TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Thế giới nữ tính đằm thắm và điệu nhạc tình yêu trong thơ Võ Thị Như Mai

Thế giới nữ tính đằm thắm và điệu nhạc tình yêu trong thơ Võ Thị Như Mai

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-02 16:40:25
mail facebook google pos stwis
2650 lượt xem

“Nhớ anh nhiều bao nhiêu / Như thế nào là nhiều…” – những câu thơ giản dị mà đằm thắm ấy chính là nhịp điệu riêng của Võ Thị Như Mai. Bài viết của Lê Bá Duy dẫn dắt người đọc vào thế giới nữ tính và nhạc tính dịu dàng trong tập thơ "Ừ nhỉ, mình chờ".

LÊ BÁ DUY
(Đọc “Ừ nhỉ, mình chờ” của Võ Thị Như Mai)

Trong thơ ca Việt Nam đương đại, giọng thơ nữ luôn mang đến một sắc màu đặc biệt: vừa mềm mại, thẳm sâu, vừa tha thiết yêu thương vừa chan chứa những chiêm nghiệm nhân sinh. Từ Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ… đến các gương mặt hôm nay, thơ nữ không chỉ là tiếng lòng tình cảm mà còn là sự khẳng định cái tôi trữ tình giàu bản lĩnh. Trong dòng chảy ấy, Võ Thị Như Mai hiện lên với một tiếng thơ riêng biệt: đằm thắm, nữ tính, giàu nhạc tính và cảm xúc.

Tập thơ "Ừ nhỉ, mình chờ" là minh chứng rõ rệt cho phong cách đó. Ngay từ nhan đề, “Ừ nhỉ mình chờ” đã là một lời thốt mộc mạc, thân mật, như một cách tự nhắc nhở, một tiếng nói thầm thì, một nụ cười duyên nhẹ. Cái giản dị trong lời nói lại chứa đựng cả một thế giới nội tâm dạt dào: chờ đợi, yêu thương, nhớ nhung, khát vọng và niềm tin.

Trong bài viết này, tôi chỉ tìm hiểu tập thơ trên hai bình diện: nội dung (thế giới tình cảm, cảm hứng chủ đạo) và nghệ thuật (ngôn ngữ, hình ảnh, nhạc tính, giọng điệu), đồng thời đặt trong so sánh với dòng thơ nữ đương đại để khẳng định cá tính sáng tạo của Võ Thị Như Mai.

Có thể nói, tình yêu là mạch cảm hứng xuyên suốt tập thơ. Đó là những cung bậc rất đa dạng: từ đắm say nồng nàn đến nhớ nhung da diết, từ hờn ghen giận dỗi đến khát vọng bền lâu. Trong bài “Ừ nhỉ, mình chờ”, giọng điệu đầy nữ tính cất lên:

“Nhớ anh nhiều bao nhiêu  

Như thế nào là nhiều

Đoá trà my thơm ngát 

Rụng vào đêm tinh khôi…”

Lời thơ như một câu hỏi tu từ: thế nào là nhiều, làm sao đo được nỗi nhớ? Tình yêu trở thành một dòng chảy vô tận, không thể cân đo, chỉ có thể cảm nhận qua hình ảnh hoa trà my rụng trong đêm. Tình yêu trong tập thơ vừa nồng nàn, vừa khắc khoải, nhiều khi trở thành một triết lý sống. Bài “Ừ nhỉ, mình chờ!” là một minh chứng rõ ràng, khi nhân vật trữ tình đặt mình vào thế chờ đợi, không phải trong tuyệt vọng mà trong một niềm tin an nhiên. Hình ảnh “giày nhỏ”, “trà my thơm ngát”, “nhành mai thắm”... được vận dụng như những biểu tượng tình yêu vừa gần gũi vừa giàu sức gợi. Bài “Chỉ một người” cũng nhấn mạnh sự thủy chung và duy nhất của tình yêu. Câu thơ “Chỉ một người duy nhất một người thôi / Nâng thế giới trên tay để xoay ngọn cỏ” không chỉ là lời tỏ tình mà còn là tuyên ngôn về sự vĩnh hằng của tình cảm.

Trong “Bắt đền”, giọng thơ lại tinh nghịch, hờn dỗi nhưng vẫn nồng nàn: “Em bắt đền anh, đền anh mỗi Tết / Một nhánh mai xinh vàng phố nồng nàn”. Đây là sự hóm hỉnh của người phụ nữ trong tình yêu, nhưng đồng thời cũng là lời khẳng định: tình yêu luôn gắn với trách nhiệm và hồi ức.

Trong “Biết mấy cho vừa”, tình yêu lại hiện lên đầy tha thiết, khát khao:

“Ta yêu em ru sóng khẽ 

Vẫy ướt một giấc chiêm bao 

Có người con trai thì thào 

Nói gì mà chiều đỏ mặt…” 

Tôi thích cách diễn đạt “vẫy ướt một giấc chiêm bao” bởi lẽ đặt trong khổ thơ này,  cộng với nhịp thơ mềm mại và giai điệu dìu dặt như một khúc hát thì hình ảnh “ru sóng khẽ” gợi sự dịu dàng, êm ái; “giấc chiêm bao” lại gợi cõi mộng mơ. Ở đây, tình yêu là một không gian huyền ảo, nơi cái thực và cái mơ hòa làm một.

 Có khi tình yêu trong thơ Như Mai mang sắc thái hờn ghen. Chẳng hạn trong bài “Khi người ta yêu”, nhà thơ bộc bạch:

“Nhưng chẳng hiểu vì sao em ngăn anh từng giây

Tung tẩy lang thang với người con gái khác…”

Sự hờn ghen ấy rất đời thường, rất nữ tính, nhưng không hề cay nghiệt. Nó chỉ làm nổi bật thêm độ chân thật của cảm xúc. Hoặc trong “Chỉ một người”, tình yêu lại là sự khẳng định thủy chung:

“Chỉ một người duy nhất một người thôi

Nâng thế giới trên tay để xoay ngọn cỏ 

Cho em trải lòng mình vào gió

Ước vọng, khát khao

Người ấy luôn mỉm cười…”

Tình yêu trở thành sức mạnh nâng đỡ cả thế giới, là nguồn sống và là điểm tựa tinh thần. Như vậy, trong mạch thơ tình yêu, Võ Thị Như Mai thể hiện một nội tâm phong phú: vừa dịu dàng vừa mãnh liệt, vừa hồn nhiên vừa sâu lắng.

Nếu tình yêu đôi lứa là cánh sóng dạt dào thì tình mẫu tử và quê hương là bến bờ vững chãi trong thơ Võ Thị Như Mai. Trong bài “Chỉ có thể là mẹ”, nhà thơ viết:

“Khi chông chênh 

Con tìm về dáng mẹ 

Quê hương gói tròn bóng nhỏ liêu xiêu.”

Mẹ và quê hương hòa quyện, trở thành biểu tượng thiêng liêng. Dáng mẹ liêu xiêu chính là hình ảnh quê hương gầy gò mà bất khuất. Mỗi khi con người chông chênh, mất niềm tin, mẹ là điểm tựa trở về. Như vậy, hình ảnh mẹ hiện lên vừa bình dị vừa thiêng liêng: “Quê hương nâu cánh diều / Xanh giàn trầu của nội / Mẹ gánh lúa về vàng cả sân phơi”. Quả thật tình mẫu tử đã hòa quyện cùng hình ảnh quê nhà, làm nền cho toàn bộ cảm hứng cho thơ Như Mai.

 Ở bài thơ “Quê hương”, người đọc bắt gặp ký ức tuổi thơ và hình bóng cha mẹ hòa vào nhau:

“Mang bóng hình mẹ bãi mía nương dâu

Tiếng đạn bom dội vào trí nhớ 

Câu kinh của ba bỏ dở

Tiếng chuông Linh Sơn nguyện cầu…”

Một mạch nguồn cảm hứng xuyên suốt là quê hương và gia đình. Nếu bài thơ “Quê hương” là khúc ca chan chứa ân tình, nơi người con xa xứ nhớ về mẹ, nhớ Ô Lâu, nhớ tiếng chuông chùa Linh Sơn… thì những câu thơ “Con thì thầm hai tiếng quê hương / Nghe thân thương vì quê hương là mẹ” không chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn nâng lên thành tình yêu Tổ quốc.

Tứ thơ về mẹ luôn là chốn hồi hương tinh thần. Đọc “Chỉ có thể là mẹ”, người con tìm thấy ánh sáng bản thể: “Chỉ bên mẹ mới thấy đời quang đãng/ Mới thấy mình như chiếc kẹo ngọt ngào.”. Hình ảnh giản dị “kẹo” lại mở ra cảm thức ấu thơ, nơi mỗi lần trở về là tẩy uế bụi đường đời: “Con chạm vào mặt trời mẹ để thở/ Ánh sáng dịu dàng trong như mặt trăng.”. Từ mẹ, tình quê tràn ra không gian địa lý, văn hóa. Trong “Hà Nội”, kẻ ở xa vẫn thấy Bắc - Trung - Nam nối liền bởi sợi nhớ: “Sài Gòn, Huế, Hà Nội tìm nhau/…/ Người đi xa, quê hương thành rộng mở / Đến nơi nào cũng rưng rức mùa ngâu…”. “Rưng rức mùa ngâu” là mưa nội tâm của người xa xứ; mưa ấy làm độ ẩm ký ức thấm sâu chữ nghĩa….

Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là chứng nhân của những biến cố lịch sử, của tình mẹ cha, của nỗi đau và sự kiêu hãnh. Những bài thơ này cho thấy Như Mai không chỉ là một người phụ nữ của tình yêu đôi lứa, mà còn là người con, người mẹ, người gắn bó tha thiết với quê hương, đất nước.

Đọc “Ừ nhỉ, mình chờ” ta còn thấy suy tưởng nhân sinh và thời gian trong thơ Như Mai hiện lên rõ nét. Không ít bài thơ của Như Mai mang tính chiêm nghiệm. Trong “Qua một kiếp long đong”, chị tự vấn:

“Tôi tự hỏi tình yêu là gì nhỉ 

Đến với đời nhiều phiên bản không tên

Tay nắm chặt tay cùng đánh thức mặt trời 

Hay nhớ nhung qua từng trang viết

Cứa vào tim từng mùa tiễn biệt…”

Câu hỏi “tình yêu là gì nhỉ” như một điệp khúc của đời sống. Thơ Võ Thị Như Mai ở đây không còn là những lời tỏ tình trực tiếp, mà là sự chiêm nghiệm sâu xa về bản chất tình yêu, về niềm vui và tổn thương mà nó mang lại.

Trong “Mùa phai”, ta còn bắt gặp nỗi buồn lắng đọng trước sự trôi đi của tuổi trẻ:

“Này con đường quen, đừng quá chông chênh 

Cuộc hành trình xa lâu dần cũng mỏi

Đoá cúc dại bên vệ đường lỡ hái

Cắm vào lọ chiều, ngồi ngắm mùa phai.”

Đoá cúc dại, lọ chiều, mùa phai là những hình ảnh giản dị nhưng gợi biết bao ý vị. Đó là sự nhận thức về sự trôi chảy của thời gian, về cái mong manh của kiếp người. Trong “Tái sinh”, giọng thơ Như Mai lại bừng sáng hy vọng:

“Đi qua nửa cuộc đời 

Thấy mình là dòng thác 

Đổ vào hành tinh xanh…”

Sự tái sinh ở đây không phải phép màu, mà là sức mạnh tinh thần: vượt qua đau thương, trở lại với niềm tin sống.

Thơ Như Mai gắn bó mật thiết với thiên nhiên. Thiên nhiên không chỉ là bối cảnh, mà còn là nhân chứng, là bạn đồng hành. Trong bài “Sài Gòn vào xuân” nhà thơ viết:

“Sài Gòn ngỡ ngàng lá rụng 

Màu sắc ánh sáng xoay tròn

Hàng cây nghiêng mình chúc tụng 

Một chồi non vừa điểm son.” 

Thiên nhiên Sài Gòn hiện lên tươi mới, rộn ràng, khác với sự lãng mạn của “Đà Lạt sắc hương”:

“Một ngày mùa đông Đà Lạt em về

Nơi anh từng hò hẹn

Con dốc uốn mềm hàng cây hờn dỗi

Về những dấu chân xưa.”

Ở đây, thiên nhiên hiển hiện trong ký ức, đó còn là kỷ niệm của tình yêu. Trong “Thiên nhiên”, người đọc còn thấy thiên nhiên trở thành biểu tượng cho sự xoa dịu:

“Thiên nhiên hiền hoà xoa dịu vết thương

Nụ hôn cuối đông trắng đêm ngọt lừ

Cây cổ thụ không khí rừng tinh tế…”

Qua những bài thơ trên, ta có thể thấy thiên nhiên và đô thị không tách rời cảm xúc, mà trở thành tấm gương phản chiếu tình yêu, nỗi nhớ, sự chiêm nghiệm sâu sắc. Và không chỉ có tình yêu và quê hương mà thơ Võ Thị Như Mai còn đậm chất triết lý nhân sinh. Trong bài “Qua một kiếp long đong”, người đọc nhận thấy nỗi buồn và sự lận đận được nâng lên thành triết lý sống: “Ừ nhỉ, mình chờ/ Qua một kiếp long đong!”, và kết tinh giọng điệu trữ tình, triết lý của Như Mai: tình yêu được nhận thức chứ không chỉ cảm xúc. Từ “đóa trà my rơi xuống bậc thềm” (vẻ đẹp mong manh) đến câu hỏi “Tôi tự hỏi tình yêu là gì nhỉ”, nhà thơ đặt tình yêu giữa đa phiên bản của đời sống: “Tôi tự hỏi tình yêu là gì nhỉ / Đến với đời nhiều phiên bản không tên …”. Cao trào là chấp nhận tổn thương như phần của yêu: “Tôi đang yêu và được yêu… Làm sao tránh tổn thương dẫu tóc pha sợi bạc.” Và kết bằng tuyên ngôn an trú: “Ừ nhỉ, mình chờ / Qua một kiếp long đong!”. Nhịp hạ lưu của câu này làm lắng lại toàn tập: chờ không buông xuôi; chờ là định tâm sau nhận thức. Hoặc ở bài “Thứ tha” nhà thơ lại gửi gắm một thông điệp: tha thứ cho lỗi lầm chính là cách giữ gìn sự sống và tình yêu. Hoặc các bài thơ như “Như nhiên” hay “Khoảnh khắc” cũng mang đậm chất chiêm nghiệm: chấp nhận cuộc đời trong tính tự nhiên, không cưỡng cầu…

  

Đọc thơ Mai ta còn thấy nghệ thuật biểu hiện ý thơ ăn sâu trong máu hồn của nhà thơ, như dòng chảy tự nhiên vốn có. Ngôn ngữ giản dị, giàu khẩu ngữ và nữ tính.  Võ Thị Như Mai thường dùng những từ ngữ giản dị, đời thường: “ừ nhỉ”, “bắt đền”, “kể cũng lạ”, “nhiều khi”… Những cách nói ấy, làm cho thơ Như Mai gần gũi, thân mật, như một cuộc trò chuyện. Đồng thời, chính sự giản dị này chứa đựng sức gợi lớn lao, bởi nó phản ánh sự chân thành của cảm xúc.

 Mặc khác, hình ảnh trong thơ Võ Thị Như Mai giàu biểu tượng, nữ tính. Thơ Như Mai có nhiều hình ảnh gắn với thiên nhiên như: hoa trà my, cúc dại, trăng, mưa, sương, biển, sóng… Chúng không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn biểu hiện tâm trạng. Ví dụ: “Cỏ trên đồi mắc cỡ, nở thành đoá hạnh tâm.” (Cảm hoá lòng nhau) Ở đây, bông hoa mắc cỡ trở thành biểu tượng cho sự rụt rè, e ấp của tình yêu.

Thơ Như Mai giàu nhạc tính, dễ hát dễ nhớ. Vì vậy thơ Mai được khá nhiều nhạc sĩ đồng cảm, phổ nhạc (hơn 37 bài thơ phổ nhạc như: Phía bên kia hoàng hôn, Sài Gòn vào xuân, Anh tĩnh lặng gieo vần đắm đuối em, Qua một kiếp long đong, Kể cũng lạ, Nhiều khi, Ừ nhỉ! Mình chờ, Lau dòng nước mắt….). Nhịp thơ của Như Mai mềm mại, uyển chuyển, dễ ngân vang. Bài “Biết mấy cho vừa” là ví dụ tiêu biểu: vần bằng trắc xen kẽ, nhịp 2/2, 3/3 nhẹ nhàng, du dương. Ngoài ra, giọng điệu trong thơ chị cũng khá đa dạng: khi hóm hỉnh, châm biếm trong “Chuyện người ta”; khi dịu dàng, nữ tính trong “Anh hiền”; lúc triết lý, chiêm nghiệm trong “Thơ là gì ngàn lần em không biết”; rồi lắng đọng với nỗi da diết, buồn thương trong “Nhớ người”… Chính sự đa dạng ấy tạo nên sức hấp dẫn bạn đọc do vậy thơ Như Mai không đơn điệu, mà là một bản nhạc nhiều cung bậc. Phong cách thơ của Võ Thị Như Mai có thể nói: trữ tình mà triết lý, nữ tính mà lắng sâu, gắn bó với ký ức và quê hương, nhưng cũng cởi mở với hiện đại và xa xứ. Giọng thơ vừa dịu dàng vừa bản lĩnh, vừa gợi cảm xúc vừa khơi gợi suy tưởng cho người đọc…

Nếu Xuân Quỳnh là tiếng thơ của một tình yêu bùng cháy, dồn dập; Ý Nhi là giọng điệu chiêm nghiệm, tỉnh táo; Phan Thị Thanh Nhàn là sự dịu dàng, nữ tính; thì Võ Thị Như Mai có sự kết hợp: nữ tính đằm thắm với nhạc tính dạt dào và ngôn ngữ giản dị đời thường. Nhà thơ không tìm đến những biểu tượng lớn lao, không dùng quá nhiều ẩn dụ triết lý cầu kỳ, mà lấy cái nhỏ bé, đời thường để khắc họa cảm xúc. Đó chính là nét riêng, là sức mạnh của thơ Võ Thị Như Mai…

“Ừ nhỉ mình chờ” là một tập thơ giàu nữ tính và nhạc tính. Nó không chỉ là những lời tình yêu đôi lứa, mà còn là bản giao hưởng của tình mẫu tử, tình quê hương, của sự chiêm nghiệm nhân sinh. Ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, giọng điệu đa dạng và nhạc tính dạt dào đã làm nên sức hấp dẫn của thơ Võ Thị Như Mai. Đọc “Ừ nhỉ mình chờ”, ta bắt gặp một thế giới nội tâm phong phú của người phụ nữ hiện đại: yêu thương, mong manh, kiên cường và chan chứa tin yêu. Đó là tiếng thơ mãi sẽ còn đồng vọng, không chỉ trong lòng người đọc hôm nay, mà cả mai sau.

Tình Giang, tháng 9. 2025

L.B.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm