TIN TỨC

Tôn thờ mảnh hồn quê thô mộc mà thiêng liêng trong Vẽ nhớ”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-26 22:46:38
mail facebook google pos stwis
1263 lượt xem

TUẤN TRẦN

Tôi nhận được tập thơ đó ở một nơi mù sương, ngồi dưới hàng thùy dương ngắm hoa vàng mấy độ. Trời Đà Lạt ngày đông tháng giá vẫn quện hương mùa. Tôi đọc không "trật nhịp". Ấn tượng nội tâm đầu tiên với "Vẽ nhớ" là nét bút thấm đẫm hương quê vị quán. Giữ gìn, góp nhặt những động lay đời người nỗi lòng và tri âm thù tạc về kí ức bên những chốn lưu neo thân thiết của tuổi thơ đầy vị lá chanh, lá sả đượm trong những sợi tóc. "Vẽ nhớ” vẽ ra một thời/ không gian nhiều nhịp "lỡ”, nhiều những nhớ/ quên, quyện trong "mùi sữa thơm nồng”. Nhưng chẳng quên được cái đói nghèo tạo tác hồn thơ đóng cặn u bần: “Cái nghèo buộc con biết mặc niệm về hướng núi”

Thanh thoát, nhẹ nhàng, trầm tư, ưu nhã nhưng nhiều nỗi "bồn chồn": Nỗi bồn chồn mang tên Thanh Hoàng. Tâm sự lòng riêng của một hồn thơ chọn vị trí kẻ làm "con" để tạo tác cái đẹp "nén đau": "Cắm đũa thay nhang" gọi cha; trong "mê cung cung những nếp nhăn hằn sâu trên gương mặt mẹ"; hay phút giây "lật cửa sổ đề thơ cho hoa cho bướm" ghé nghe, đón nhìn,... Mẹ, cha, thầy cô, tâm hồn xa xứ,... tất cả đều "sướt mướt" giọt lệ nhân sinh nhưng tiếng thơ đồng vọng "ủi an" những phận đời, kiếp người đã sống được qua những tang tóc, những mục rỗng, giòn xốp, gánh ghì số phận, dọc đường đất nước chôn những "Cuống rốn” nỗi “trốn chạy ngang trời”.

Bọc sau lớp lang làng quê thanh bình yên ả, bờ tre mái rạ và những ngày tuổi thơ cắp sách tới trường là "vết sẹo dấu đuôi trâu". Là những gấp gáp, bức bối trốn tìm danh phận, mưu cầu đói no để một đôi lần được ngược đò “Đà Nẵng, Sài Gòn rủ nhau bốc vé” tìm về quê mẹ, trải ra trăm nhớ ngàn thương. Là một khung cảnh của dấu vết nỗi nhớ những tưởng lặng lẽ, mong manh mà rung rinh, cựa quậy dòng nhựa sống giữa chính tâm hồn đang lên sắc lên thì “Trong biếc suối đầu nguồn”. Phác thảo “Vẽ nhớ” đẹp “Như tình ta thưở ấy” bởi nhặt gom những “bình minh trong mưa”, chắt chiu nồng đượm để son sắt thủy chung với hiếu, tình và cả “nỗi thương mình”: "Mơ xứ người dẫu một mái nhà tranh/ Hai trái tim quê đã nhạt màu xóm trọ”. Những dòng thơ không phô diễn tính học thuật hay ý thức tĩnh lược câu từ để ra cái thô mạc, lối kể chuyện đủ tâm tình và thấm đau: “Chim dồng dộc xây nhà gửi con lời khiêu khích/ Con rón rén rời làng trăng xuyên vách gió”.

Giăng bày trong thơ là thói quê nếp cũ, những yên vui lặng lẽ, những nhịp đời thâm trầm, những loại/ hạng người bám neo nơi đồng xanh, quánh vắng. Họ mới thai sinh "Đã biết cúi rạp mình né đạn bom". Và rồi tất cả những góp nhặt sống sượng nơi những luống cày, bùn cát ngô khoai đã tạo nên một duyên thơ, duyên quê đẹp đẽ, thật thô mộc, thân quen rồi đến suồng sã “Tau- mày”. Và thật đắng đót chẳng mấy ngọt lành, thơm tho...Thơ mở cánh cửa lòng ăn bắt vào thế giới của tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, dạt dào yêu thương, trân trọng, thao thiết. Cuộc gặp gỡ xôn xao, dồn đọng, xót xa giữa người và quá khứ. Một ánh nhìn trìu mến đón lấy kí ức, nỗi nhớ giao hòa, quấn thít, phập phồng chìm lặn. Tình quê chứa chan và nỗi bồn chồn xa xứ quyện bện, tôn bồi và vun đắp cho nhau. Trước cái đau thương của đất nghèo, những phận bọt bèo trôi nổi là một tấm lòng dịu dàng, biết nâng niu, giàu chở che sẽ trở về thắm lại cô quán. Vẫn "nhớ quê mùi em thơm". Dẫu đã cán đứt tình xưa nghĩa cũ để: "Tình tang, ôi tình tan/Ta bỏ làng đi biệt/ Mùi trâu còn mãi miết". Rồi đã chênh chao, lỡ nhịp vì cánh hoa rung rinh, mơn mởn ban mai để "Rót mời em chén thơ" bao thổn thức một thời.

Chuyện quá khứ, nhớ thương nằm trong chuyện người đau. Chuyện về những khúc ngoặt, rẻ ngang cho bao cảnh cũ, người xa, những bứt lìa, mong mỏi. Thơ đã chạm khảm một nỗi tê buốt, rục rỗng tâm can kẻ "Nhón chân hóng cội nguồn/ Nhau con chôn ở đầu chuông nẩy chồi". Nỗi nhớ trên những bức vẽ thẩm ướt ăn ngấm dần lâu làm thân thêm bấy trần, mong manh chẳng đặng ngăn nổi cơn dâng ứa tàn tích để lại. Khóc cho một sự nên duyên mình có dịp hạnh ngộ, vội nắm tay nơi bờ dậu, bụi chuối rồi thân đày biệt xứ: "Cây tình toàn trái trái ngang trĩu mùa".

Vẽ mẹ, quê, tình thầy, nghĩa trò rồi tác giả vẽ mình với “giọt lặng thinh” sao bao thập kỉ phong trần/ nông sâu trâng trối trần ai... Những giọt lệ đã thôi ngưng giờ ủ rũ cay mắt mọng mi. Vẽ mình đã quên hết chuyện đời chỉ còn nhớ mẹ duy nhất. Vẽ mình đinh găm đậm đầy gót giày nhân sinh. Vẽ mình “Hóa Trang” thành “nước mắt, nụ cười” để hiểu đời mẹ “ngày cũng như đêm/ rất dài”. Vẽ mình tốt bụng lòng chẳng tỵ hiềm: "Ganh sao được với đứa/ Xưa vốn nghèo như mình”. Vẽ mình hòa vào chính nhánh sông, thảo thơm bất tận những tấm lòng...

"Vẽ nhớ" là tiếng khóc của người thả gánh vẫn ôm mang, cho người níu giữ những điều vương sót nơi vú mẹ "Dẫn đường tôm tép vào dòng sữa thơm". Điều chi khiến con người không thể lau xóa những "vết sẹo dấu đuôi trâu" dẫu đã nếm trải bao nhọc nhằn tha phương vẫn không thoát nổi nỗi sợ "ánh mắt mẹ buồn". Cái "tự vuốt mắt" xiết thấu oan khiên, nhói buốt nỗi tồn tục, dáng lưng chừng "ly nghiêng", hương nửa đời tuổi trẻ bên quê mẹ như "khói mây" vẫn dợn dạo trong tâm trí không "dây" nào thể neo buộc… Hình ảnh mẹ cố cự "níu núi rừng" mà "chắn gió bão để đừng lạnh con. Nhưng ai che chắn ngọn bấc để ngọn đèn mẹ gieo leo trước gió khỏi nỗi niềm hiu hắt? Hồn thơ đó đã dùng cả "tâm cơ" để chăm chút, tạo dựng vườn "Rằm" tỏa bóng hương người sau bao nhịp thổn thức, bâng khuâng một cõi riêng nhớ nằm trong dấu ngoặc để chú mục sự tha mang tình hiếu tử "(chắc cha mẹ mau quên nên chẳng một lần đòi).

Bức vẽ cuối cùng về nghĩa vợ tình chồng. Vẽ gia đình mái nhà nghiêng nghe mưa nắng. Vẽ lẽ ghét thương, trách “phận trai chìm nổi” thương phận gái tựa nương bên người chồng tiền đồ lúc nào cũng “xuống chó”. Giờ đã qua đi cái thời mạt rệp. Giọng thơ trở lại cái dân dã với phong cách sinh hoạt đời thường, lấy hình ảnh đề huề con cháu, vun vén niềm vui trên đôi bàn tay rưng rưng đặt vào chiếc nhẫn cưới lại từ đầu...Có chút “ngập ngừng”, “thẹn thùng” phảng phất trên thềm nhớ”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm