh và phóng chiếu thành những năng lượng để thi nhân sáng tạo những bài thơ viết về quê hương, đất nước hay và da diết đến như thế. Những bài thơ không chỉ đi vào sách giáo khoa, để lại những mỹ cảm trong tâm hồn bao thế hệ học trò, cũng như biết bao người đọc mà còn là tài sản vô giá của thơ ca Việt Nam hiện đại. Bởi, nói như Michelet: “Quê hương phải được thấm nhuần trong học đường” (6). Và điều này đã làm nên hệ giá trị riêng cho thơ Tế Hanh trên thi đàn thơ Việt.

Vì thế, dẫu hôm nay Tế Hanh đã đi ra “ngoài cõi sống” để trở về với “mảnh hồn làng” mà ông luôn trân quí và nhớ thương nhưng thơ ông, trong đó có những bài thơ chứa đựng tâm thức làng quê vẫn là một giá trị vĩnh hằng trong cuộc sống, vẫn mãi mãi xanh tươi như “Bài ca sự sống”(**) chứa chan tình yêu đất nước, quê hương.

Và, hôm nay trong tận cùng niềm yêu thương và tiếc nhớ, nghĩ về Tế Hanh, một người con dấu yêu, một trong những thi tài của quê hương “Núi Ấn, Sông Trà”, nhân 100 năm sinh của ông, chúng ta không khỏi ngậm ngùi xa xót, thốt lên những lời thê thiết tự đáy lòng: “Những người muôn năm cũ / hồn ở đâu bây giờ!?” (** *)

         T.H.A                                                                            

 —

(*) Thơ trích dẫn trong bài đều lấy trong Tuyển tập Thơ Tế Hanh, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1987, do Nguyễn Bao (sưu tầm, tuyển chọn).

(**) Tên một tập thơ của Tế Hanh

(* * *) Ông Đồ – Vũ Đình Liên

Chú thích:

– (3) (6) Hoàng Xuân Việt, Danh ngôn từ điển, Nhà sách Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr.21

– Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Q. hạ) Ba thế hệ của nền văn học mới (1862 đến 1945), Nxb. Trình bày, Sài Gòn, 1967 tr. 802.

– Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2003, tr.149)

(5) Tế Hanh, Tuyển tập thơ (1938 – 1988), Sở Văn hoá và Thông tin Quảng Ngãi, xuất bản, 1989, tr.5

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm