TIN TỨC

Trần Dần – Thơ cũng cần căn cước công dân

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-08-10 16:34:31
mail facebook google pos stwis
1610 lượt xem

Trần Dần – Thơ (NXB Đà Nẵng, 2008) có lẽ chỉ là một phần trong di cảo thơ khá đồ sộ của Trần Dần “đóng chai” gửi lại cho những người đến sau.

Nhà thơ Trần Dần (1926 -1997)

Những “chai thơ” này trôi nổi trên mặt biển thời gian, và có thể sẽ tấp vào bờ vào hoang đảo một ngày nào đó, theo đúng những quy luật của thủy triều, của sóng biển, của nhân thế. Trần Dần nói ông “có thể chờ”, nhưng rồi ông đã không thể chờ, và đã dứt áo ra đi trước khi những “chai thơ” này tới được với người đọc. Thơ Trần Dần không dễ đọc. Ông là nhà thơ cách tân muốn đi tới tận cùng những giới hạn của ngôn ngữ Việt, muốn “tháo dỡ” và “lắp ráp” ngôn ngữ Việt trong thơ theo nhiều kiểu nhiều cách để ngôn ngữ thi ca Việt có thể nói được nhiều nhất, đa chiều nhất, đa diện nhất và cũng đa thanh nhất. Mà có thể cũng không nói gì cả, vô thanh, vô sắc, vô diện. “Cuộc chơi thơ” này kéo dài hơn 30 năm, là cuộc chơi vãi máu, cuộc chơi đầy thương tích cho chính người chơi.

Mặc dù thơ chả bao giờ hại ai, chả hề làm khó ai hay khiến ai phải chết nghẹn bao giờ. Có thơ dễ đọc mà hay. Có thơ khó đọc vẫn hay. Có thơ mới đọc đã hiểu đã cảm thật là hay. Có thơ mới đọc hay đọc vài ba lần cầm bằng như chưa đọc cũng thật hay. Thơ dân chủ, nó có thể cố tình hoặc tình cờ đến với người đọc, nhưng nó cần người đọc. Người đọc chính là “Thượng đế” của thơ, nhưng không theo kiểu “khách hàng là Thượng đế”. Vì thơ không có khách hàng, chỉ có những người đồng cảm, những tri âm. Tôi không biết một nhà thơ thực sự có được bao nhiêu tri âm trong suốt cuộc đời làm thơ của mình. Với một nhà thơ như Trần Dần càng khó biết điều đó. Nhưng chắc là có. Thơ yêu cầu được đến với người đọc. Nó chả hại ai đâu, đừng lo ngại, đừng quá sợ nó! Vì lẽ ấy, tôi ủng hộ Nhà xuất bản (NXB) Đà Nẵng – một NXB địa phương đã dám “vì thơ” để in tập thơ di cảo này của Trần Dần.

Về nhân thân chính trị, Trần Dần đã được “giải oan”. Sự nghiệp văn học của ông cũng đã được nhà nước đánh giá lại đúng mức, và giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đã được trao cho ông như một hình thức truy tặng và vinh danh – dù hơi chậm. Nhưng chậm còn hơn không. Không phải là “hơn không” cho Trần Dần, mà “hơn không” cho chính chúng ta, những người biết rất rõ “Rằng tài nên trọng mà tình nên thương”. Nguyễn Bính hồi trước khi mất nghe nói cũng đã nghẹn ngào đọc câu Kiều này. Cả Nguyễn Bính và Trần Dần đều không thể chờ được sự phục hồi này, nhưng sự phục hồi công bằng cuối cùng rồi cũng tới. Vậy thì việc NXB Đà Nẵng hồi ấy bỏ công bỏ tiền (mà chưa chắc thu lại được đủ vốn, vì ai cũng biết thơ luôn là mặt hàng khó bán và cũng chẳng hy vọng thu lời) để in tập Trần Dần – Thơ, thì theo tôi đó là một hành động đáng khâm phục. Vậy là thêm một lần nữa, thơ được tôn vinh! Thơ vốn không mang lại cho nhà thơ và cả NXB những lợi lộc vật chất.

Nhưng nó lại có thể mang lại không chỉ cho nhà thơ, NXB mà cả quê hương của nhà thơ hay của NXB ấy những lợi ích vô giá về tinh thần, về tâm hồn, về nguyên khí. “anh có dám cả đôi vai, cả cuộc đời, gánh vác một ý kiến, một câu thơ? một đề xuất chân mây?” (Trần Dần – Thơ). Tôi cũng phải thú thật, tôi đã mất khá nhiều thời gian để đọc tuyển thơ này của Trần Dần mà không dám chắc mình đã lĩnh hội được gì nhiều. Thơ Trần Dần không dành cho những ai vội vã, những ai thiếu thời gian vì vô vàn những công việc những mục đích khác ngoài thơ. Nhưng hãy thỉnh thoảng “ghé vào” thơ ông, ta chợt như ngộ được một điều gì. Chỉ nhỏ nhẹ thế thôi, cũng đáng để ta “ghé vào” rồi.

Với những ai ủng hộ sự công bố tập thơ này, tôi tỏ lòng ngưỡng mộ họ. Với những ai còn dè dặt hay ngần ngại vì lý do “thơ này khó hiểu quá” tôi xin cam kết với họ rằng: “Anh (hay chị) cứ đọc đi, đừng mang theo bất cứ định kiến nào khi đọc, cứ hồn nhiên đọc, hồn nhiên vui hay buồn (buồn nhiều hơn) với từng câu thơ từng bài thơ đi, rồi thơ ấy từ từ sẽ “vào” sẽ “cư trú” trong anh (hay chị). Một cư trú có hộ khẩu, chí ít cũng là có “KT3″ hẳn hoi đấy!” Bây giờ ngành công an đã giảm thủ tục phiền hà khi thay hộ khẩu bằng căn cước công dân. Và tôi hy vọng, có căn cước công dân cho cả thơ nữa. Vì thơ Việt cũng là công dân Việt thôi mà! Mà không phải “công dân hạng hai hay hạng ba” đâu nhé!

***

Trần Dần (tên thật là Trần Văn Dần), sinh năm 1926 tại Nam Định, mất năm 1997 tại Hà Nội.

Một số tác phẩm tiêu biểu: Người người lớp lớp (Truyện dài – 1954); Nhất định thắng (Thơ – 1956); Những ngã tư và những cột đèn (Tiểu thuyết – 1964, xuất bản năm 2011); Bài thơ Việt Bắc (Trường ca – viết năm 1957, xuất bản năm 1990); Cổng tình (Thơ – tiểu thuyết – viết năm 1959 – 1960, xuất bản năm 1994); Trần Dần – Thơ (2008).

Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007 (truy tặng).

Giải Thành tựu trọn đời của Hội Nhà văn Hà Nội.

THANH THẢO

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm