TIN TỨC

Thơ Thảo Vi và cội nguồn ánh sáng yêu thương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-21 18:43:11
mail facebook google pos stwis
375 lượt xem

TRẦN QUANG KHANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.

 

BÌA TAP THO - CHAM CHAM CHIEU.. (1)

 

Đã có biết bao những cảm nhận, tỏ bày tôn kính, tình yêu thương dành cho đấng sinh thành với mạch chảy dường như bất tận trên diễn đàn thi ca Việt. Có lẽ đề tài muôn thuở sẽ không có điểm dừng khô cạn mà mãi chảy tỏa như thanh âm rì rầm, vang vọng của tiếng suối trước miên viễn thời gian... Đó cũng là tiếng lòng, tiếng nói hồn nhiên nơi cảm thức của nhà thơ Thảo Vi qua hành trình sáng tác gần bốn thập kỉ của chị. Những tình cảm thiêng liêng cứ chứa chan, lặng lẽ ngấm vào con chữ, bên cạnh bao cảm xúc tình yêu, hoài niệm mái trường, nỗi nhớ quê hương... Từ tập thơ đầu "Nỗi nhớ mênh mông" (VN Châu Đốc, 1988) rồi lần lượt các tập thơ, tản văn tiếp sau. Cho đến tập thơ gần nhất "Chầm chậm chiều" (Nxb Đà Nẵng, 2022), thơ Thảo Vi vẫn đong đầy nghĩa cử sâu nặng yêu thương hướng về đấng sinh thành.

Nhà thơ Thảo Vi tên thật là Hồ Thị Huỳnh Đào, sinh năm 1958 tại An Giang. Chị là một nữ hiệu trưởng, nhà giáo đã hưu trí. Năm 1986, chị đoạt Giải Ba Cuộc thi thơ do Hội Văn nghệ An Giang phối hợp với Sở Giáo Dục- Đào tạo tỉnh tổ chức. Năm 2013, chị nhận “Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam” và năm 2020 được trao tặng thưởng Cuộc thi Thơ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Thơ Thảo Vi mang vẻ đẹp son sắt, trìu mến, dịu dàng từ một tâm hồn phụ nữ đầy hoài niệm, bao dung và thấu hiểu.

Người cha từ bao đời luôn là chỗ dựa vững chãi của gia đình. Vị thế mạnh mẽ ấy như để giúp các con bám giữ "chất lửa" giữa cuộc sống vốn nhiều chông gai, thử thách muôn trùng. Nhất là khi những đứa con thơ ấy bước vào biển cả cuộc đời... Bài thơ “Nhớ Ba” của chị phải chăng vì thế là tiếng lòng khắc khoải từ dòng hồi ức, chứa đựng sự tri ân "chất lửa" từ cha, với sự thổn thức, vang vọng đến tận hôm nay?

“Ba - người đàn ông có đôi tay tài hoa

Một tâm hồn nghệ sĩ

Và trái tim cả đời chỉ biết dành để yêu vợ, thương con…”

Cách dẫn vào đề trực diện, chẳng chút vòng vèo. Sự miêu tả ban đầu tựa như tác giả đang kể lại một câu chuyện, hay một trang nhật ký đời mình nhưng lại như mở ra những hình dung, suy ngẫm về sau.

“Bàn tay ba thả hồn vào những chiếc lá tơ non

Những cánh tròn cho nụ hoa chớm nở

Những cánh sen sắc hồng vàng tím đỏ

Đẹp lung linh"

Trong tâm cảm tác giả, mọi thứ vốn bắt đầu "Từ bàn tay cần mẫn của ba”... Cảm xúc mộc mạc, chân phương bởi lời tâm sự hồn nhiên, chân thật về một thời quá khứ của chính tác giả. Kỷ niệm thuở thiếu thời được nhìn ngắm qua đôi mắt con trẻ trong veo. Và được tô vẽ lung linh dưới lăng kính tưởng tượng đầy màu sắc. Câu thơ đọc lên tựa lời kể, tạo nét gần gũi với tâm hồn bạn đọc.

Biểu tượng "búp sen" rất giàu sức gợi. Dẫu mọc giữa bùn lầy sen vẫn thuần khiết, ngát hương như đã từ xa xưa trong cảm thức nhân gian. Sen là loài hoa thanh tịnh, cao quý, đài các... Sen hiện ra từ đôi bàn tay của cha thô nhám... Hay sen là đóa hoa nở giữa hồn người nghệ sĩ? Đoạn thơ giữa bài trôi theo những miền tưởng nhớ. Những kỷ niệm, những hình ảnh ngày xưa chợt hiện về trong tâm trí người con:

“Mắt không quên nhìn ba, từng nét vẽ...

Bàn tay ba thành thạo những điều mới mẻ

Những dây thiều, cây cốt, bánh xe

Cái đồng hồ… nhắc nhở tiếng thời gian trôi, trôi mãi…”

Âm điệu thơ thật tự nhiên, mênh mang, dễ gợi niềm hoài cổ cho những ai bồi hồi liên tưởng cái thuở gần gũi bên cha, bên mẹ. Được nghe lời răn dạy, tiếng vỗ về ủi an như khơi dậy, tái tạo thêm niềm tin yêu cuộc sống... Cách diễn đạt ấy mang yếu tố tự sự trữ tình. Giọng thơ ấm áp, thiết tha, lúc nào cũng ngụ ý gửi lòng yêu thương, kính phục người cha - "Ba làm nghề vì lẽ mưu sinh/Nhưng lương tâm người thợ ba đặt lên trên hết”... Mấu chốt để định hướng, đánh giá một người chẳng phải giàu hay nghèo vật chất, tiền của mà là nhân cách, lẽ sống với người thân, hành vi lao động nghề nghiệp cũng như cách cư xử với hàng xóm, cộng đồng. Nghề nghiệp nào cũng đáng tự hào, trân quý nếu ta dùng sự lương thiện và trong sạch để làm thước đo, lẽ tồn tại. Ở đời, chỉ ngại kẻ nghèo nhân cách, phẩm hạnh! Với cô con gái bé nhỏ ấy: Cha hiện lên trong ánh mắt tự hào.

Trong ký ức nơi chị, cha đã tự thân nghiên cứu, miệt mài "cứu chữa" cho những “vị thần thời gian” giữa màn đêm thinh lặng. Chỉ có thể cảm nhận, thấu hiểu với một sự chia sẻ lặng thầm:

“Đôi khi mồ hôi ba thấm vai

Trí óc ba không quen ngơi nghỉ

Đêm đêm bên ngọn đèn bình, tỉ mỉ

Ba cố tìm “căn bệnh” giữa những... lặng thinh”.

Chị nhớ người cha đã luôn chịu thương chịu khó, mày mò, tận tụy với nghề... Hơn thế nữa, chính sự thả mình vào lời ca tiếng hát mỗi đêm, với niềm đam mê trong sâu thẳm tâm hồn của ông giữa bao đau đáu, bộn bề... Những bài bản vắn, vọng cổ cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự thăng hoa, nét tài tử, nghệ sĩ toát ra từ người cha ấy... 

“Con nhớ ba, nhớ những tiếng tơ cứ lắng đọng, ngân nga

cung bậc bổng trầm âm vang đêm vắng

người thợ trải lòng qua khúc Phụng Cầu Hoàng, Nam Ai, Bản Vắn...

Ba hóa thành người Nghệ sĩ trong con!…

Ông không chỉ là người thợ tận tâm trong công việc đời thường mà còn là một nghệ sĩ tài hoa, đáng trân quý.

Ta từng nghe người xưa ví von: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”... Tình cảm bao la, đầy sự hy sinh của mẹ thật vô cùng thiêng liêng và sâu sắc dường bao. Người ta cũng thường ca thán "ôi lòng mẹ bao la hơn cả đất trời"... Nhà thơ Thảo Vi khi tuổi đã về đông, chợt ngồi lại nhìn về dĩ vãng. Để rồi chị ngẫm suy về “Dòng sông của mẹ”:

“Chẳng hiểu tự bao giờ

Con nước ngọt ngào ôm hai bờ sông Hậu

Chẳng hiểu tự bao giờ

Con sống trong lòng mẹ yêu dấu"

Một thoáng lắng sâu mơ màng, tác giả chợt băng mình chảy về nguồn thơ, chạm vào mạch sống mang tên: Mẹ. Bút pháp nghệ thuật đối lập như càng tô khắc đậm những cảm xúc thiết tha. 

“Mẹ cho con uống nước sông hiền hậu

Thay sữa mẹ cạn bầu”.

Đoạn thơ khai mở bởi dư vị của ấm nồng, ngọt ngào của dòng nước quê hương. Đó là những khúc hát ru êm ái được phả tâm hồn thương yêu vào đó, đưa tuổi thơ đi vào giấc ngủ, đồng thời cũng là khúc hát ru sóng sánh, long lanh thấm đượm nỗi niềm riêng, hay là nỗi ao ước khi nghĩ tưởng xa xôi hoặc có đôi lúc tự dưng bật ra những lời thổ lộ tâm tình... 

“Mẹ ru con nhịp sóng tròn yêu thương”

 

“Nhờ sông lồng lộng, nhờ câu ru hời

Thế rồi con lớn lên mau

Để nghìn năm vẫn là sông 

xuôi vào lòng mẹ mặn nồng lời ru...”

Tứ thơ thật lắng đầy. Đó là vẻ mênh mông, rộng lớn nhiều chiều kích của dòng sông vốn là hình ảnh ẩn dụ, ngụ ẩn những cung bậc cảm xúc, những ứng biến hóa thân vào dòng đời, những chặng đường thăng trầm của một đời phiêu dạt - bồng bềnh... Đó là dòng cảm xúc “nhớ mong” của sóng; cảm xúc trăn trở, xôn xao, bồn chồn “sóng vỗ trong lòng” khiến tâm tư trĩu nặng, xáo trộn, rối bời... Thậm chí dâng lên cao trào đỉnh điểm trong nhân cách hóa khi “nghe sông thở dài”. Thế rồi chất thơ từ cuộc đời vẫn dường như bất biến. Khổ cuối chợt biến tấu với thi ảnh đẹp chan hòa, gợi lên niềm lạc quan, trân quý cuộc sống. Một kì vọng đẹp, dịu dàng và đầy nhân hậu:

“...Mặt trời lên hẹn hò hai bến bờ

Dòng sông bỗng hóa thành thơ

Để ngàn năm vẫn vàng mơ lúa đồng

Để ngàn năm vẫn là sông…”

Ở bài “Quê hương mẹ”, ta như nghe lời thảng thốt, rung cảm tận đáy lòng của người con đã không còn gặp mẹ nữa giữa cõi trần này: "Từ khôn lớn con xa vòng tay mẹ/ Xa quê hương... ôi! nhung nhớ nào bằng”

Nỗi nhớ thật dịu dàng, da diết quá đỗi:

 

Nhớ đường làng, gian nhà nhỏ, bến sông trăng

Và mẹ hỡi, nhớ mẹ hơn tất cả

Mái tóc mẹ đẹp mây chiều mùa hạ

Chút thiên thần dìu dịu xuống hồn con

 

Và nhà thơ đau đáu một khi đọc được trong ánh mắt và cõi lòng người mẹ: Thương yêu - lo lắng - khắc khoải chờ trông...

“Sông nước quê ta bốn mùa vẫn chảy

Mắt mẹ buồn theo sóng nước mênh mông”

“Mắt mẹ triền thâm vạn thuở sầu”... Khép lại bài thơ là lời khuyên dạy con cái ăn ở hiền lành, không làm điều tổn thương kẻ khác, luôn giữ gìn những nhân hậu, tin yêu (Mẹ dạy con hiền ngoan như chim sẻ/ Yêu thật thà…). Người con hiếu kính ấy cũng đã có lời tâm nguyện với mẹ: "Mẹ hiền hỡi dù tháng ngày bóng xế/ Con cũng về sửa lại mái nhà xưa...

Cảm thức nhà thơ xuôi ngược theo cuộc hành trình ký ức, suy ngẫm để thấu hiểu, cảm thương cho mẹ. Và tình yêu ấy cứ mãi dạt dào, thiết tha theo quãng dài năm tháng.

 

Thao Vi 1 (2)

Nhà thơ Thảo Vi

 

Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.

Một thời đa truân, bộn bề nỗi vất vả, lo toan. Làm mẹ, rồi làm bà. Trải nghiệm bao ân nghĩa giữa cõi hiện sinh. Giờ đây, tác giả men theo lối nhớ tìm về những hình bóng cũ... Đời người có gì thiết tha sâu nặng hơn? Có gì lắng đọng bình yên hơn? Mỗi khi ta được trở về bên cha bên mẹ, trở về trong ánh sáng yêu thương.

T.Q.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm