TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Trường ca Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh: Bài ca về sự sống, tình yêu và hy vọng

Trường ca Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh: Bài ca về sự sống, tình yêu và hy vọng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-14 17:38:25
mail facebook google pos stwis
1187 lượt xem

Đại tá, Nhà văn, PGS-TS NGUYỄN THANH TÚ

1. Nếu trước đây, trường ca sử thi trong dòng chảy văn học cách mạng trong vắt, gần như nguyên chất, nguyên khối, hình tượng người lính hiện lên với bút pháp lãng mạn bay bổng luôn tỏa hào quang chiến thắng; thì nay chất sử thi đã có phần nhường chỗ cho chất đời tư, hòa cùng âm hưởng anh hùng ca là âm hưởng bi ca tạo nên một hợp âm bi tráng khá đặc sắc.

Sự biến đổi này được cho là kết quả của độ lùi thời gian, trường ca giờ có xu hướng khái quát về những cái được, mất của lịch sử thông qua những số phận cá nhân. Chân dung tinh thần của một thế hệ cầm súng hiện rõ qua thái độ lựa chọn và cống hiến. Từ cái cao cả, lớn lao của thời đại đến cái bình dị nhỏ bé của đời thường đều được thể hiện bằng cái nhìn chân thành, đầy đặn hơn.

Đời sống nội tâm của người chiến sĩ ở chiến trường, ngoài những điều thiêng liêng cao cả, còn là những điều thầm kín, những tâm tư, tình cảm cá nhân được bộc lộ hết sức chân thực, đời thường. Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh của Châu La Việt chính là một trường ca thành công viết theo hướng này.

Với đặc điểm dung lượng lớn, dài về câu chữ, phong phú về chi tiết, sự kiện nên trường ca luôn tìm tới những điểm tựa. Đó có thể là câu chuyện về lịch sử của một vùng đất, một thời kỳ, những con người anh hùng. Và điểm tựa trường ca của Châu La Việt chính là vùng đất thép, đất lửa của Nam bộ kháng chiến rất giàu trữ lượng sử thi - Tây Ninh!

2. Hai sợi chỉ xuyên suốt trường ca là 2 câu chuyện về 2 con người cùng điểm xuất phát từ làng quê Xuân Cầu (xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Họ ra đi cùng với tình yêu quê hương đất nước, cùng khát khao giải phóng quê hương, thống nhất đất nước, cùng một điểm đến là vùng đất “Tây Ninh nóng bỏng”

Cũng những ngày ấy có một người Xuân Cầu/ Ông đã tới với chiến trường rất sớm/ Nơi ông đến đất Tây Ninh nóng bỏng/ Ông sẽ yêu như chính quê hương mình…”. Và rồi gắn với ông là những từ ngữ của sự bí mật như “người ấy”, “nằm vùng”, “đặc biệt”… “Người ấy” ở lẫn vào dân, sống cùng dân, lo lắng cái lo lắng của dân, cùng ăn khoai ăn sắn với dân: “Bà con gọi ông chú Tư Tô Lâm/ Bà con thương ông củ khoai củ sắn/ Áo bà ba đã bao mùa mưa nắng/ Áo bà ba vết đạn chửa kịp khâu…”. Một chi tiết thật đắt khi cho thấy sự nguy hiểm, cái chết luôn rình rập bất cứ lúc nào nên phải luôn vội vã!

Và trong chiến trường đó, người đồng đội, đồng hương Xuân Cầu còn lại là một người con gái: “Tuổi 19 mái tóc xõa ngang vai/ Em ra đi cùng bạn bè đồng đội/ Lần đầu tiên ba lô khoác lên vai…”. Người chiến sĩ - nghệ sĩ ấy tên là Tô Lan Phương, điểm nhìn trữ tình được trao cho nhân vật bộc lộ, giãi bày: “Có những đêm đi biểu diễn tối trời/ Mắc chiếc võng nằm ngắm vầng trăng sáng/ Nhớ quê hương, nhớ mẹ cha, bè bạn/ Úp mặt xuống võng mặc cho nước mắt rơi…”. Đó là những phút “xao lòng” ai cũng có khi xa quê, đang ở thời điểm đối mặt với sự dữ dội nhất của chiến tranh, thì giây phút ấy càng trăn trở, day dứt, mãnh liệt.

Như một logic nghệ thuật, không gian nghệ thuật trữ tình đồng hiện theo sự quy chiếu của hai cái tôi tâm trạng, ánh xạ vào nhau để cùng tỏa ra thứ ánh sáng nhân văn về tình yêu cội nguồn, tình đồng hương, và cao hơn nữa là tình yêu nước, tình đồng chí.

Tình quê nở hoa giữa tình yêu đất nước. Hai người lính, hai thế hệ ngẫu nhiên gặp nhau trong không gian thật đặc biệt: “Chú với cháu cùng quê hương Xuân Cầu/ Vườn nhà cháu ngày xưa chú thường sang hái quả/ Chú cũng họ Tô, là đội trưởng thiếu nhi từ nhỏ/ Đi rải truyền đơn, đi canh gác cho ông cháu họp hành”. Ngoài tình đồng chí, đồng hương, còn là nghĩa tình chú cháu chung không gian hoài niệm quê hương xa cách…

Mạch cảm xúc trường ca đi rất khéo, với mỗi cá nhân là những nỗi niềm riêng. Với Tư Tô Lâm (tên thật của đồng chí là Tô Quyền) là nỗi nhớ khắc khoải người vợ hiền nơi hậu phương xa xôi: “Như bao vợ của những người ra trận/ Một tay bà chăm sóc đàn con/ Đứa lớn đứa bé con trai con gái/ Tuổi ăn tuổi ngủ tuổi cắp sách đến trường/… Thằng anh lớn lên, nhường tấm áo cho em/ Con chị học xong, sách cho em học tiếp…”. Người chồng lại hoạt động bí mật nên “Bà thầm lặng không một lời than thở”. Đó cũng là một hy sinh lớn lao…

Với người con gái quê hương Xuân Cầu, giữa chiến trường, một ước mong nhỏ nhoi lại nói lên rất rõ nhân cách một con người đáng yêu, đáng quý, đáng phục, rất nghệ sĩ và cũng rất chiến sĩ: tất cả để hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn. Đó là “có một chiếc đài” để “nghe tin tức”, “lắng nghe tác phẩm mới”, “học bài hát làm tiết mục nhiều thêm”. Đặc biệt là được nghe tiếng đàn của mẹ - một nghệ sĩ “vẫn đêm đêm gảy đàn thu thanh/ Trên làn sóng phát thanh tiếng thơ hay ca nhạc…”.

Giữa nơi chiến trường mong manh sống chết, một ước mơ nhỏ thôi nhưng ý nghĩa thật lớn vô cùng… Thế nên, tiếng hát của người con gái ấy không còn là tiếng hát thông thường. Trong không gian bom đạn ngút trời, đó là lời ca của con tim yêu thương, chân thành, trung thực đến đáy, thấu hiểu đến tận ngọn nguồn sự sống, thấu cảm đến từng tế bào máu.

Trái tim tìm đến với trái tim: “Những người lính bụng đói đến thắt lòng/ Bòng thắt ngang người gạo không còn một hạt/ Nhưng tất cả lặng im để uống từng tiếng hát/ Tiếng hát người con gái tuổi 20”. Phải trong hoàn cảnh ấy, phải là người nghe lúc ấy, đi làm nhiệm vụ như vậy, thì không còn là “nghe” bằng thính giác mà phải là “uống” bằng tất cả các giác quan. Vì lời hát ấy là nước ngọt mát lành, là suối niềm tin, là dòng sông tình yêu, và cao hơn, là sự sống.

3. Tác phẩm chỉ khép lại câu chữ còn chân trời nghệ thuật thì được mở ra mãi theo nhiều chiều của bài ca về sự sống, tình yêu và hy vọng. Có rừng xưa xanh bóng, có âm thanh tiếng chim, có mùa xuân bát ngát. Một bức tranh có cả cận cảnh và viễn cảnh, từ ngày xưa về đến hiện tại: “Hôm nay tôi về Tây Ninh/ Căn cứ xưa với rất nhiều chim hót/ Rừng tươi xanh như mùa xuân bát ngát/ Lại nhớ bài hát người nghệ sĩ năm xưa… Về Gò Dầu thăm dòng Vàm Cỏ Đông/ Lại nhớ người Anh hùng năm xưa chỉ huy quyết tử/ Hỏi sông ơi dòng sông còn nhớ…”.

Nguồn: https://www.sggp.org.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm