TIN TỨC

Triệu Kim Loan – nỗi mình bộc bạch cùng trăng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-10 17:51:46
mail facebook google pos stwis
909 lượt xem

“Triệu Kim Loan - nỗi mình bộc bạch cùng trăng” – một bài viết chân thành, giàu rung cảm của Ngô Minh Oanh về tập thơ "Chữ gọi mùa trăng" của Triệu Kim Loan.
Giữa bao đổi thay, thơ chị vẫn giữ được vẻ đẹp dịu dàng và nghị lực sáng trong của một tâm hồn biết yêu và biết tin.

NGÔ MINH OANH

(Về tập thơ Chữ gọi mùa Trăng của Triệu Kim Loan – NXB Hội Nhà văn, 2025)  

Tập thơ Chữ gọi mùa Trăng của là tập thơ thứ 7 của Nhà thơ Triệu Kim Loan. 5 năm kể từ tập thơ đầu tiên (2020) của chị ra đời là một sự nỗ lực lớn của chị,một quá trình trăn trở, chiêm nghiệm và trưởng thành cùng thơ. Đọc 54 bài thơ của chị trong tập thơ này, chúng ta thấy một Triệu Kim Loan còn hiện hữu với bút pháp truyền thống nhưng đã có một cách nói khác, mạnh mẽ hơn, hết mình hơn với những nỗi niềm nhân thế và nỗi niềm của chính mình. Bao người băn khoăn “nỗi niềm biết tỏ cùng ai”, nhưng với chị, nhà thơ Triệu Kim Loan đã có một điểm tựa, mượn trăng và cùng trăng để gửi gắm, bộc bạch những nỗi niềm riêng của mình.


Nhà thơ Ngô Minh Oanh chia sẻ bài viết về "Chữ gọi mùa trăng"

Thấm thoắt thoi đưa, người thơ đã bước sang bên kia dốc cuộc đời, hạnh phúc, niềm vui, đắng cay đã trải và giờ đây mới có thời gian gian để nhìn lại, chiêm nghiệm cuộc đời để gửi gắm những vần thơ chân thật cùng trăng. Qua dặm dài đời sống, nhà thơ đã thốt lên: “Em đã gieo cạn yêu thương lên cánh đồng gió chướng” (Chữ gọi mùa Trăng); trên con đường đi đó, “Tôi vừa va phải góc buồn/Cả đêm đợi nắng mà thương nỗi mình.” (Góc buồn), rồi “Phù sa ủ hạt/Nỗi buồn ủ tôi.(Họa mi). Nhà thơ độc thoại với chính mình: “Trái tim đau không tự vá nỗi mình/Em đã yêu thật vội/Uống say mềm/Giọt mật của dối gian (Độc thoại). Và rồi, đôi khi nhà thơ lại ngơ ngác giữa cuộc đời vô thường: “Bồng bềnh một dải tóc mây/Chân ngày vừa cạn đã đầy bóng đêm.” (Tình vọng phu). Nhà thơ tự hỏi: “Nhớ đã rêu sao đắng chát vị đời” ? (Phượng tím). Nhà thơ cũng nhận ra mình với một trái tim yêu đa cảm: “Thanh xuân dâng trọn giấc ngoan/Dại yêu đau mới thắt ngang tim mình.”(Lỗi hẹn). Thương lắm người thơ khi chị bộc bạch: “Người ta ta khuê các thanh tao/Lẽ loi tôi vẫn má đào một tôi…(Chuyến đò tìm lại), “Chút son môi không đủ từ trường”(Hồng gai),hay “Một đời tròn sóng vỗ chơi/Mặt trời treo ngược phía đời lấm lem/Em như sáo trúc bỏ quên/Cứ ai vuốt phải là mềm ngân rung.(Thương em).

 Là phụ nữ, người mẹ, người vợ chị đã nhẫn nại, kiên cường để vượt qua bao nghịch cảnh, để mà vui sống, để mà hy vọng dẫu cuộc đời và cũng chính là con đường văn chương, thơ ca phía trước vẫn còn gian nan, vời vợi: Một ngày lật giở từng chương/Thấy mình tóc bạc, thấy đường còn xa.(Viết trong đêm mưa). Một sự nhẫn nại vô bờ của người viết: “Em giấu lửa tim mình vào cô đơn lặng lẽ”(Giấu lửa tim mình); “Đàn con khôn lớn tuổi đầy/Bồ hòn hóa ngọt mẹ dày dặn vui.(Trớ trêu); “Em gieo thầm mắt gió tự mình xanh”(Chữ gọi mùa trăng).

 Người thơ vẫn không thôi hy vọng: Ngực trăng khao khát giấc đêm/Muôn sao tỏa nắng xuống thềm nhân gian.(Hương quê); Giọt nắng nào run rẫy/Ép vàng tuổi em trăng/Em buông lơi mái tóc/Đợi nguyệt lên tròn rằm.(Góc nhớ); Đơn buốt em/Khao khát một ánh rằm.(Lặng lẽ hoa). Và điểm tựa của Nhà thơ không chỉ là Trăng/Nguyệt mà chị còn một điểm tựa tưởng như mong manh mà đầy vững chải: Trống rỗng đời – em níu thơ/Xin Trời phát mãi thêm mùa gió non.(Đúng – sai). Bởi thế mà, sau hết, với Triệu Kim Loan vẫn giữ được một niềm tin yêu vui sống, với chị dù cuộc đời có muôn vàn biến động, thì chị vẫn luôn: “Tin yêu nhé nhụy đời ươm mật/Em hẹn lòng xanh mãi – dốc mùa – xanh.”(Dốc mùa xanh).

Tập thơ Chữ gọi mùa trăng của Triệu Kim Loan không chỉ có những bài thơ giãi bày nỗi mình, mà còn có nhiều bài thơ đề cập đến các chủ đề khác. Những bài thơ viết về nỗi mất mát hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những người ngày đêm bảo vệ biển đảo quê hương như: Đợi anh, Tìm em ngày thống nhất, Mẹ cầu hương linh, Thăm nhà tù Côn Đảo, Những người nằm lại đồi A1, Thắp nắng lòng người. Những bài thơ viết về thiên tai gây mất mát đau thương cho con người: Làng Nủ, Rừng khóc. Nhiều bài thơ viết về tình yêu quê hương, đất nước ra đời theo bước chân của nhà thơ đến nhiều vùng đất. Với những bài thơ về chiến tranh, nhà thơ đau đáu với miềm thương nỗi nhớ, nỗi mất mát, hy sinh của những người chiến sỹ: Những nắm xương rời vẫn nằm im trong màu xanh áo trận.(Những người nằm lại đồi A1). Với thiên tai, bài thơ Làng Nủ đã làm lay động lòng người: Con nằm trong đất/Sâu lắm mẹ ơi/Ước gì cỏ mật/ Nâng con lên trời.(Làng Nủ). Những bài thơ ca ngợi quê hương, đất nước, mới nghe tên thôi đã bồi hồi, thân thiết đến nhường nào: Bóng phượng, Men say Mù Cang Chải, Trổ biếc quê hương, Duyên đầu hạ, Hương quê, Giấc quê… “Dịu dàng bông bưởi vườn quê/Hương đồng ngát cả triền đê gió đùa/Nắng nghiêng thả giọt thêu thùa/Mộc miên thắp lửa gọi mùa tháng Ba.(Hương quê). Một bức tranh làng quê thật đẹp và đáng yêu làm sao !

 Tập thơ Chữ gọi mùa trăng của nhà thơ Triệu Kim Loan, như nhà văn Kao Sơn đã viết: “Đã bớt đi những cảm nhận trực diện. Nhiều hình tượng được xây dựng chọn lọc và đa diện hơn. Những biến ảo của câu chữ, hình tượng và có cả những xô lệch của kết cấu và phương pháp tiếp cận đã xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều.” Bởi thế chúng ta dễ dàng tìm được nhiều câu thơ hay, diệu ảo trong Chữ gọi mùa trăng như: Heo may bung lụa trắng ngần/Áo đêm mở khẽ dưới chân vườn chờ (Họa mi), Tôi giờ như đã nhạt tôi/Bảng đen đang vẽ những lởi phân vân(Góc buồn); Núi bồng bềnh điều ước/Nhớ đã rêu sao đắng chát vị đời(Phượng tím)…

 Mặc dù vẫn còn một vài bài cách thể hiện chưa thật mới (Tìm em ngày thống nhất, Những người nằm lại đồi A1…), một số từ dùng còn quen thuộc, khó hiểu (nhuộm tình anh đến tím; mưa đan hiền uyên nguyên; tưới lên cằn cỗi mà tươm nồng nàn; cánh cò mềm cõng nắng rong chơi…), nhưng trên hết, tập thơ Chữ gọi mùa trăng là một tập thơ hay, chững chạc, người viết có nhiều đổi mới, vượt lên chính mình để chinh phục người đọc.

 Chúc mừng nhà thơ Triệu Kim Loan với Chữ gọi mùa trăng và tiếp tục chờ đợi những tập thơ tiếp theo của chị.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 9 năm 2025

N.M.O

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm