TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Trần Ngọc Phượng với câu chuyện kể cảm động về hai bài thơ được viết trên đường ra trận

Trần Ngọc Phượng với câu chuyện kể cảm động về hai bài thơ được viết trên đường ra trận

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-06-09 15:22:09
mail facebook google pos stwis
5708 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Nhà thơ, Cựu chiến binh Trần Ngọc Phượng sinh năm 1945 tại Sài Gòn, quê quán Nam Định. Trong kháng chiến chống Mỹ, anh là Đài trưởng Vô tuyến điện Đoàn 814 Cục hậu cần B2. Anh làm thơ từ rất sớm, ngay từ những năm tháng tham gia chiến đấu ở chiến trường. Nhiều bài thơ được viết trên đường hành quân và có liên quan đến những địa danh, những con người người của một thời đạn lửa. Trong số đó có bài thơ: Dốc Năm CuaNgã Ba Cây Cầy được rất nhiều đồng chí, đồng đội của anh biết đến. Thời gian cứ trôi đi cùng với những biến cố thăng trầm của lịch sử, những chi phối của cuộc sống cá nhân tưởng những 2 bài thơ trên sẽ đi vào quên lãng. Nào ngờ, ngày họp mặt vào cuối tháng 4/2015, Trần Ngọc Phượng được chính người đồng đội của mình là Đỗ Thanh Hà trao lại bản chép tay bài thơ trên mà Trần Ngọc Phượng gửi anh của hơn 40 năm trước...

Sau ngày đất nước hòa bình, Trần Ngọc Phượng chuyển ngành về công tác tại TP. Hồ Chí Minh. Hiện anh đã về hưu, Hội viên Cựu Chiến Binh, Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.


Nhà thơ Trần Ngọc Phượng và tác giả bài viết

Năm 1971, Đoàn 814 thuộc Cục Hậu cần B2 được thành lập trên cơ sở sáp nhập Đoàn Hậu cần 81 và 84. Trần Ngọc Phượng là người chiến sĩ trực tiếp tham gia Đoàn 814. Anh đã đi qua những năm tháng gian lao của cuộc chiến lại là người chiến sĩ có tâm hồn thơ ca nên những điều gì xảy ra trên đường hành quân cũng đều để lại cho Trần Ngọc Phượng những rung cảm. Trong thời khắc khó khăn, ác liệt nhất ở chiến trường mà Trần Ngọc Phượng vẫn dành tình yêu với thơ ca, chép vội trên giấy pơ luya... để ghi lại cảm xúc của mình với những người đồng chí, đồng đội và cả với những điều anh chứng kiến trên đường hành quân. Điều ấy thật đáng trân quý biết nhường nào!

Trên đường hành quân, phải di chuyển đến nhiều nơi nên mọi khó khăn, thách thức đè nặng trên vai của người chiến sĩ. Đặc biệt là những năm tháng cuộc chiến tranh ở vào giai đoạn ác liệt nhất. Vậy mà Trần Ngọc Phượng vẫn âm thầm ghi chép, vẫn lặng lẽ làm thơ. Những nơi anh và đồng đội đã đi qua, những địa danh, tên đất, tên làng... đi vào thơ anh một cách tự nhiên, hồn hậu. Trong tất cả những nơi đã đi qua, có 2 địa danh được Trần Ngọc Phượng nhắc đến ở 2 bài thơ: Ngã ba Cây Cầy (1973), Dốc Năm Cua (1974) để ca ngợi các chiến sĩ vận tải. Ngã ba Cây Cầy, Dốc Năm Cua là những điểm mốc quan trọng mà bất cứ người chiến sĩ nào đi qua cũng đều ấn tượng và không thể nào quên. Hai bài thơ này đã trở thành dấu mốc quan trọng và có nhiều điều đặc biệt hơn so với những bài thơ khác sáng tác trong thời điểm này. Người chiến sĩ Trần Ngọc Phượng đã trực tiếp ghi lại những cảm xúc của mình với những người đồng đội, chiến sĩ đã đi qua trên những những cung đường đầy hiểm nguy ấy.

Trần Ngọc Phượng bồi hồi nhớ lại: “Khi viết xong Ngã ba Cây Cầy Dốc Năm Cua tôi gửi ngay bản chép tay cho bạn mình là Đỗ Thanh Hà (lúc đó là nhân viên quân giới ở Đoàn bộ) để góp ý, sửa chữa và đăng báo tường. Liền sau đó là cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bận rộn với công việc nên tôi cũng quên đi. Mấy chục năm sau khi về hưu, tình cờ gặp lại anh Hà đã trao lại cho tôi bản chép tay ngày xưa mà tôi gửi anh sửa chữa, góp ý để đăng báo tường. Tôi vô cùng xúc động, nghẹn ngào không ngăn được nước mắt khi nhận lại tờ giấy pơ luya chép tay thơ đã mấy mươi năm mà anh Hà vẫn còn giữ để trao tận tay cho mình”. Niềm vui vỡ òa cùng với đó là những kỷ niệm một thời đạn lửa, nhọc nhằn ùa về. Tôi đem về và vội đánh máy gửi 2 bài thơ trên để gửi đăng báo. May mắn thay cả hai bài Ngã ba Cây CầyDốc Năm Cua được đăng trên Báo Quân đội nhân dân và Báo Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh. Điều đáng nói ở đây là 2 địa danh trên là do chính những người chiến sĩ đi qua cung đường này và tự đặt. Và trong số đó có người đã hy sinh, số còn lại có người không còn biết cụ thể 2 địa danh đó giờ nằm ở vị trí nào bởi thời gian và sự thay đổi... May thay, khi đọc được 2 bài thơ này đăng báo, những người đồng chí, đồng đội của Trần Ngọc Phượng đã cung cấp thêm tư liệu và thông tin cụ thể về 2 địa danh trên. Vẫn còn những nhân chứng sống, biết và kể chi tiết về Ngã ba Cây Cầy và Dốc Năm Cua. Nhờ thế, mà việc tìm hài cốt đồng chí, đồng đội cũng có phần thuận lợi hơn.

Dốc Năm Cua Ngã ba Cây Cầy đã trở thành dấu mốc quan trọng trong những năm chiến tranh và cả trong những năm tháng hòa bình. Nhiều đồng chí, đồng đội của anh đã qua đây có người đã vĩnh viễn nằm lại nơi này. Để rồi, sau ngày đất nước hòa bình người ta đã về lại những nơi này để tìm/ lấy hài cốt những liệt sĩ đã hy sinh.

Dốc Năm Cua nằm trên cung đường qua lộ Trần Lệ Xuân, ngầm Mã Đà, sân bay Rang Rang (nay thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) xuống sông Đồng Nai. Dốc này rất cao, có nhiều khúc cua gắt, anh em gọi là Dốc Năm Cua. Anh Đinh Văn Long, lái xe của Đại đội vận tải V21 (Đoàn 814) kể rằng: “Anh em dùng xe REO của Mỹ. Xe cũ, phanh hỏng. Mỗi lần lên dốc phải gài số 1, thả tời buộc vào gốc cây cho xe bò lên từng đoạn. Mùa mưa đường trơn, nhiều lúc xuống dốc xe trôi tự do, nhiều lần lật xe. Không những thế còn thường xuyên bị địch thả pháo sáng, ném bom và tập kích bằng pháo bầy. Nhiều anh em đã hy sinh ở đây”.

Còn Ngã ba Cây Cầy nằm ở Cánh 1 phục vụ các đơn vị thuộc khu vực Thủ Dầu Một. Trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, Đại đội V21 chở hàng từ Bình Cơ (nay thuộc xã Bình Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) xuống Phước Vĩnh (nay là thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương) để phục vụ cho Sư đoàn 7 đánh Chơn Thành, Hớn Quản (nay thuộc tỉnh Bình Phước), lập nên những chiến công vang dội, được báo chí ca ngợi, nêu kỷ lục 150 này đêm chốt chặn bám trụ kiên cường trên đường 13.

Anh Đặng Đường, nguyên Trợ lý Tiểu đoàn 6 (Đoàn 814) kể một cách rành mạch chuyện tìm mộ liệt sĩ ở Ngã ba Cây Cầy: “Tháng 9/1974, có 6 anh em của Tiểu đoàn 6 và 2 lái xe của Đại đội V21 vận chuyển hàng trên chiếc xe GMC đã hy sinh ở đây khi trúng mìn của địch. Chính tôi và một số anh em đồng đội khác đã chôn cất các anh em vừa hy sinh tại Ngã ba này (nằm trên địa phận xã Tân Lập, huyện Phú Giáo, Bình Dương)”. Chiến tranh kết thúc, cảnh vật nơi đây đã thay đổi. Ngã ba Cây Cầy giờ đây đã không còn vết tích, thay vào đó là rừng cao su bạt ngàn. Thế nhưng anh Chính, một cựu chiến binh ở địa phương vẫn còn nhớ và dẫn mọi người đến bãi cỏ, chỉ chính xác nơi chôn cất các anh em. Và địa phương đã khai quật đưa hài cốt các chiến sĩ về Nghĩa trang Liệt sĩ Đồng Xoài. 4/8 người đã có bia ghi tên họ, còn 4 người chưa xác định được tên. Anh Đường nói thêm: “Đêm đó, chúng tôi an táng các anh trong ánh pháo sáng cầm canh của địch nên không bỏ được lọ penicillin ghi tên tuổi, đơn vị, quê quán”.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Hân, nhân viên quân nhu Đoàn 814 ở Cánh 1 cho biết: “Cũng tại nơi này, chiếc xe chở gạo và anh chị em về họp chi bộ cũng bị địch phục kích bắn cháy. Nhiều anh chị em trên xe đã hy sinh...”.

Sau hơn 40 năm, qua bao nhiêu biến cố, thăng trầm của lịch sử, của bản thân nhưng Trần Ngọc Phượng vẫn còn may mắn nhận lại được bản chép tay thơ trên giấy pơ luya viết vội của chính mình từ người đồng đội Đỗ Thanh Hà. Kỷ vật tinh thần mà anh cố gìn giữ cẩn thận cho đến ngày hôm nay.

Cầm trên tay bài thơ anh chép trên giấy đã ngã màu thời gian mới thấy được tình yêu thơ và sự trân quý đặc biệt của người chiến sĩ Trần Ngọc Phượng dành cho bạn bè, đồng chí, đồng đội của mình. Càng đáng quý hơn nữa là người đồng đội Đỗ Thanh Hà vẫn gìn giữ cẩn thận bài thơ chép tay của bạn trong mấy mươi năm và trao lại tận tay cho chính tác giả.

Nhà thơ nhận ra cái chân lý sâu xa trong những điều giản đơn, bình dị, gần gũi, ấm áp, nghĩa tình từ cuộc sống bằng cảm quan riêng của người giàu sự trải nghiệm.

Giờ đây, sau gần 50 năm đất nước hòa bình, những người may mắn như Trần Ngọc Phượng vẫn còn sống đó là điều vô cùng hạnh phúc. Ngày họp mặt Sư đoàn, bao ký ức thuở nào lại ùa về, nhà thơ Trần Ngọc Phượng hồi tưởng: Hồi ấy lính tụi mình trẻ lắm/ Vượt Trường Sơn sốt rét xanh rờn/ Vào sư đoàn mang tên lạ lẫm/ Công trường 5, đất đỏ miền Đông// Núi Mây Tàu lá reo suối hát/ Buổi xuất quân đánh Võ Đắc, Ông Đồn/ Đêm rừng Lá nghe chân voi rậm rịch/ Tiếng pháo bầy, bom tọa độ nổ dồn// Ngày giặc càn đói quay đói quắt/ Hái măng le, đào củ chụp thay cơm/ Bên miệng hầm võng mắc chung một cọc/ Điếu thuốc rê chia nhau hút xoay vòng// Rồi đến trận Long Tân, Núi Đất/ Đường trượt trơn úp lật bàn chân/ Tiểu đoàn mình vơi đi gần hết/ Xác đến nay đồng đội vẫn đang tìm.

Những năm tháng gian lao mà hào hùng ấy đã trở thành niềm tin yêu bất diệt cho những người may mắn còn sống đến hôm nay. Anh trân trọng, kính phục và dành tình yêu thương vô hạn với những người đã khuất.

Trần Ngọc Phượng không giấu nổi những cảm xúc nghẹn ngào khi nghĩ về những người đồng chí, đồng đội của mình đã ngã xuống ở khắp các chiến trường. Sau mấy mươi năm đất nước hòa bình nhưng có người đến hiện tại vẫn chưa tìm được hài cốt. Đó cũng chính là nỗi đau đến khôn cùng của những ruột thịt và cả những người đồng chí, đồng đội như anh.

Sau ngày đất nước hòa bình, dù bận nhiều công việc nhưng Trần Ngọc Phượng vẫn dành thời gian để làm thơ, viết văn. Anh xem đó như là thú vui tao nhã, là sự tri ân với bạn bè, đồng chí, đồng đội một thời khói lửa... Và nhất là từ lúc nghỉ hưu đến giờ, Trần Ngọc Phượng có nhiều thời gian hơn để anh ngẫm ngợi, suy tư và cho ra đời những tác phẩm mới. Trần Ngọc Phượng có dịp thủ thỉ, tâm tình, chuyện trò, giãi bày những nỗi niềm sâu kín của lòng mình, thế hệ mình về một thời đã qua và cả những điều đáng nói hôm nay.

Năm tháng cứ trôi đi, năm tháng khác lại về; những ngày tháng cũ và cả những tháng năm của hiện tại, của tương lai... có điều gì đó giăng mắc, có điều gì đó làm cho Trần Ngọc Phượng rưng rưng:

Tháng Bảy/ Tri ân/ Những người đã mất/ Nhớ bạn xưa/ Đói rừng quay quắt/ Mâm cỗ cao đầy/ Gọi nhau về họp mặt/ Những linh hồn/ Uẩn khuất bốn phương/ Hãy về đây/ Phán xét/ Bao dung (Tháng Bảy).

Điều đặc biệt ở Trần Ngọc Phượng là anh làm thơ từ những năm tháng tuổi trẻ, ấn tượng và đáng trân trọng là anh ghi lại trực tiếp những cảm xúc, suy ngẫm thành thực ngay ở chiến trường. Nhưng mãi đến lúc nghỉ hưu, Trần Ngọc Phượng mới chính thức công bố các sáng tác của mình.

Cho đến thời điểm này, Trần Ngọc Phượng đã in 5 tập thơ (Vầng trăng ký ức, Nắng và Gió, Hồn tóc, Tiếng vọng, Sóng đời) và 1 tập Ký - Tản văn (Tìm dấu chân xưa).

Xin giới thiệu 2 bài thơ Ngã ba Cây CầyDốc Năm Cua được Trần Ngọc Phượng viết vào năm 1973, 1974.
 

Ngã ba Cây Cầy

Tặng đồng đội  Đoàn vận tải 814
 

Đường phía trước qua ngã ba này

Cứ yên tâm có cây cầy chỉ lối

Cành tán xòe như bàn tay vẫy gọi

Lòng bồi hồi nghe tiếng lá reo

 

Vào chiến dịch quân nối theo nhau

Đường vận chuyển ầm ầm thác đổ

Cái ngã ba là nơi gặp gỡ

Những bàn chân mang bụi đất trăm miền

 

Đã bao lần xe ta vượt lên

Nơi trọng điểm pháo bầy bom giội

Thương thân cây máu tuôn nhựa xối

Vẫn hiên ngang đứng vững giữa trời

 

Bao buồn vui trên chặng đường dài

Ta lấy nơi đây làm điểm mốc

Bao nét mặt lầm lỳ gan góc

Sáng bừng lên trong chớp lửa chập chờn

 

Dù nơi đây cây cỏ chẳng còn

Cái ngã ba không bao giờ đổi hướng

Khi tim ta đỏ hồng máu nóng

Lửa chiến công giục giã vòng quay

 

Đêm tiền phương lấp lánh sao mai

Có phải mắt em nhìn anh đấy

Cả hậu phương dồn trong tay lái

Anh sẽ đi tới đích đưa hàng

 

Qua đây rồi thấy đất mở mênh mông

Hạnh phúc em ơi! Ta đã thắng

Từ ngã ba đầu làng em đưa tiễn

Anh đã đi giữ trọn niềm tin

 

Anh đã cùng đất nước đi lên

Trong cuộc đời có trăm ngàn bước ngoặt

Em biết không? Mùa xuân đang hát

Từ ngã ba này đi tới tương lai.

1973

 

Dốc Năm Cua

Tặng anh em Đồng đội Đại đội vận tải Đoàn 814 - B2
 

Nào xong chưa

Ta vượt Dốc Năm Cua

Hơi thuốc cuối sáng mặt

người bình thản

dốc dựng đứng 

che vầng trăng sáng

Xe ta vào khoảng tối đêm trăng

Hồi hộp rồi sẽ qua nhanh

Đừng ngợp mắt

trước độ cao chót vót

Khi xe vào cua một

Máy reo ta hiểu sức mình hơn

 

Mới cua đầu mà sao chênh vênh

Xe mấy lần leo lên trượt xuống

Ánh đèn quét

trên vũng lầy loang loáng

Vết xe ai tụt dốc còn hằn

 

Cua Hai chẳng kém gian nan

Nhưng quen rồi

sẽ không khó nữa

Bàn tay anh lái xe như múa

Qua khung sàng

nhảy nhót những hạt sao

Có gì yên đâu?

Cái yên tĩnh trong nhịp tim ta đó

 

Khi xe nghiêng qua miệng

hố bom nham nhở

Khoảng cách hai vực sâu

là sự sống con đường

Từ trong đêm mênh mông

Thơ bật sáng trăm ngàn ý đẹp

 

Còn anh lái xe

Chỉ nhìn lên phía trước

 

Nơi những bánh xe

tự tin gan góc

Đang lăn qua điểm

chạm chí anh hùng

Trên đỉnh đầu

thoáng ánh trăng soi

 

Qua Cua Ba rồi

xin đừng sốt ruột

Cơn gió lạnh kéo dài đỉnh dốc

Tỉnh táo xe ơi!

Từng nấc bám dần lên

 

Cua Bốn, Cua Năm

Vòng ngoặt sát liền

Nhớ chỗ này, tăng ga sang số

Xe chồm lên dập dồn hơi thở

Như tung mình

                     trong tư thế xung phong

 

Chỉ chút nữa thôi

Niềm vui như ánh trăng rực rỡ

Sẽ ùa ra từ ánh mắt thâm quầng

 

Đất quê ta đèo dốc chon von

Đường phía trước

                  bom cầy đạn cấy

Cánh hậu cần xòe ra rộng mãi

Từ con đường vận chuyển

                             Dốc Năm Cua

                                 11/ 1974

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm