TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Thế giới nữ tính đằm thắm và điệu nhạc tình yêu trong thơ Võ Thị Như Mai

Thế giới nữ tính đằm thắm và điệu nhạc tình yêu trong thơ Võ Thị Như Mai

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-02 16:40:25
mail facebook google pos stwis
2502 lượt xem

“Nhớ anh nhiều bao nhiêu / Như thế nào là nhiều…” – những câu thơ giản dị mà đằm thắm ấy chính là nhịp điệu riêng của Võ Thị Như Mai. Bài viết của Lê Bá Duy dẫn dắt người đọc vào thế giới nữ tính và nhạc tính dịu dàng trong tập thơ "Ừ nhỉ, mình chờ".

LÊ BÁ DUY
(Đọc “Ừ nhỉ, mình chờ” của Võ Thị Như Mai)

Trong thơ ca Việt Nam đương đại, giọng thơ nữ luôn mang đến một sắc màu đặc biệt: vừa mềm mại, thẳm sâu, vừa tha thiết yêu thương vừa chan chứa những chiêm nghiệm nhân sinh. Từ Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ… đến các gương mặt hôm nay, thơ nữ không chỉ là tiếng lòng tình cảm mà còn là sự khẳng định cái tôi trữ tình giàu bản lĩnh. Trong dòng chảy ấy, Võ Thị Như Mai hiện lên với một tiếng thơ riêng biệt: đằm thắm, nữ tính, giàu nhạc tính và cảm xúc.

Tập thơ "Ừ nhỉ, mình chờ" là minh chứng rõ rệt cho phong cách đó. Ngay từ nhan đề, “Ừ nhỉ mình chờ” đã là một lời thốt mộc mạc, thân mật, như một cách tự nhắc nhở, một tiếng nói thầm thì, một nụ cười duyên nhẹ. Cái giản dị trong lời nói lại chứa đựng cả một thế giới nội tâm dạt dào: chờ đợi, yêu thương, nhớ nhung, khát vọng và niềm tin.

Trong bài viết này, tôi chỉ tìm hiểu tập thơ trên hai bình diện: nội dung (thế giới tình cảm, cảm hứng chủ đạo) và nghệ thuật (ngôn ngữ, hình ảnh, nhạc tính, giọng điệu), đồng thời đặt trong so sánh với dòng thơ nữ đương đại để khẳng định cá tính sáng tạo của Võ Thị Như Mai.

Có thể nói, tình yêu là mạch cảm hứng xuyên suốt tập thơ. Đó là những cung bậc rất đa dạng: từ đắm say nồng nàn đến nhớ nhung da diết, từ hờn ghen giận dỗi đến khát vọng bền lâu. Trong bài “Ừ nhỉ, mình chờ”, giọng điệu đầy nữ tính cất lên:

“Nhớ anh nhiều bao nhiêu  

Như thế nào là nhiều

Đoá trà my thơm ngát 

Rụng vào đêm tinh khôi…”

Lời thơ như một câu hỏi tu từ: thế nào là nhiều, làm sao đo được nỗi nhớ? Tình yêu trở thành một dòng chảy vô tận, không thể cân đo, chỉ có thể cảm nhận qua hình ảnh hoa trà my rụng trong đêm. Tình yêu trong tập thơ vừa nồng nàn, vừa khắc khoải, nhiều khi trở thành một triết lý sống. Bài “Ừ nhỉ, mình chờ!” là một minh chứng rõ ràng, khi nhân vật trữ tình đặt mình vào thế chờ đợi, không phải trong tuyệt vọng mà trong một niềm tin an nhiên. Hình ảnh “giày nhỏ”, “trà my thơm ngát”, “nhành mai thắm”... được vận dụng như những biểu tượng tình yêu vừa gần gũi vừa giàu sức gợi. Bài “Chỉ một người” cũng nhấn mạnh sự thủy chung và duy nhất của tình yêu. Câu thơ “Chỉ một người duy nhất một người thôi / Nâng thế giới trên tay để xoay ngọn cỏ” không chỉ là lời tỏ tình mà còn là tuyên ngôn về sự vĩnh hằng của tình cảm.

Trong “Bắt đền”, giọng thơ lại tinh nghịch, hờn dỗi nhưng vẫn nồng nàn: “Em bắt đền anh, đền anh mỗi Tết / Một nhánh mai xinh vàng phố nồng nàn”. Đây là sự hóm hỉnh của người phụ nữ trong tình yêu, nhưng đồng thời cũng là lời khẳng định: tình yêu luôn gắn với trách nhiệm và hồi ức.

Trong “Biết mấy cho vừa”, tình yêu lại hiện lên đầy tha thiết, khát khao:

“Ta yêu em ru sóng khẽ 

Vẫy ướt một giấc chiêm bao 

Có người con trai thì thào 

Nói gì mà chiều đỏ mặt…” 

Tôi thích cách diễn đạt “vẫy ướt một giấc chiêm bao” bởi lẽ đặt trong khổ thơ này,  cộng với nhịp thơ mềm mại và giai điệu dìu dặt như một khúc hát thì hình ảnh “ru sóng khẽ” gợi sự dịu dàng, êm ái; “giấc chiêm bao” lại gợi cõi mộng mơ. Ở đây, tình yêu là một không gian huyền ảo, nơi cái thực và cái mơ hòa làm một.

 Có khi tình yêu trong thơ Như Mai mang sắc thái hờn ghen. Chẳng hạn trong bài “Khi người ta yêu”, nhà thơ bộc bạch:

“Nhưng chẳng hiểu vì sao em ngăn anh từng giây

Tung tẩy lang thang với người con gái khác…”

Sự hờn ghen ấy rất đời thường, rất nữ tính, nhưng không hề cay nghiệt. Nó chỉ làm nổi bật thêm độ chân thật của cảm xúc. Hoặc trong “Chỉ một người”, tình yêu lại là sự khẳng định thủy chung:

“Chỉ một người duy nhất một người thôi

Nâng thế giới trên tay để xoay ngọn cỏ 

Cho em trải lòng mình vào gió

Ước vọng, khát khao

Người ấy luôn mỉm cười…”

Tình yêu trở thành sức mạnh nâng đỡ cả thế giới, là nguồn sống và là điểm tựa tinh thần. Như vậy, trong mạch thơ tình yêu, Võ Thị Như Mai thể hiện một nội tâm phong phú: vừa dịu dàng vừa mãnh liệt, vừa hồn nhiên vừa sâu lắng.

Nếu tình yêu đôi lứa là cánh sóng dạt dào thì tình mẫu tử và quê hương là bến bờ vững chãi trong thơ Võ Thị Như Mai. Trong bài “Chỉ có thể là mẹ”, nhà thơ viết:

“Khi chông chênh 

Con tìm về dáng mẹ 

Quê hương gói tròn bóng nhỏ liêu xiêu.”

Mẹ và quê hương hòa quyện, trở thành biểu tượng thiêng liêng. Dáng mẹ liêu xiêu chính là hình ảnh quê hương gầy gò mà bất khuất. Mỗi khi con người chông chênh, mất niềm tin, mẹ là điểm tựa trở về. Như vậy, hình ảnh mẹ hiện lên vừa bình dị vừa thiêng liêng: “Quê hương nâu cánh diều / Xanh giàn trầu của nội / Mẹ gánh lúa về vàng cả sân phơi”. Quả thật tình mẫu tử đã hòa quyện cùng hình ảnh quê nhà, làm nền cho toàn bộ cảm hứng cho thơ Như Mai.

 Ở bài thơ “Quê hương”, người đọc bắt gặp ký ức tuổi thơ và hình bóng cha mẹ hòa vào nhau:

“Mang bóng hình mẹ bãi mía nương dâu

Tiếng đạn bom dội vào trí nhớ 

Câu kinh của ba bỏ dở

Tiếng chuông Linh Sơn nguyện cầu…”

Một mạch nguồn cảm hứng xuyên suốt là quê hương và gia đình. Nếu bài thơ “Quê hương” là khúc ca chan chứa ân tình, nơi người con xa xứ nhớ về mẹ, nhớ Ô Lâu, nhớ tiếng chuông chùa Linh Sơn… thì những câu thơ “Con thì thầm hai tiếng quê hương / Nghe thân thương vì quê hương là mẹ” không chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn nâng lên thành tình yêu Tổ quốc.

Tứ thơ về mẹ luôn là chốn hồi hương tinh thần. Đọc “Chỉ có thể là mẹ”, người con tìm thấy ánh sáng bản thể: “Chỉ bên mẹ mới thấy đời quang đãng/ Mới thấy mình như chiếc kẹo ngọt ngào.”. Hình ảnh giản dị “kẹo” lại mở ra cảm thức ấu thơ, nơi mỗi lần trở về là tẩy uế bụi đường đời: “Con chạm vào mặt trời mẹ để thở/ Ánh sáng dịu dàng trong như mặt trăng.”. Từ mẹ, tình quê tràn ra không gian địa lý, văn hóa. Trong “Hà Nội”, kẻ ở xa vẫn thấy Bắc - Trung - Nam nối liền bởi sợi nhớ: “Sài Gòn, Huế, Hà Nội tìm nhau/…/ Người đi xa, quê hương thành rộng mở / Đến nơi nào cũng rưng rức mùa ngâu…”. “Rưng rức mùa ngâu” là mưa nội tâm của người xa xứ; mưa ấy làm độ ẩm ký ức thấm sâu chữ nghĩa….

Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là chứng nhân của những biến cố lịch sử, của tình mẹ cha, của nỗi đau và sự kiêu hãnh. Những bài thơ này cho thấy Như Mai không chỉ là một người phụ nữ của tình yêu đôi lứa, mà còn là người con, người mẹ, người gắn bó tha thiết với quê hương, đất nước.

Đọc “Ừ nhỉ, mình chờ” ta còn thấy suy tưởng nhân sinh và thời gian trong thơ Như Mai hiện lên rõ nét. Không ít bài thơ của Như Mai mang tính chiêm nghiệm. Trong “Qua một kiếp long đong”, chị tự vấn:

“Tôi tự hỏi tình yêu là gì nhỉ 

Đến với đời nhiều phiên bản không tên

Tay nắm chặt tay cùng đánh thức mặt trời 

Hay nhớ nhung qua từng trang viết

Cứa vào tim từng mùa tiễn biệt…”

Câu hỏi “tình yêu là gì nhỉ” như một điệp khúc của đời sống. Thơ Võ Thị Như Mai ở đây không còn là những lời tỏ tình trực tiếp, mà là sự chiêm nghiệm sâu xa về bản chất tình yêu, về niềm vui và tổn thương mà nó mang lại.

Trong “Mùa phai”, ta còn bắt gặp nỗi buồn lắng đọng trước sự trôi đi của tuổi trẻ:

“Này con đường quen, đừng quá chông chênh 

Cuộc hành trình xa lâu dần cũng mỏi

Đoá cúc dại bên vệ đường lỡ hái

Cắm vào lọ chiều, ngồi ngắm mùa phai.”

Đoá cúc dại, lọ chiều, mùa phai là những hình ảnh giản dị nhưng gợi biết bao ý vị. Đó là sự nhận thức về sự trôi chảy của thời gian, về cái mong manh của kiếp người. Trong “Tái sinh”, giọng thơ Như Mai lại bừng sáng hy vọng:

“Đi qua nửa cuộc đời 

Thấy mình là dòng thác 

Đổ vào hành tinh xanh…”

Sự tái sinh ở đây không phải phép màu, mà là sức mạnh tinh thần: vượt qua đau thương, trở lại với niềm tin sống.

Thơ Như Mai gắn bó mật thiết với thiên nhiên. Thiên nhiên không chỉ là bối cảnh, mà còn là nhân chứng, là bạn đồng hành. Trong bài “Sài Gòn vào xuân” nhà thơ viết:

“Sài Gòn ngỡ ngàng lá rụng 

Màu sắc ánh sáng xoay tròn

Hàng cây nghiêng mình chúc tụng 

Một chồi non vừa điểm son.” 

Thiên nhiên Sài Gòn hiện lên tươi mới, rộn ràng, khác với sự lãng mạn của “Đà Lạt sắc hương”:

“Một ngày mùa đông Đà Lạt em về

Nơi anh từng hò hẹn

Con dốc uốn mềm hàng cây hờn dỗi

Về những dấu chân xưa.”

Ở đây, thiên nhiên hiển hiện trong ký ức, đó còn là kỷ niệm của tình yêu. Trong “Thiên nhiên”, người đọc còn thấy thiên nhiên trở thành biểu tượng cho sự xoa dịu:

“Thiên nhiên hiền hoà xoa dịu vết thương

Nụ hôn cuối đông trắng đêm ngọt lừ

Cây cổ thụ không khí rừng tinh tế…”

Qua những bài thơ trên, ta có thể thấy thiên nhiên và đô thị không tách rời cảm xúc, mà trở thành tấm gương phản chiếu tình yêu, nỗi nhớ, sự chiêm nghiệm sâu sắc. Và không chỉ có tình yêu và quê hương mà thơ Võ Thị Như Mai còn đậm chất triết lý nhân sinh. Trong bài “Qua một kiếp long đong”, người đọc nhận thấy nỗi buồn và sự lận đận được nâng lên thành triết lý sống: “Ừ nhỉ, mình chờ/ Qua một kiếp long đong!”, và kết tinh giọng điệu trữ tình, triết lý của Như Mai: tình yêu được nhận thức chứ không chỉ cảm xúc. Từ “đóa trà my rơi xuống bậc thềm” (vẻ đẹp mong manh) đến câu hỏi “Tôi tự hỏi tình yêu là gì nhỉ”, nhà thơ đặt tình yêu giữa đa phiên bản của đời sống: “Tôi tự hỏi tình yêu là gì nhỉ / Đến với đời nhiều phiên bản không tên …”. Cao trào là chấp nhận tổn thương như phần của yêu: “Tôi đang yêu và được yêu… Làm sao tránh tổn thương dẫu tóc pha sợi bạc.” Và kết bằng tuyên ngôn an trú: “Ừ nhỉ, mình chờ / Qua một kiếp long đong!”. Nhịp hạ lưu của câu này làm lắng lại toàn tập: chờ không buông xuôi; chờ là định tâm sau nhận thức. Hoặc ở bài “Thứ tha” nhà thơ lại gửi gắm một thông điệp: tha thứ cho lỗi lầm chính là cách giữ gìn sự sống và tình yêu. Hoặc các bài thơ như “Như nhiên” hay “Khoảnh khắc” cũng mang đậm chất chiêm nghiệm: chấp nhận cuộc đời trong tính tự nhiên, không cưỡng cầu…

  

Đọc thơ Mai ta còn thấy nghệ thuật biểu hiện ý thơ ăn sâu trong máu hồn của nhà thơ, như dòng chảy tự nhiên vốn có. Ngôn ngữ giản dị, giàu khẩu ngữ và nữ tính.  Võ Thị Như Mai thường dùng những từ ngữ giản dị, đời thường: “ừ nhỉ”, “bắt đền”, “kể cũng lạ”, “nhiều khi”… Những cách nói ấy, làm cho thơ Như Mai gần gũi, thân mật, như một cuộc trò chuyện. Đồng thời, chính sự giản dị này chứa đựng sức gợi lớn lao, bởi nó phản ánh sự chân thành của cảm xúc.

 Mặc khác, hình ảnh trong thơ Võ Thị Như Mai giàu biểu tượng, nữ tính. Thơ Như Mai có nhiều hình ảnh gắn với thiên nhiên như: hoa trà my, cúc dại, trăng, mưa, sương, biển, sóng… Chúng không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn biểu hiện tâm trạng. Ví dụ: “Cỏ trên đồi mắc cỡ, nở thành đoá hạnh tâm.” (Cảm hoá lòng nhau) Ở đây, bông hoa mắc cỡ trở thành biểu tượng cho sự rụt rè, e ấp của tình yêu.

Thơ Như Mai giàu nhạc tính, dễ hát dễ nhớ. Vì vậy thơ Mai được khá nhiều nhạc sĩ đồng cảm, phổ nhạc (hơn 37 bài thơ phổ nhạc như: Phía bên kia hoàng hôn, Sài Gòn vào xuân, Anh tĩnh lặng gieo vần đắm đuối em, Qua một kiếp long đong, Kể cũng lạ, Nhiều khi, Ừ nhỉ! Mình chờ, Lau dòng nước mắt….). Nhịp thơ của Như Mai mềm mại, uyển chuyển, dễ ngân vang. Bài “Biết mấy cho vừa” là ví dụ tiêu biểu: vần bằng trắc xen kẽ, nhịp 2/2, 3/3 nhẹ nhàng, du dương. Ngoài ra, giọng điệu trong thơ chị cũng khá đa dạng: khi hóm hỉnh, châm biếm trong “Chuyện người ta”; khi dịu dàng, nữ tính trong “Anh hiền”; lúc triết lý, chiêm nghiệm trong “Thơ là gì ngàn lần em không biết”; rồi lắng đọng với nỗi da diết, buồn thương trong “Nhớ người”… Chính sự đa dạng ấy tạo nên sức hấp dẫn bạn đọc do vậy thơ Như Mai không đơn điệu, mà là một bản nhạc nhiều cung bậc. Phong cách thơ của Võ Thị Như Mai có thể nói: trữ tình mà triết lý, nữ tính mà lắng sâu, gắn bó với ký ức và quê hương, nhưng cũng cởi mở với hiện đại và xa xứ. Giọng thơ vừa dịu dàng vừa bản lĩnh, vừa gợi cảm xúc vừa khơi gợi suy tưởng cho người đọc…

Nếu Xuân Quỳnh là tiếng thơ của một tình yêu bùng cháy, dồn dập; Ý Nhi là giọng điệu chiêm nghiệm, tỉnh táo; Phan Thị Thanh Nhàn là sự dịu dàng, nữ tính; thì Võ Thị Như Mai có sự kết hợp: nữ tính đằm thắm với nhạc tính dạt dào và ngôn ngữ giản dị đời thường. Nhà thơ không tìm đến những biểu tượng lớn lao, không dùng quá nhiều ẩn dụ triết lý cầu kỳ, mà lấy cái nhỏ bé, đời thường để khắc họa cảm xúc. Đó chính là nét riêng, là sức mạnh của thơ Võ Thị Như Mai…

“Ừ nhỉ mình chờ” là một tập thơ giàu nữ tính và nhạc tính. Nó không chỉ là những lời tình yêu đôi lứa, mà còn là bản giao hưởng của tình mẫu tử, tình quê hương, của sự chiêm nghiệm nhân sinh. Ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, giọng điệu đa dạng và nhạc tính dạt dào đã làm nên sức hấp dẫn của thơ Võ Thị Như Mai. Đọc “Ừ nhỉ mình chờ”, ta bắt gặp một thế giới nội tâm phong phú của người phụ nữ hiện đại: yêu thương, mong manh, kiên cường và chan chứa tin yêu. Đó là tiếng thơ mãi sẽ còn đồng vọng, không chỉ trong lòng người đọc hôm nay, mà cả mai sau.

Tình Giang, tháng 9. 2025

L.B.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm