TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Thế giới nữ tính đằm thắm và điệu nhạc tình yêu trong thơ Võ Thị Như Mai

Thế giới nữ tính đằm thắm và điệu nhạc tình yêu trong thơ Võ Thị Như Mai

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-02 16:40:25
mail facebook google pos stwis
1956 lượt xem

“Nhớ anh nhiều bao nhiêu / Như thế nào là nhiều…” – những câu thơ giản dị mà đằm thắm ấy chính là nhịp điệu riêng của Võ Thị Như Mai. Bài viết của Lê Bá Duy dẫn dắt người đọc vào thế giới nữ tính và nhạc tính dịu dàng trong tập thơ "Ừ nhỉ, mình chờ".

LÊ BÁ DUY
(Đọc “Ừ nhỉ, mình chờ” của Võ Thị Như Mai)

Trong thơ ca Việt Nam đương đại, giọng thơ nữ luôn mang đến một sắc màu đặc biệt: vừa mềm mại, thẳm sâu, vừa tha thiết yêu thương vừa chan chứa những chiêm nghiệm nhân sinh. Từ Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ… đến các gương mặt hôm nay, thơ nữ không chỉ là tiếng lòng tình cảm mà còn là sự khẳng định cái tôi trữ tình giàu bản lĩnh. Trong dòng chảy ấy, Võ Thị Như Mai hiện lên với một tiếng thơ riêng biệt: đằm thắm, nữ tính, giàu nhạc tính và cảm xúc.

Tập thơ "Ừ nhỉ, mình chờ" là minh chứng rõ rệt cho phong cách đó. Ngay từ nhan đề, “Ừ nhỉ mình chờ” đã là một lời thốt mộc mạc, thân mật, như một cách tự nhắc nhở, một tiếng nói thầm thì, một nụ cười duyên nhẹ. Cái giản dị trong lời nói lại chứa đựng cả một thế giới nội tâm dạt dào: chờ đợi, yêu thương, nhớ nhung, khát vọng và niềm tin.

Trong bài viết này, tôi chỉ tìm hiểu tập thơ trên hai bình diện: nội dung (thế giới tình cảm, cảm hứng chủ đạo) và nghệ thuật (ngôn ngữ, hình ảnh, nhạc tính, giọng điệu), đồng thời đặt trong so sánh với dòng thơ nữ đương đại để khẳng định cá tính sáng tạo của Võ Thị Như Mai.

Có thể nói, tình yêu là mạch cảm hứng xuyên suốt tập thơ. Đó là những cung bậc rất đa dạng: từ đắm say nồng nàn đến nhớ nhung da diết, từ hờn ghen giận dỗi đến khát vọng bền lâu. Trong bài “Ừ nhỉ, mình chờ”, giọng điệu đầy nữ tính cất lên:

“Nhớ anh nhiều bao nhiêu  

Như thế nào là nhiều

Đoá trà my thơm ngát 

Rụng vào đêm tinh khôi…”

Lời thơ như một câu hỏi tu từ: thế nào là nhiều, làm sao đo được nỗi nhớ? Tình yêu trở thành một dòng chảy vô tận, không thể cân đo, chỉ có thể cảm nhận qua hình ảnh hoa trà my rụng trong đêm. Tình yêu trong tập thơ vừa nồng nàn, vừa khắc khoải, nhiều khi trở thành một triết lý sống. Bài “Ừ nhỉ, mình chờ!” là một minh chứng rõ ràng, khi nhân vật trữ tình đặt mình vào thế chờ đợi, không phải trong tuyệt vọng mà trong một niềm tin an nhiên. Hình ảnh “giày nhỏ”, “trà my thơm ngát”, “nhành mai thắm”... được vận dụng như những biểu tượng tình yêu vừa gần gũi vừa giàu sức gợi. Bài “Chỉ một người” cũng nhấn mạnh sự thủy chung và duy nhất của tình yêu. Câu thơ “Chỉ một người duy nhất một người thôi / Nâng thế giới trên tay để xoay ngọn cỏ” không chỉ là lời tỏ tình mà còn là tuyên ngôn về sự vĩnh hằng của tình cảm.

Trong “Bắt đền”, giọng thơ lại tinh nghịch, hờn dỗi nhưng vẫn nồng nàn: “Em bắt đền anh, đền anh mỗi Tết / Một nhánh mai xinh vàng phố nồng nàn”. Đây là sự hóm hỉnh của người phụ nữ trong tình yêu, nhưng đồng thời cũng là lời khẳng định: tình yêu luôn gắn với trách nhiệm và hồi ức.

Trong “Biết mấy cho vừa”, tình yêu lại hiện lên đầy tha thiết, khát khao:

“Ta yêu em ru sóng khẽ 

Vẫy ướt một giấc chiêm bao 

Có người con trai thì thào 

Nói gì mà chiều đỏ mặt…” 

Tôi thích cách diễn đạt “vẫy ướt một giấc chiêm bao” bởi lẽ đặt trong khổ thơ này,  cộng với nhịp thơ mềm mại và giai điệu dìu dặt như một khúc hát thì hình ảnh “ru sóng khẽ” gợi sự dịu dàng, êm ái; “giấc chiêm bao” lại gợi cõi mộng mơ. Ở đây, tình yêu là một không gian huyền ảo, nơi cái thực và cái mơ hòa làm một.

 Có khi tình yêu trong thơ Như Mai mang sắc thái hờn ghen. Chẳng hạn trong bài “Khi người ta yêu”, nhà thơ bộc bạch:

“Nhưng chẳng hiểu vì sao em ngăn anh từng giây

Tung tẩy lang thang với người con gái khác…”

Sự hờn ghen ấy rất đời thường, rất nữ tính, nhưng không hề cay nghiệt. Nó chỉ làm nổi bật thêm độ chân thật của cảm xúc. Hoặc trong “Chỉ một người”, tình yêu lại là sự khẳng định thủy chung:

“Chỉ một người duy nhất một người thôi

Nâng thế giới trên tay để xoay ngọn cỏ 

Cho em trải lòng mình vào gió

Ước vọng, khát khao

Người ấy luôn mỉm cười…”

Tình yêu trở thành sức mạnh nâng đỡ cả thế giới, là nguồn sống và là điểm tựa tinh thần. Như vậy, trong mạch thơ tình yêu, Võ Thị Như Mai thể hiện một nội tâm phong phú: vừa dịu dàng vừa mãnh liệt, vừa hồn nhiên vừa sâu lắng.

Nếu tình yêu đôi lứa là cánh sóng dạt dào thì tình mẫu tử và quê hương là bến bờ vững chãi trong thơ Võ Thị Như Mai. Trong bài “Chỉ có thể là mẹ”, nhà thơ viết:

“Khi chông chênh 

Con tìm về dáng mẹ 

Quê hương gói tròn bóng nhỏ liêu xiêu.”

Mẹ và quê hương hòa quyện, trở thành biểu tượng thiêng liêng. Dáng mẹ liêu xiêu chính là hình ảnh quê hương gầy gò mà bất khuất. Mỗi khi con người chông chênh, mất niềm tin, mẹ là điểm tựa trở về. Như vậy, hình ảnh mẹ hiện lên vừa bình dị vừa thiêng liêng: “Quê hương nâu cánh diều / Xanh giàn trầu của nội / Mẹ gánh lúa về vàng cả sân phơi”. Quả thật tình mẫu tử đã hòa quyện cùng hình ảnh quê nhà, làm nền cho toàn bộ cảm hứng cho thơ Như Mai.

 Ở bài thơ “Quê hương”, người đọc bắt gặp ký ức tuổi thơ và hình bóng cha mẹ hòa vào nhau:

“Mang bóng hình mẹ bãi mía nương dâu

Tiếng đạn bom dội vào trí nhớ 

Câu kinh của ba bỏ dở

Tiếng chuông Linh Sơn nguyện cầu…”

Một mạch nguồn cảm hứng xuyên suốt là quê hương và gia đình. Nếu bài thơ “Quê hương” là khúc ca chan chứa ân tình, nơi người con xa xứ nhớ về mẹ, nhớ Ô Lâu, nhớ tiếng chuông chùa Linh Sơn… thì những câu thơ “Con thì thầm hai tiếng quê hương / Nghe thân thương vì quê hương là mẹ” không chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn nâng lên thành tình yêu Tổ quốc.

Tứ thơ về mẹ luôn là chốn hồi hương tinh thần. Đọc “Chỉ có thể là mẹ”, người con tìm thấy ánh sáng bản thể: “Chỉ bên mẹ mới thấy đời quang đãng/ Mới thấy mình như chiếc kẹo ngọt ngào.”. Hình ảnh giản dị “kẹo” lại mở ra cảm thức ấu thơ, nơi mỗi lần trở về là tẩy uế bụi đường đời: “Con chạm vào mặt trời mẹ để thở/ Ánh sáng dịu dàng trong như mặt trăng.”. Từ mẹ, tình quê tràn ra không gian địa lý, văn hóa. Trong “Hà Nội”, kẻ ở xa vẫn thấy Bắc - Trung - Nam nối liền bởi sợi nhớ: “Sài Gòn, Huế, Hà Nội tìm nhau/…/ Người đi xa, quê hương thành rộng mở / Đến nơi nào cũng rưng rức mùa ngâu…”. “Rưng rức mùa ngâu” là mưa nội tâm của người xa xứ; mưa ấy làm độ ẩm ký ức thấm sâu chữ nghĩa….

Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là chứng nhân của những biến cố lịch sử, của tình mẹ cha, của nỗi đau và sự kiêu hãnh. Những bài thơ này cho thấy Như Mai không chỉ là một người phụ nữ của tình yêu đôi lứa, mà còn là người con, người mẹ, người gắn bó tha thiết với quê hương, đất nước.

Đọc “Ừ nhỉ, mình chờ” ta còn thấy suy tưởng nhân sinh và thời gian trong thơ Như Mai hiện lên rõ nét. Không ít bài thơ của Như Mai mang tính chiêm nghiệm. Trong “Qua một kiếp long đong”, chị tự vấn:

“Tôi tự hỏi tình yêu là gì nhỉ 

Đến với đời nhiều phiên bản không tên

Tay nắm chặt tay cùng đánh thức mặt trời 

Hay nhớ nhung qua từng trang viết

Cứa vào tim từng mùa tiễn biệt…”

Câu hỏi “tình yêu là gì nhỉ” như một điệp khúc của đời sống. Thơ Võ Thị Như Mai ở đây không còn là những lời tỏ tình trực tiếp, mà là sự chiêm nghiệm sâu xa về bản chất tình yêu, về niềm vui và tổn thương mà nó mang lại.

Trong “Mùa phai”, ta còn bắt gặp nỗi buồn lắng đọng trước sự trôi đi của tuổi trẻ:

“Này con đường quen, đừng quá chông chênh 

Cuộc hành trình xa lâu dần cũng mỏi

Đoá cúc dại bên vệ đường lỡ hái

Cắm vào lọ chiều, ngồi ngắm mùa phai.”

Đoá cúc dại, lọ chiều, mùa phai là những hình ảnh giản dị nhưng gợi biết bao ý vị. Đó là sự nhận thức về sự trôi chảy của thời gian, về cái mong manh của kiếp người. Trong “Tái sinh”, giọng thơ Như Mai lại bừng sáng hy vọng:

“Đi qua nửa cuộc đời 

Thấy mình là dòng thác 

Đổ vào hành tinh xanh…”

Sự tái sinh ở đây không phải phép màu, mà là sức mạnh tinh thần: vượt qua đau thương, trở lại với niềm tin sống.

Thơ Như Mai gắn bó mật thiết với thiên nhiên. Thiên nhiên không chỉ là bối cảnh, mà còn là nhân chứng, là bạn đồng hành. Trong bài “Sài Gòn vào xuân” nhà thơ viết:

“Sài Gòn ngỡ ngàng lá rụng 

Màu sắc ánh sáng xoay tròn

Hàng cây nghiêng mình chúc tụng 

Một chồi non vừa điểm son.” 

Thiên nhiên Sài Gòn hiện lên tươi mới, rộn ràng, khác với sự lãng mạn của “Đà Lạt sắc hương”:

“Một ngày mùa đông Đà Lạt em về

Nơi anh từng hò hẹn

Con dốc uốn mềm hàng cây hờn dỗi

Về những dấu chân xưa.”

Ở đây, thiên nhiên hiển hiện trong ký ức, đó còn là kỷ niệm của tình yêu. Trong “Thiên nhiên”, người đọc còn thấy thiên nhiên trở thành biểu tượng cho sự xoa dịu:

“Thiên nhiên hiền hoà xoa dịu vết thương

Nụ hôn cuối đông trắng đêm ngọt lừ

Cây cổ thụ không khí rừng tinh tế…”

Qua những bài thơ trên, ta có thể thấy thiên nhiên và đô thị không tách rời cảm xúc, mà trở thành tấm gương phản chiếu tình yêu, nỗi nhớ, sự chiêm nghiệm sâu sắc. Và không chỉ có tình yêu và quê hương mà thơ Võ Thị Như Mai còn đậm chất triết lý nhân sinh. Trong bài “Qua một kiếp long đong”, người đọc nhận thấy nỗi buồn và sự lận đận được nâng lên thành triết lý sống: “Ừ nhỉ, mình chờ/ Qua một kiếp long đong!”, và kết tinh giọng điệu trữ tình, triết lý của Như Mai: tình yêu được nhận thức chứ không chỉ cảm xúc. Từ “đóa trà my rơi xuống bậc thềm” (vẻ đẹp mong manh) đến câu hỏi “Tôi tự hỏi tình yêu là gì nhỉ”, nhà thơ đặt tình yêu giữa đa phiên bản của đời sống: “Tôi tự hỏi tình yêu là gì nhỉ / Đến với đời nhiều phiên bản không tên …”. Cao trào là chấp nhận tổn thương như phần của yêu: “Tôi đang yêu và được yêu… Làm sao tránh tổn thương dẫu tóc pha sợi bạc.” Và kết bằng tuyên ngôn an trú: “Ừ nhỉ, mình chờ / Qua một kiếp long đong!”. Nhịp hạ lưu của câu này làm lắng lại toàn tập: chờ không buông xuôi; chờ là định tâm sau nhận thức. Hoặc ở bài “Thứ tha” nhà thơ lại gửi gắm một thông điệp: tha thứ cho lỗi lầm chính là cách giữ gìn sự sống và tình yêu. Hoặc các bài thơ như “Như nhiên” hay “Khoảnh khắc” cũng mang đậm chất chiêm nghiệm: chấp nhận cuộc đời trong tính tự nhiên, không cưỡng cầu…

  

Đọc thơ Mai ta còn thấy nghệ thuật biểu hiện ý thơ ăn sâu trong máu hồn của nhà thơ, như dòng chảy tự nhiên vốn có. Ngôn ngữ giản dị, giàu khẩu ngữ và nữ tính.  Võ Thị Như Mai thường dùng những từ ngữ giản dị, đời thường: “ừ nhỉ”, “bắt đền”, “kể cũng lạ”, “nhiều khi”… Những cách nói ấy, làm cho thơ Như Mai gần gũi, thân mật, như một cuộc trò chuyện. Đồng thời, chính sự giản dị này chứa đựng sức gợi lớn lao, bởi nó phản ánh sự chân thành của cảm xúc.

 Mặc khác, hình ảnh trong thơ Võ Thị Như Mai giàu biểu tượng, nữ tính. Thơ Như Mai có nhiều hình ảnh gắn với thiên nhiên như: hoa trà my, cúc dại, trăng, mưa, sương, biển, sóng… Chúng không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn biểu hiện tâm trạng. Ví dụ: “Cỏ trên đồi mắc cỡ, nở thành đoá hạnh tâm.” (Cảm hoá lòng nhau) Ở đây, bông hoa mắc cỡ trở thành biểu tượng cho sự rụt rè, e ấp của tình yêu.

Thơ Như Mai giàu nhạc tính, dễ hát dễ nhớ. Vì vậy thơ Mai được khá nhiều nhạc sĩ đồng cảm, phổ nhạc (hơn 37 bài thơ phổ nhạc như: Phía bên kia hoàng hôn, Sài Gòn vào xuân, Anh tĩnh lặng gieo vần đắm đuối em, Qua một kiếp long đong, Kể cũng lạ, Nhiều khi, Ừ nhỉ! Mình chờ, Lau dòng nước mắt….). Nhịp thơ của Như Mai mềm mại, uyển chuyển, dễ ngân vang. Bài “Biết mấy cho vừa” là ví dụ tiêu biểu: vần bằng trắc xen kẽ, nhịp 2/2, 3/3 nhẹ nhàng, du dương. Ngoài ra, giọng điệu trong thơ chị cũng khá đa dạng: khi hóm hỉnh, châm biếm trong “Chuyện người ta”; khi dịu dàng, nữ tính trong “Anh hiền”; lúc triết lý, chiêm nghiệm trong “Thơ là gì ngàn lần em không biết”; rồi lắng đọng với nỗi da diết, buồn thương trong “Nhớ người”… Chính sự đa dạng ấy tạo nên sức hấp dẫn bạn đọc do vậy thơ Như Mai không đơn điệu, mà là một bản nhạc nhiều cung bậc. Phong cách thơ của Võ Thị Như Mai có thể nói: trữ tình mà triết lý, nữ tính mà lắng sâu, gắn bó với ký ức và quê hương, nhưng cũng cởi mở với hiện đại và xa xứ. Giọng thơ vừa dịu dàng vừa bản lĩnh, vừa gợi cảm xúc vừa khơi gợi suy tưởng cho người đọc…

Nếu Xuân Quỳnh là tiếng thơ của một tình yêu bùng cháy, dồn dập; Ý Nhi là giọng điệu chiêm nghiệm, tỉnh táo; Phan Thị Thanh Nhàn là sự dịu dàng, nữ tính; thì Võ Thị Như Mai có sự kết hợp: nữ tính đằm thắm với nhạc tính dạt dào và ngôn ngữ giản dị đời thường. Nhà thơ không tìm đến những biểu tượng lớn lao, không dùng quá nhiều ẩn dụ triết lý cầu kỳ, mà lấy cái nhỏ bé, đời thường để khắc họa cảm xúc. Đó chính là nét riêng, là sức mạnh của thơ Võ Thị Như Mai…

“Ừ nhỉ mình chờ” là một tập thơ giàu nữ tính và nhạc tính. Nó không chỉ là những lời tình yêu đôi lứa, mà còn là bản giao hưởng của tình mẫu tử, tình quê hương, của sự chiêm nghiệm nhân sinh. Ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, giọng điệu đa dạng và nhạc tính dạt dào đã làm nên sức hấp dẫn của thơ Võ Thị Như Mai. Đọc “Ừ nhỉ mình chờ”, ta bắt gặp một thế giới nội tâm phong phú của người phụ nữ hiện đại: yêu thương, mong manh, kiên cường và chan chứa tin yêu. Đó là tiếng thơ mãi sẽ còn đồng vọng, không chỉ trong lòng người đọc hôm nay, mà cả mai sau.

Tình Giang, tháng 9. 2025

L.B.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm