TIN TỨC

Thơ Thảo Vi và cội nguồn ánh sáng yêu thương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-21 18:43:11
mail facebook google pos stwis
668 lượt xem

TRẦN QUANG KHANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.

 

BÌA TAP THO - CHAM CHAM CHIEU.. (1)

 

Đã có biết bao những cảm nhận, tỏ bày tôn kính, tình yêu thương dành cho đấng sinh thành với mạch chảy dường như bất tận trên diễn đàn thi ca Việt. Có lẽ đề tài muôn thuở sẽ không có điểm dừng khô cạn mà mãi chảy tỏa như thanh âm rì rầm, vang vọng của tiếng suối trước miên viễn thời gian... Đó cũng là tiếng lòng, tiếng nói hồn nhiên nơi cảm thức của nhà thơ Thảo Vi qua hành trình sáng tác gần bốn thập kỉ của chị. Những tình cảm thiêng liêng cứ chứa chan, lặng lẽ ngấm vào con chữ, bên cạnh bao cảm xúc tình yêu, hoài niệm mái trường, nỗi nhớ quê hương... Từ tập thơ đầu "Nỗi nhớ mênh mông" (VN Châu Đốc, 1988) rồi lần lượt các tập thơ, tản văn tiếp sau. Cho đến tập thơ gần nhất "Chầm chậm chiều" (Nxb Đà Nẵng, 2022), thơ Thảo Vi vẫn đong đầy nghĩa cử sâu nặng yêu thương hướng về đấng sinh thành.

Nhà thơ Thảo Vi tên thật là Hồ Thị Huỳnh Đào, sinh năm 1958 tại An Giang. Chị là một nữ hiệu trưởng, nhà giáo đã hưu trí. Năm 1986, chị đoạt Giải Ba Cuộc thi thơ do Hội Văn nghệ An Giang phối hợp với Sở Giáo Dục- Đào tạo tỉnh tổ chức. Năm 2013, chị nhận “Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam” và năm 2020 được trao tặng thưởng Cuộc thi Thơ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Thơ Thảo Vi mang vẻ đẹp son sắt, trìu mến, dịu dàng từ một tâm hồn phụ nữ đầy hoài niệm, bao dung và thấu hiểu.

Người cha từ bao đời luôn là chỗ dựa vững chãi của gia đình. Vị thế mạnh mẽ ấy như để giúp các con bám giữ "chất lửa" giữa cuộc sống vốn nhiều chông gai, thử thách muôn trùng. Nhất là khi những đứa con thơ ấy bước vào biển cả cuộc đời... Bài thơ “Nhớ Ba” của chị phải chăng vì thế là tiếng lòng khắc khoải từ dòng hồi ức, chứa đựng sự tri ân "chất lửa" từ cha, với sự thổn thức, vang vọng đến tận hôm nay?

“Ba - người đàn ông có đôi tay tài hoa

Một tâm hồn nghệ sĩ

Và trái tim cả đời chỉ biết dành để yêu vợ, thương con…”

Cách dẫn vào đề trực diện, chẳng chút vòng vèo. Sự miêu tả ban đầu tựa như tác giả đang kể lại một câu chuyện, hay một trang nhật ký đời mình nhưng lại như mở ra những hình dung, suy ngẫm về sau.

“Bàn tay ba thả hồn vào những chiếc lá tơ non

Những cánh tròn cho nụ hoa chớm nở

Những cánh sen sắc hồng vàng tím đỏ

Đẹp lung linh"

Trong tâm cảm tác giả, mọi thứ vốn bắt đầu "Từ bàn tay cần mẫn của ba”... Cảm xúc mộc mạc, chân phương bởi lời tâm sự hồn nhiên, chân thật về một thời quá khứ của chính tác giả. Kỷ niệm thuở thiếu thời được nhìn ngắm qua đôi mắt con trẻ trong veo. Và được tô vẽ lung linh dưới lăng kính tưởng tượng đầy màu sắc. Câu thơ đọc lên tựa lời kể, tạo nét gần gũi với tâm hồn bạn đọc.

Biểu tượng "búp sen" rất giàu sức gợi. Dẫu mọc giữa bùn lầy sen vẫn thuần khiết, ngát hương như đã từ xa xưa trong cảm thức nhân gian. Sen là loài hoa thanh tịnh, cao quý, đài các... Sen hiện ra từ đôi bàn tay của cha thô nhám... Hay sen là đóa hoa nở giữa hồn người nghệ sĩ? Đoạn thơ giữa bài trôi theo những miền tưởng nhớ. Những kỷ niệm, những hình ảnh ngày xưa chợt hiện về trong tâm trí người con:

“Mắt không quên nhìn ba, từng nét vẽ...

Bàn tay ba thành thạo những điều mới mẻ

Những dây thiều, cây cốt, bánh xe

Cái đồng hồ… nhắc nhở tiếng thời gian trôi, trôi mãi…”

Âm điệu thơ thật tự nhiên, mênh mang, dễ gợi niềm hoài cổ cho những ai bồi hồi liên tưởng cái thuở gần gũi bên cha, bên mẹ. Được nghe lời răn dạy, tiếng vỗ về ủi an như khơi dậy, tái tạo thêm niềm tin yêu cuộc sống... Cách diễn đạt ấy mang yếu tố tự sự trữ tình. Giọng thơ ấm áp, thiết tha, lúc nào cũng ngụ ý gửi lòng yêu thương, kính phục người cha - "Ba làm nghề vì lẽ mưu sinh/Nhưng lương tâm người thợ ba đặt lên trên hết”... Mấu chốt để định hướng, đánh giá một người chẳng phải giàu hay nghèo vật chất, tiền của mà là nhân cách, lẽ sống với người thân, hành vi lao động nghề nghiệp cũng như cách cư xử với hàng xóm, cộng đồng. Nghề nghiệp nào cũng đáng tự hào, trân quý nếu ta dùng sự lương thiện và trong sạch để làm thước đo, lẽ tồn tại. Ở đời, chỉ ngại kẻ nghèo nhân cách, phẩm hạnh! Với cô con gái bé nhỏ ấy: Cha hiện lên trong ánh mắt tự hào.

Trong ký ức nơi chị, cha đã tự thân nghiên cứu, miệt mài "cứu chữa" cho những “vị thần thời gian” giữa màn đêm thinh lặng. Chỉ có thể cảm nhận, thấu hiểu với một sự chia sẻ lặng thầm:

“Đôi khi mồ hôi ba thấm vai

Trí óc ba không quen ngơi nghỉ

Đêm đêm bên ngọn đèn bình, tỉ mỉ

Ba cố tìm “căn bệnh” giữa những... lặng thinh”.

Chị nhớ người cha đã luôn chịu thương chịu khó, mày mò, tận tụy với nghề... Hơn thế nữa, chính sự thả mình vào lời ca tiếng hát mỗi đêm, với niềm đam mê trong sâu thẳm tâm hồn của ông giữa bao đau đáu, bộn bề... Những bài bản vắn, vọng cổ cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự thăng hoa, nét tài tử, nghệ sĩ toát ra từ người cha ấy... 

“Con nhớ ba, nhớ những tiếng tơ cứ lắng đọng, ngân nga

cung bậc bổng trầm âm vang đêm vắng

người thợ trải lòng qua khúc Phụng Cầu Hoàng, Nam Ai, Bản Vắn...

Ba hóa thành người Nghệ sĩ trong con!…

Ông không chỉ là người thợ tận tâm trong công việc đời thường mà còn là một nghệ sĩ tài hoa, đáng trân quý.

Ta từng nghe người xưa ví von: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”... Tình cảm bao la, đầy sự hy sinh của mẹ thật vô cùng thiêng liêng và sâu sắc dường bao. Người ta cũng thường ca thán "ôi lòng mẹ bao la hơn cả đất trời"... Nhà thơ Thảo Vi khi tuổi đã về đông, chợt ngồi lại nhìn về dĩ vãng. Để rồi chị ngẫm suy về “Dòng sông của mẹ”:

“Chẳng hiểu tự bao giờ

Con nước ngọt ngào ôm hai bờ sông Hậu

Chẳng hiểu tự bao giờ

Con sống trong lòng mẹ yêu dấu"

Một thoáng lắng sâu mơ màng, tác giả chợt băng mình chảy về nguồn thơ, chạm vào mạch sống mang tên: Mẹ. Bút pháp nghệ thuật đối lập như càng tô khắc đậm những cảm xúc thiết tha. 

“Mẹ cho con uống nước sông hiền hậu

Thay sữa mẹ cạn bầu”.

Đoạn thơ khai mở bởi dư vị của ấm nồng, ngọt ngào của dòng nước quê hương. Đó là những khúc hát ru êm ái được phả tâm hồn thương yêu vào đó, đưa tuổi thơ đi vào giấc ngủ, đồng thời cũng là khúc hát ru sóng sánh, long lanh thấm đượm nỗi niềm riêng, hay là nỗi ao ước khi nghĩ tưởng xa xôi hoặc có đôi lúc tự dưng bật ra những lời thổ lộ tâm tình... 

“Mẹ ru con nhịp sóng tròn yêu thương”

 

“Nhờ sông lồng lộng, nhờ câu ru hời

Thế rồi con lớn lên mau

Để nghìn năm vẫn là sông 

xuôi vào lòng mẹ mặn nồng lời ru...”

Tứ thơ thật lắng đầy. Đó là vẻ mênh mông, rộng lớn nhiều chiều kích của dòng sông vốn là hình ảnh ẩn dụ, ngụ ẩn những cung bậc cảm xúc, những ứng biến hóa thân vào dòng đời, những chặng đường thăng trầm của một đời phiêu dạt - bồng bềnh... Đó là dòng cảm xúc “nhớ mong” của sóng; cảm xúc trăn trở, xôn xao, bồn chồn “sóng vỗ trong lòng” khiến tâm tư trĩu nặng, xáo trộn, rối bời... Thậm chí dâng lên cao trào đỉnh điểm trong nhân cách hóa khi “nghe sông thở dài”. Thế rồi chất thơ từ cuộc đời vẫn dường như bất biến. Khổ cuối chợt biến tấu với thi ảnh đẹp chan hòa, gợi lên niềm lạc quan, trân quý cuộc sống. Một kì vọng đẹp, dịu dàng và đầy nhân hậu:

“...Mặt trời lên hẹn hò hai bến bờ

Dòng sông bỗng hóa thành thơ

Để ngàn năm vẫn vàng mơ lúa đồng

Để ngàn năm vẫn là sông…”

Ở bài “Quê hương mẹ”, ta như nghe lời thảng thốt, rung cảm tận đáy lòng của người con đã không còn gặp mẹ nữa giữa cõi trần này: "Từ khôn lớn con xa vòng tay mẹ/ Xa quê hương... ôi! nhung nhớ nào bằng”

Nỗi nhớ thật dịu dàng, da diết quá đỗi:

 

Nhớ đường làng, gian nhà nhỏ, bến sông trăng

Và mẹ hỡi, nhớ mẹ hơn tất cả

Mái tóc mẹ đẹp mây chiều mùa hạ

Chút thiên thần dìu dịu xuống hồn con

 

Và nhà thơ đau đáu một khi đọc được trong ánh mắt và cõi lòng người mẹ: Thương yêu - lo lắng - khắc khoải chờ trông...

“Sông nước quê ta bốn mùa vẫn chảy

Mắt mẹ buồn theo sóng nước mênh mông”

“Mắt mẹ triền thâm vạn thuở sầu”... Khép lại bài thơ là lời khuyên dạy con cái ăn ở hiền lành, không làm điều tổn thương kẻ khác, luôn giữ gìn những nhân hậu, tin yêu (Mẹ dạy con hiền ngoan như chim sẻ/ Yêu thật thà…). Người con hiếu kính ấy cũng đã có lời tâm nguyện với mẹ: "Mẹ hiền hỡi dù tháng ngày bóng xế/ Con cũng về sửa lại mái nhà xưa...

Cảm thức nhà thơ xuôi ngược theo cuộc hành trình ký ức, suy ngẫm để thấu hiểu, cảm thương cho mẹ. Và tình yêu ấy cứ mãi dạt dào, thiết tha theo quãng dài năm tháng.

 

Thao Vi 1 (2)

Nhà thơ Thảo Vi

 

Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.

Một thời đa truân, bộn bề nỗi vất vả, lo toan. Làm mẹ, rồi làm bà. Trải nghiệm bao ân nghĩa giữa cõi hiện sinh. Giờ đây, tác giả men theo lối nhớ tìm về những hình bóng cũ... Đời người có gì thiết tha sâu nặng hơn? Có gì lắng đọng bình yên hơn? Mỗi khi ta được trở về bên cha bên mẹ, trở về trong ánh sáng yêu thương.

T.Q.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm