TIN TỨC

Trong “Thời nắng xanh…” của Trương Nam Hương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-26 15:27:13
mail facebook google pos stwis
11715 lượt xem

CHÂU HỒNG THỦY(*)

Bạn có thấy điều gì đặc biệt khi nhìn ảnh chân dung Trương Nam Hương, cũng như khi Hương chụp ảnh chung cùng bè bạn? Ấn tượng nhất trong tôi là đôi môi của Hương luôn nở nụ cười - nụ cười hiền, tự nhiên, trong trẻo. Dù đứng giữa, hay đứng cạnh, nụ cười của Hương như tỏa sáng cho toàn bức ảnh. Cho đến khi gặp Hương ở ngoài đời thực, dẫu lúc ấy Hương không còn trẻ nữa, tôi thấy nụ cười anh vẫn tươi tắn, hiền hậu trẻ trung như thưở đôi mươi.

Đọc thơ Trương Nam Hương đã từ lâu, thỉnh thoảng tôi lại được bạn học cùng lớp là nhà thơ Vũ Xuân Hương kể về người bạn, người em thân thiết cùng tên với anh. Tại Đại hội Nhà văn lần thứ X (tháng 11 năm 2020) ở Hà Nội, Vũ Xuân Hương dẫn tôi đến gặp Trương Nam Hương và nhà thơ Bùi Phan Thảo từ Sài Gòn ra. Ngay lần đầu tiên tiếp xúc, đã thấy cả hai bạn đều hiền hậu, dễ gần, chúng tôi trò chuyện với nhau cởi mở như những người thân lâu ngày gặp lại. Ở Trương Nam Hương luôn toát lên vẻ mềm mỏng, nhẹ nhàng thanh lịch, làm tôi chợt nhớ đến câu thơ Hương viết về vùng Kinh Bắc quê ngoại của anh:“Vẻ thanh thoát nét hào hoa của trúc/ Cũng nói lên cốt cách của làng”. Đọc hết tập thơ “Thời nắng xanh và những bài thơ khác” mà Trương Nam Hương vừa gửi tặng, tôi thấy con người ngoài đời và con người trong thơ Hương như là một hệ quả tất yếu: Người thế nào, thơ thế ấy. Nhân vật trữ tình trong thơ Trương Nam Hương nhìn đời nhân hậu và trong sáng, dẫu có nỗi buồn, niềm ưu tư, nỗi xót xa thì vẫn thể hiện một tâm hồn thánh thiện. Ví như khi viết về nỗi đau mất mát trong chiến tranh, anh vẫn thiên về cảm thông, chia sẻ: “Chiến tranh ủ máu trong lòng đất/ Mẹ bới tìm con dọc cánh rừng/ Xin hóa gió ngồi lau mắt mẹ/ Chết là tỉnh thức! Vẫn rưng rưng” (Tỉnh thức)

 “Thời nắng xanh và những bài thơ khác” là tập thơ do Trương Nam Hương tự chọn một số bài tiêu biểu đã in ở các tập trước, cùng những bài thơ mới viết gần đây. Trừ hai bài “Thời nắng xanh” và “Miền em” tương đối dài, còn lại trong tập đa phần là những bài thơ ngắn, ngắn nhất là thơ 4 câu (có tới 46 bài). Thơ anh kiệm lời, hình ảnh cô đọng, nhiều bài có cảm tưởng như những bức tranh màu trên lụa, hoặc như tranh thủy mặc. Đã có bao người làm thơ về sông Kỳ Cùng, nhưng Trương Nam Hương với con mắt nhìn tinh tế, đã vẽ lên trong thơ một bức tranh thật độc đáo của riêng mình:“Tưởng đây đã Kỳ Cùng nơi cuối đất/ Gặp dòng sông dắt núi lên trời/ Gió hào phóng những rừng hồi Đông Bắc/ Cô gái Nùng gùi mây núi về xuôi” (Nhớ Kỳ Cùng). Ta gặp một lão ông giữa buổi chiều Đông trong thơ anh, ngỡ như từ cổ xưa hiện về trầm mặc:“Chiếc gậy chống vào năm tháng/ Dìu tuổi già qua mùa Đông/ Tóc ông đánh lừa mây trắng/ Màu chiều cổ tích rêu phong/… Lá đằng sau lơ đễnh rớt/ Lưng ông bóng nắng đổ dài”. Ông lão đang tìm về quá khứ, và chính bản thân ông đã thuộc về quá khứ:“Và thể môi ông lẩm bẩm/ Gọi tên một người ông yêu/ Khi tay quờ trong hụt hẫng/ Lão ông hóa thạch giữa chiều” (Lão ông Văn Miếu). Lên miền đất thiêng Yên Tử, nhiều người đã làm thơ  ca ngợi, nhưng chỉ có Trương Nam Hương càng lên cao càng cảm nhận được cái vô hình của thời gian và cái hữu hình của không gian, “mỏng” hơn, “mờ” hơn, cái hữu thanh (tiếng chuông) “rõ” hơn: “Ngày mỏng mờ hơn chuông rõ hơn/ Trúc vin nghìn bậc đá rêu mòn”. Anh tìm ra được hình ảnh so sánh không thể nào đẹp hơn, đắc địa hơn để vẽ lên một vùng đất, cả núi non, cả cỏ cây cùng hướng tới sự thiêng liêng cao cả của cõi Phật, của vũ trụ: “Núi khom khom vái mây dâng lễ/ Tùng thắp xanh trời vạn nén thơm” (Lên Yên Tử). Thơ tứ tuyệt là một trong những thế mạnh của Trương Nam Hương, mà “Lên Yên Tử” là bài thơ hay nhất.

“Thời nắng xanh và những bài thơ khác” là tập thơ hướng về nguồn cội, là những lát cắt của ký ức. Bao trùm tập thơ là hình ảnh quê hương, là ký ức tuổi thơ và tình yêu. Trong đời mỗi con người, những dấu ấn tuổi thơ ảnh hưởng rất lớn tới tâm hồn, tính cách, số phận cả cuộc đời sau này của họ. Có lẽ vì thế quê hương và tuổi thơ góp phần làm nên những bài thơ hay của Trương Nam Hương.

Thời nắng xanh là thời của tuổi thơ nhìn đời thơ ngây, trong trẻo: “Nắng trong mắt những ngày thơ bé/ Cũng xanh mơn như thể lá trầu”. Tuổi thơ trong ký ức là những hình ảnh thật cụ thể, sâu đậm. Đó là một vùng quê có “những đầm chũm ao chuôm” cùng bạn bè ngụp lặn trưa hè, có bờ đê “cỏ may giăng vấp víu gấu quần” (Hồi tưởng), có “rau má rau sam…vào bát canh ngọt mát/ Tôi chan lên suốt dọc tuổi thơ mình” (Thời nắng xanh). Đó là Hà Nội với “Những mái ngói âm dương/ Những mảng tường rêu phong trượt lở/…Những cây sấu đã thành cổ thụ/…Tiếng leng keng tàu điện mơ hồ/ Chén nước chè xuýt xoa ngày rét… Ngọn đèn vàng ủng phố khuya…”(Nhớ xanh), Hà Nội với“Sương cong mái phố, khói nghiêng mặt hồ”, có “Hè phố Khâm Thiên vị bàng chát mãi”

Gắn với quê hương, với tuổi thơ là hình ảnh của bà ngoại, của mẹ cha, những nhân vật trung tâm, linh hồn của cả thời nắng xanh. Miếng cau, lá trầu, những thứ rất bình thường trong đời sống sinh hoạt của bà ngoại, trong con mắt trẻ thơ hóa thành chiếc thuyền cổ tích: “Bà bổ cau thành tám chiếc thuyền cau/ Chở sớm chiều tóm tém/ Hoàng hôn đọng trên môi bà quạch thẫm/ Nắng xiên khoai qua vách liếp không cài…” Gia tài của bà ngoại là cháu con, nhưng gia tài của ngoại cũng là những vật dụng của một thời nghèo đói:“Là chảo nồi chum vại lọ và chai/ Là mắm muối tương cà gạo đỗ. Là mụn vải vá viu ngày thương khó”. Đói nghèo là hoàn cảnh chung của nhiều thế hệ ở một đất nước có chiến tranh: “Tủi thân khói bếp ngày xưa/ Mẹ nhen cho tối giao thừa bớt suông/ Tiếng reo củi ướt đỡ buồn/ Bánh chưng mỏng quá ngồi thương bánh giầy” (Khói bếp xưa). Nhưng tuổi thơ không chỉ có đói nghèo, mà còn có những giây phút hạnh phúc thần tiên, dẫu đơn sơ bé nhỏ, vẫn chắp cánh cho tâm hồn nhà thơ tương lai:“Tuổi thơ tôi thơm thao bùn đất/ Rặng duối cho không quả duối hươm vàng/Tôi ngửa mặt nhìn trời đêm thổn thức/Thấy bóng người đã khuất đặc như sao/ Con đom đóm nháy điều gì bí mật/ Cứ đêm đêm xanh nhói phía bên rào” (Thời nắng xanh). Đọc thơ Hương, thế hệ chúng tôi thấy tuổi thơ mình trong đó..

Trong thơ, Trương Nam Hương hay nhắc đến hình ảnh con mèo (Quý Mão là tuổi của Hương) nằm trong bếp trấu. Đó là một hình ảnh dễ thương, biểu hiện của sự bình yên, của sự tựa nương, tin cậy. Bà ngoại chính là bếp ấm bao bọc tuổi thơ:“Tôi như thể chú mèo dim dím mắt/ Trong lòng bà tro trấu thật bình yên/ Mây ngơ ngóng dưới vòm trời cổ tích/ Dưới vòm trời tóc ngoại - một bà tiên…” (Thời nắng xanh). Con “mèo” ấy khi trưởng thành, thì lại lấy tình yêu lứa đôi làm trấu bếp sưởi ấm cho cả cuộc đời mình: “Mẹ cho anh tuổi… Mèo tam thể/ Thả bóng ban trưa, bắt bóng chiều/ Câu thơ đêm thức, ngày thiu ngủ/ Thích vùi trấu bếp của tình yêu” (Tự họa)

Hương dành nhiều bài thơ viết về các bậc sinh thành của mình trong hồi tưởng, khi mà “Mẹ hóa mưa phùn, cha hóa gió” (Câu hát ấy).  Tình yêu ấy gắn liền với những hình ảnh về Kinh Bắc (quê mẹ), về Huế (quê cha) và Hà Nội (nơi tuổi thơ gắn bó), và sau này từ phương Nam nắng gió, nhiều lần anh trở lại tìm dấu vết của tuổi thơ, nhưng theo tôi, những bài thơ anh viết về Kinh Bắc, đặc biệt là Hà Nội, là những bài thơ hay hơn cả. Sông Cầu, sông Thương và Quan họ, sông Hồng và sông Hương xuất hiện đậm trong thơ anh. Làm nên hình hài đứa trẻ, làm nên một nhà thơ Trương Nam Hương không chỉ có tình yêu của cha và mẹ, mà còn là kết tinh của trời đất, của sông núi quê hương:“Trăng thắp nến đợi ngày sông trở dạ/ Con chào đời cùng lúc với phù sa/ Con nhận nước sông Hồng làm máu đỏ/ Cát  ôm con từ hơi mẹ ấp òa/ Con mượn cỏ bờ đê làm chỏm tóc/ Mắc vành nôi lên dợn sóng la đà/ Khi bập bẹ âm đầu, con gọi mẹ/ Chạm mảng trời run biếc của bèo hoa/ Mẹ nuông ấm đời con bằng Quan họ/ Thưở trúc xinh gọi chú ớt ơi à…” (Nhớ sông Mẹ). Còn đây là dòng sông quê Cha, một nửa dòng máu và tâm hồn của nhà thơ:“Trong cha có một câu hò/ Trong câu hò có con đò sông Hương/ Trong sông Hương có nỗi buồn/ Trong thăm thẳm có vô thường thi ca/ Con từ xa Huế sinh ra/ Nắng mưa thấm tiếng oa oa đầu đời/ Cha dòng sông nhớ con bơi/ Đắng cay vào giọt mồ hôi bến bờ/… Hồn cha giờ hóa con đò/ Mênh mang đẩy cả giấc mơ - suối nguồn/ Con cùng tên với dòng Hương/ Thơ con trắc ẩn cánh buồm cha ơi” (Lời thưa). Thơ anh thường không miêu tả cụ thể hình ảnh cha mẹ, mà chỉ đi sâu vào miêu tả nỗi đau mất mát trong tâm hồn:“Mẹ giờ hóa nén hương thơm đỏ/ Thương lặng nhìn con chẳng rụng tàn/ Khói thắt se vòng lo mẹ nặng/ Cõi về cong vít cả thân nhang” (Mẹ), hoặc nỗi buồn trống vắng không thể nào bù đắp:“Tết này nhà lại vắng cha/ Thuốc không thơm nữa ấm trà bớt ngon… Rưng rưng tàn thuốc quặn vòng/ Thương cha khói cũng nặng lòng không bay” (Dâng cha).

Tình yêu dành cho quê hương, cho bà ngoại, cho mẹ cha gắn với tuổi thơ, và tình yêu ấy còn theo suốt cuộc đời tác giả, dung lượng chiếm đến nửa tập thơ này. Tình yêu lứa đôi trong thơ Hương cũng chiếm dung lượng không kém. Nó không chỉ ở những bài thơ trực tiếp nói tới quan hệ giữa anh và em, mà còn hiện diện cả ở những bài thơ viết về cảnh sắc thiên nhiên, khi nói về một ngọn gió mùa, về một bông hoa, một buổi ban mai cà phê với bạn bè, với con gái, trong trường liên tưởng và suy tưởng, liên hệ với quá khứ, hiện tại và tương lai.

Thơ Trương Nam Hương tài hoa, nhẹ nhàng, tinh tế, có nhiều bài đọc lên nghe dịu êm, như một chiếc lá lặng lẽ rơi, như một thoáng hơi thu man mác, giống như “hơi thở nhẹ” (tôi mượn tên một truyện ngắn của Bu nhin - nhà văn Nga, để nói về thơ Hương). Đó là những mối tình tuổi học trò giờ chỉ còn là niềm tiếc nuối bâng khuâng:“Em không đến trường mùa Thu năm ấy/ Em không đến trường mùa Thu năm sau/ Chiếc lá rụng xuống hoàng hôn xẹt lửa/ Theo mùa Thu tiếc nuối chảy qua cầu…” (Xa lắc mùa Thu). Mối tình thuở đầu đời lãng mạn, ào ạt, say mê dâng hiến, mà không biết có được đền đáp hay không:“Dành cả đấy cho em - dành cả đấy/ Anh gom mây ngũ sắc bọc thơ tình…. Dành cả đấy cho em - dành cả đấy/ Nguyên cơn mưa không thiếu hạt nào… Dành cả đấy cho em - dành cả đấy/ Mượn thời gian hăm mốt tuổi, anh đền… Ai bảo nhớ, bảo dành cho em hết/ Anh tìm em mắt cứ nhóng lên trời/ Câu thơ viết tan vào mây ngũ sắc/ Cuối sân trường vô vọng xác ve rơi” (Sau lưng mùa hạ cũ).

Tình yêu có nhiều cung bậc, có nỗi nhớ nhung trong xa cách:“Cà phê khuấy mãi chưa tan nhớ/ Muỗng gõ thành ly đã đắng môi” (Mùa gọi), có lúc lại gần gặn trong một vòng tay ôm chặt. Hình ảnh cô gái đang đến nơi hò hẹn, trong con mắt của người đang yêu thật đẹp: “Em lặng đến cuối cơn mưa bất chợt/ Lộng lẫy sau lưng bảy sắc cầu vồng/ Những giọt trong veo mở lòng mùa Hạ/ Gió thiên đường cuồng dại dưới môi cong” (Cuối cơn mưa). Nụ hôn say đắm của hai kẻ đang yêu khiến đất với trời cũng rạo rực muốn cùng nhau giao cảm: “Giữa phông sóng, voan sương và cát biển/ Anh cúi hôn em ở thế trăng quỳ/ Em nở lên anh đóa sen hây múa/ Đất với trời cuống quýt khỏa xiêm y” (Trăng biển).  Trong thơ tình yêu của anh có những hình ảnh gợi sex, có lúc được miêu tả một cách kín đáo, ước lệ:“Mơ chiếc cúc chiều xưa lỡ rơi/ Tôi nhặt trả em năm mười bảy tuổi/ Một mắt tôi nhắm bối rối ngấn trời/ Một mắt ngây mở ngày tròn hai mươi” (Chuyện ở công viên). Bài thơ của Hương gợi cho tôi nhớ tới bài thơ “Tan vỡ” của Dư Thị Hoàn cũng về chiếc cúc áo:“…Tất cả sẽ qua đi/ Chúng mình sẽ thành chồng thành vợ/ Nếu không có một lần/ Sau những phút êm đềm trên ghế đá/ Anh quên không cài khuy áo ngực cho em” (Dư Thị Hoàn, tập thơ Lối nhỏ, 1988). Nhưng cũng có lúc tình yêu được miêu tả thật ngây ngất với vẻ đẹp phồn thực: “Một gò trăng viên mãn giữa tay anh/ Tình yêu dẫu trăm năm còn thiếu nữ/ Cỏ đêm nay trăng mật với con người… Ba mươi tuổi thơ anh òa giọt khóc/ Lúc hôn lên trinh bạch ngực trăng rằm” (Trăng mật). Vẻ phồn thực này thật thánh thiện. Viết về cuộc tình Chí Phèo - Thị Nở bên bờ sông Châu Giang, anh có câu thơ tuyệt hay: “Gió đầm đìa hớp thở/ Lá chuối vườn giãy yêu” (Trăng Thị Nở). Có tình yêu, con người mới hoàn thiện chính mình, như Chúa sinh ra A đam và E va để thành một thể thống nhất: “Anh chắc từ em anh mới anh/ Mẹ sinh em trước để anh thành/ Nếu không em nữa sông lơ lạc/ Biển nhắc Thu về giọt máu xanh…”(Khúc em). Thiên nhiên và Tình yêu là nơi nương tựa của nhà thơ. Đại diện của thiên nhiên là Cỏ, và Em là tình yêu của anh: “Hai chỗ ngả đầu yên ả nhất/ Cỏ với vai em những lúc buồn” (Cỏ và em). Rất nhiều lần Trương Nam Hương nhắc tới cỏ trong các bài “Hồi tưởng, Trăng mật, Lỗi hẹn với sông Cầu, Thoáng nghĩ về cỏ, Góc cỏ…”. Cỏ trong thơ Hương mặc kệ sự biến đổi của đất trời, sự thay đổi của lòng người, cỏ sống vẫn đời cỏ, cỏ thản nhiên xanh, cỏ chứa đựng và bao dung tất cả…

Hai bài thơ Hương nói với con, là hai bài thơ cực hay về tình yêu. Hương viết trong tâm thế ngược về quá khứ, soi mình trong hạnh phúc tình yêu của các con trong hiện tại và tương lai. Ngày “nhà mình” xuất hiện chàng trai “cầm mười bảy bông hoa ngát thơm” đi tới, với con gái Mai Hạ là một bầu trời mới mẻ, với người cha là ký ức đẹp hiện về:“Sao giống màu hoa xưa cha tặng mẹ/ Mây cũng thế, cả màu trời cũng thế/ Lại vô cùng mới mẻ lúc con yêu!” (Sẽ có một ngày). Khi con gái Thiên Thanh mời cha và bạn trai ngồi cà phê buổi sáng (như để ra mắt) thì:“Ba gặp mẹ trong con ngày rất trẻ/ Hoa cúc ơi hoa cúc dịu dàng/ Tay con khuấy hương cà phê ngát nhẹ/ Ba lặng ngồi nghe ký ức ngân vang… Ba mươi năm sau/ Lại có một chàng trai mang lòng ba sớm ấy/ Đặt những câu thơ lên môi/ Đặt cả đất trời lên ngực/ Hoa cúc ơi hoa cúc thật vàng/ Khi mắt lá xanh đầm mắt lá/ Nắng khẽ dìu cho những ngón tay đan” (Cà phê ban mai).

Một mảng thơ rất ấn tượng trong thơ Trương Nam Hương là những bài thơ viết về các tác giả và các nhân vật văn học, cũng xoay quanh chủ đề tình yêu: yêu dân, yêu nước, yêu tự do, và tình yêu đôi lứa. Với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu, Sơn Nam, bằng những bài thơ 4 câu, Trương Nam Hương tóm tắt được thần thái chân dung của từng tác giả, mà “Nỗi niềm Nguyễn Du” là bài thơ tiêu biểu: “Từ hội Đạp Thanh đến Tiền Đường nước mắt/ Hai trăm năm sóng cỏ cuốn xanh về/ Không vớt nổi Thúy Kiều qua mực bút/ Nguyễn Du buồn sợi tóc nhớm hoa lê!” (Nỗi niềm Nguyễn Du). Hình ảnh “sóng cỏ cuốn xanh về”, “sợi tóc nhớm hoa lê” như tóm được thần thái của Truyện Kiều và tấm lòng thương yêu cao cả nhưng bất lực trước thời cuộc của Nguyễn Du.

Với các nhân vật Thị Mầu, Thúy Kiều, Thúy Vân, Chí Phèo, Thị Nở, thì hai bài thơ về Thị Mầu và Thúy Vân thành công hơn cả. Tác giả thay mặt Thị Mầu giãi bày tâm tư, khát vọng được yêu của nàng (thứ bị cấm kỵ trong xã hội cũ). Vì khát vọng tình yêu mà Thị Mầu gây nên bi kịch cho Thị Kính và bi kịch của chính mình: “Đời em nào dám mong gì/ Cầu xin lòng chị nhu mì thứ tha/ Chị em mình phận đàn bà/ Cỏ dù cao thấp vẫn là cỏ thôi/ Đừng buồn em, Thị Kính ơi/ Nỗi oan của chị có đời hiểu cho/ Tên em bồ hóng cửa chùa/ Gỡ tai tiếng mãi đến giờ chưa bong” (Ưu tư Thị Mầu). Còn đây là nhân vật Thúy Vân, trong sự so sánh với Thúy Kiều. Thúy Vân lấy Kim Trọng không vì tình yêu, khao khát được một lần được yêu như chị:“Chị yêu lệ chảy đã đành/ Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim…Là em nghĩ vậy thôi Kiều/ Sánh sao đời chị ba chiều bão giông/ Con đò đời chị về không/ Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường/ Chị nhiều hờn giận yêu thương/ Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò/ Em chưa được thế bao giờ… Giấu đầy đêm nỗi khát khao/ Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu” (Tâm sự nàng Thúy Vân).

Con mắt của Trương Nam Hương nhìn sự vật luôn có những phát hiện mới mẻ, những phát hiện ấy lại được diễn đạt thật độc đáo theo cách riêng chỉ có ở Hương. Nhìn người đàn bà ngồi đan lưới, tác giả không chỉ nhìn thấy cuộc sống lao động vất vả, mà còn nhìn thấy ở họ những giấc mơ, niềm tin cao cả, diễn tả bằng những hình ảnh rất “biển”: “Người đàn bà ngồi đan lưới/ Biển căng giấc mơ mặn đầy/ Hy vọng chưa lần thôi quẫy/ Trong từng lớp sóng gân tay” (Gân sóng). Nhìn những bông cúc họa mi Hà Nội trên bình hoa ở Sài Gòn, với người bình thường chỉ thấy đơn giản là hoa đẹp, thì nhà thơ lại thấy cả những làn gió heo may đất Bắc trong ký ức thổi qua hồn mình: “Dịu từng cánh trắng mong manh/ Có em nắng phố hóa thành heo may…Bồi hồi ơi cúc họa mi/ Bên em, anh gọi một ly gió mùa”. Khi từng trải, anh có những đúc kết về tình yêu thật hóm hỉnh: “Tình người lắm lúc cũng hay/ Đầu tiên ở mắt mai này ở lưng/ Bàn dửng dưng ghế dửng dưng/ Hai dửng dưng ấy đã từng yêu nhau”(Tình buồn).   

Trong thơ Hương đôi lúc có nụ cười tủm tỉm, có chút hài hước, rộng lượng chứ không cay nghiệt trước thực trạng xã hội: “Quán vườn mỗi rượu và nem/ Cũng khăn ướp lạnh cũng em cực kỳ/ Váy người ngắn đến mê ly/ Ngẫm thơ tứ tuyệt nhiều khi còn dài/ Áo sương cúc gió lơi cài/ Gặp Hà Nội mốt ra ngoài ngàn năm…” (Viết ở Nghi Tàm). Mặc kệ người đời bon chen tranh nhau danh lợi, nhà thơ không phê phán theo thói thường, mà xử sự như một người đạo sĩ tránh xa nơi trần tục: “Lúc người đánh bóng tuổi tên/ Anh đi tìm hộp xi đen… đánh giầy” (Không đề).

Thơ Trương Nam Hương hay đều cả ở thơ lục bát lẫn thơ tự do. Hương không cách tân hình thức thơ mà thơ Hương vẫn cứ mới mẻ. (Một vài bài thơ với những khổ thơ ba câu, với cách gieo vần khác lạ cố ý thể hiện manh nha ý định cách tân của tác giả, nhưng chưa thật thành công, khiến Hương lại quay về với truyền thống).   

Thơ truyền thống, tức thơ Lục bát - gia tài của cha ông từ xưa truyền lại, và những thể thơ mới định hình từ phong trào Thơ Mới (1932-1945), ai muốn giãy giụa cách tân, đổi mới cũng vẫn chỉ trong cái vòng cương tỏa  Thơ Mới. Hoàn cảnh xã hội, điều kiện thời đại chưa tạo ra những tiền đề cho một cuộc cách mạng của Thi ca Việt Nam hiện nay. Tôi nhớ, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Cảnh đã kỳ công tìm hiểu nền Thơ Việt Nam, tìm ra được chu kỳ cứ mỗi 125 năm, thơ ca mới tạo ra được sự đổi thay. Chúng ta hiện vẫn năm trong chu kỳ của phong trào Thơ Mới.

Cái mới trong thơ Hương, chính là cái mới ở tâm hồn, trong cách cảm cách nghĩ, cách diễn diễn tả hình ảnh, cách sử dụng câu chữ của riêng mình. Thơ Hương đằm thắm và nhuần nhuyễn trong tứ thơ, lời thơ và trong từng câu chữ, vần điệu. Đọng lại trong tôi là thơ Hương tràn đầy yêu thương, cảm thông và chia sẻ. Khi viết những dòng cuối về tập thơ của Hương, tôi lại rưng rưng cùng những câu thơ anh gửi cho bạn mình là nhà thơ Vũ Xuân Hương đang đơn độc giữa rừng Nga: “Hãy về thôi Hương ơi/ Con thú buồn lơ lạc/ Ném vốc tuyết lên trời/ Xin chớ lầm với cát/ Chiều hoang mang bạn khóc/ Gọi tên con giữa rừng/ Cách nửa vòng trái đất/ Ta bên này rưng rưng” (Gửi rừng Nga). Ngỡ như Hương cũng gửi cho cả tôi, bởi nỗi cô đơn của Vũ Xuân Hương cũng là của tôi nơi đất khách quê người. Đã lâu, tôi ít đọc thơ ca Việt đương đại. Nhưng “Thời nắng xanh và những bài thơ khác” của Trương Nam Hương đã đem lại cho tôi niềm tin với thi ca.

Viết trong những ngày về quê tránh dịch Covid

Lý Nhân, Hà Nam 4/4 – 15/4 -2022

Nguồn: Chuyên đề Viết & Đọc số Mùa Thu 2022.

(*) Nhà thơ Châu Hồng Thủy (ảnh đầu bài) sinh sống và làm việc tại LB Nga từ năm 1990.      

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm