TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Trường ca Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh: Bài ca về sự sống, tình yêu và hy vọng

Trường ca Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh: Bài ca về sự sống, tình yêu và hy vọng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-14 17:38:25
mail facebook google pos stwis
1030 lượt xem

Đại tá, Nhà văn, PGS-TS NGUYỄN THANH TÚ

1. Nếu trước đây, trường ca sử thi trong dòng chảy văn học cách mạng trong vắt, gần như nguyên chất, nguyên khối, hình tượng người lính hiện lên với bút pháp lãng mạn bay bổng luôn tỏa hào quang chiến thắng; thì nay chất sử thi đã có phần nhường chỗ cho chất đời tư, hòa cùng âm hưởng anh hùng ca là âm hưởng bi ca tạo nên một hợp âm bi tráng khá đặc sắc.

Sự biến đổi này được cho là kết quả của độ lùi thời gian, trường ca giờ có xu hướng khái quát về những cái được, mất của lịch sử thông qua những số phận cá nhân. Chân dung tinh thần của một thế hệ cầm súng hiện rõ qua thái độ lựa chọn và cống hiến. Từ cái cao cả, lớn lao của thời đại đến cái bình dị nhỏ bé của đời thường đều được thể hiện bằng cái nhìn chân thành, đầy đặn hơn.

Đời sống nội tâm của người chiến sĩ ở chiến trường, ngoài những điều thiêng liêng cao cả, còn là những điều thầm kín, những tâm tư, tình cảm cá nhân được bộc lộ hết sức chân thực, đời thường. Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh của Châu La Việt chính là một trường ca thành công viết theo hướng này.

Với đặc điểm dung lượng lớn, dài về câu chữ, phong phú về chi tiết, sự kiện nên trường ca luôn tìm tới những điểm tựa. Đó có thể là câu chuyện về lịch sử của một vùng đất, một thời kỳ, những con người anh hùng. Và điểm tựa trường ca của Châu La Việt chính là vùng đất thép, đất lửa của Nam bộ kháng chiến rất giàu trữ lượng sử thi - Tây Ninh!

2. Hai sợi chỉ xuyên suốt trường ca là 2 câu chuyện về 2 con người cùng điểm xuất phát từ làng quê Xuân Cầu (xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Họ ra đi cùng với tình yêu quê hương đất nước, cùng khát khao giải phóng quê hương, thống nhất đất nước, cùng một điểm đến là vùng đất “Tây Ninh nóng bỏng”

Cũng những ngày ấy có một người Xuân Cầu/ Ông đã tới với chiến trường rất sớm/ Nơi ông đến đất Tây Ninh nóng bỏng/ Ông sẽ yêu như chính quê hương mình…”. Và rồi gắn với ông là những từ ngữ của sự bí mật như “người ấy”, “nằm vùng”, “đặc biệt”… “Người ấy” ở lẫn vào dân, sống cùng dân, lo lắng cái lo lắng của dân, cùng ăn khoai ăn sắn với dân: “Bà con gọi ông chú Tư Tô Lâm/ Bà con thương ông củ khoai củ sắn/ Áo bà ba đã bao mùa mưa nắng/ Áo bà ba vết đạn chửa kịp khâu…”. Một chi tiết thật đắt khi cho thấy sự nguy hiểm, cái chết luôn rình rập bất cứ lúc nào nên phải luôn vội vã!

Và trong chiến trường đó, người đồng đội, đồng hương Xuân Cầu còn lại là một người con gái: “Tuổi 19 mái tóc xõa ngang vai/ Em ra đi cùng bạn bè đồng đội/ Lần đầu tiên ba lô khoác lên vai…”. Người chiến sĩ - nghệ sĩ ấy tên là Tô Lan Phương, điểm nhìn trữ tình được trao cho nhân vật bộc lộ, giãi bày: “Có những đêm đi biểu diễn tối trời/ Mắc chiếc võng nằm ngắm vầng trăng sáng/ Nhớ quê hương, nhớ mẹ cha, bè bạn/ Úp mặt xuống võng mặc cho nước mắt rơi…”. Đó là những phút “xao lòng” ai cũng có khi xa quê, đang ở thời điểm đối mặt với sự dữ dội nhất của chiến tranh, thì giây phút ấy càng trăn trở, day dứt, mãnh liệt.

Như một logic nghệ thuật, không gian nghệ thuật trữ tình đồng hiện theo sự quy chiếu của hai cái tôi tâm trạng, ánh xạ vào nhau để cùng tỏa ra thứ ánh sáng nhân văn về tình yêu cội nguồn, tình đồng hương, và cao hơn nữa là tình yêu nước, tình đồng chí.

Tình quê nở hoa giữa tình yêu đất nước. Hai người lính, hai thế hệ ngẫu nhiên gặp nhau trong không gian thật đặc biệt: “Chú với cháu cùng quê hương Xuân Cầu/ Vườn nhà cháu ngày xưa chú thường sang hái quả/ Chú cũng họ Tô, là đội trưởng thiếu nhi từ nhỏ/ Đi rải truyền đơn, đi canh gác cho ông cháu họp hành”. Ngoài tình đồng chí, đồng hương, còn là nghĩa tình chú cháu chung không gian hoài niệm quê hương xa cách…

Mạch cảm xúc trường ca đi rất khéo, với mỗi cá nhân là những nỗi niềm riêng. Với Tư Tô Lâm (tên thật của đồng chí là Tô Quyền) là nỗi nhớ khắc khoải người vợ hiền nơi hậu phương xa xôi: “Như bao vợ của những người ra trận/ Một tay bà chăm sóc đàn con/ Đứa lớn đứa bé con trai con gái/ Tuổi ăn tuổi ngủ tuổi cắp sách đến trường/… Thằng anh lớn lên, nhường tấm áo cho em/ Con chị học xong, sách cho em học tiếp…”. Người chồng lại hoạt động bí mật nên “Bà thầm lặng không một lời than thở”. Đó cũng là một hy sinh lớn lao…

Với người con gái quê hương Xuân Cầu, giữa chiến trường, một ước mong nhỏ nhoi lại nói lên rất rõ nhân cách một con người đáng yêu, đáng quý, đáng phục, rất nghệ sĩ và cũng rất chiến sĩ: tất cả để hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn. Đó là “có một chiếc đài” để “nghe tin tức”, “lắng nghe tác phẩm mới”, “học bài hát làm tiết mục nhiều thêm”. Đặc biệt là được nghe tiếng đàn của mẹ - một nghệ sĩ “vẫn đêm đêm gảy đàn thu thanh/ Trên làn sóng phát thanh tiếng thơ hay ca nhạc…”.

Giữa nơi chiến trường mong manh sống chết, một ước mơ nhỏ thôi nhưng ý nghĩa thật lớn vô cùng… Thế nên, tiếng hát của người con gái ấy không còn là tiếng hát thông thường. Trong không gian bom đạn ngút trời, đó là lời ca của con tim yêu thương, chân thành, trung thực đến đáy, thấu hiểu đến tận ngọn nguồn sự sống, thấu cảm đến từng tế bào máu.

Trái tim tìm đến với trái tim: “Những người lính bụng đói đến thắt lòng/ Bòng thắt ngang người gạo không còn một hạt/ Nhưng tất cả lặng im để uống từng tiếng hát/ Tiếng hát người con gái tuổi 20”. Phải trong hoàn cảnh ấy, phải là người nghe lúc ấy, đi làm nhiệm vụ như vậy, thì không còn là “nghe” bằng thính giác mà phải là “uống” bằng tất cả các giác quan. Vì lời hát ấy là nước ngọt mát lành, là suối niềm tin, là dòng sông tình yêu, và cao hơn, là sự sống.

3. Tác phẩm chỉ khép lại câu chữ còn chân trời nghệ thuật thì được mở ra mãi theo nhiều chiều của bài ca về sự sống, tình yêu và hy vọng. Có rừng xưa xanh bóng, có âm thanh tiếng chim, có mùa xuân bát ngát. Một bức tranh có cả cận cảnh và viễn cảnh, từ ngày xưa về đến hiện tại: “Hôm nay tôi về Tây Ninh/ Căn cứ xưa với rất nhiều chim hót/ Rừng tươi xanh như mùa xuân bát ngát/ Lại nhớ bài hát người nghệ sĩ năm xưa… Về Gò Dầu thăm dòng Vàm Cỏ Đông/ Lại nhớ người Anh hùng năm xưa chỉ huy quyết tử/ Hỏi sông ơi dòng sông còn nhớ…”.

Nguồn: https://www.sggp.org.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm