TIN TỨC

Trương Nam Hương, nhà thơ của cảm thức cội nguồn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-06-30 20:55:23
mail facebook google pos stwis
4724 lượt xem

NGÔ XUÂN HỘI

Nhà thơ Trương Nam Hương sinh năm 1963 ở Hải Phòng, quê nội Thừa Thiên – Huế, quê ngoại Bắc Ninh. Tuổi thiếu niên, lứa tuổi quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách một con người, Hương sống xa quê nội. Năm 1975 đất nước thống nhất, mười hai tuổi - khi nhân cách sắp hoàn thành, anh không về nội mà theo gia đình vào Sài Gòn, sau đó ra Biên Hòa của miền Đông Nam bộ định cư.

Cho đến nay khi đã đi qua “Sáu mươi năm cuộc đời”, thời gian anh gắn bó với quê nội lúc dài nhất cũng chỉ nửa năm. Vì thế, dù Hương có viết: “Trong tôi có chút sâu đằm/ Của Kinh Bắc với thâm trầm Cố đô” thì tôi qua tiếp xúc, thấy anh trong căn cốt, không liên quan gì với xứ sở “sơn bất cao, thủy bất thâm” của quê nội. Anh là người Bắc 100 %. Thể hiện qua chất giọng Hà Nội chuẩn, qua gu ẩm thực thích cà pháo mắm tôm ăn với canh rau đay mồng tơi, qua cách uống cà phê chậm rãi cùng bạn bè trong quán giữa Sài Gòn nồng nhiệt. Một làn gió heo may, một mùi hương hoa sữa, một quả bàng chín, một trái sấu rơi... cũng làm anh run rẩy. Bởi đó là kỷ niệm của anh, là tuổi thơ của anh trên đất Bắc.

Từ những riêng tư ấy, trở thành nhà thơ, thơ Hương không có cái dữ dội của thơ miền Trung, cái phóng túng rênh rang của thơ Nam bộ, mà thơ Hương luôn mượt mà bay bổng, đặc trưng của thơ miền Bắc. Xuất phát điểm khác nhau, cảm nhận về đối tượng được phản ánh cũng khác nhau. Đều là dân tập kết mà Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân) viết “Nhớ mưa quê hương” với những chi tiết rất cụ thể: “…Ôi tuổi thơ, ta dầm mưa ta tắm/ Ta lội tung tăng trên mặt nước mặt sông/ Ta lặn xuống, nghe vang xa tiếng sấm/ Nghe mưa rơi, tiếng ấm tiếng trong”, thì nỗi nhớ quê hương trong thơ Hương lại bàng bạc, liêu trai: “Anh vịn màu rêu Huế để yêu em…”. Ấy bởi Ca Lê Hiến sinh năm 1940, tập kết ra Bắc năm 1954 khi đã 14 tuổi, đã kịp sống với quê hương. Còn Trương Nam Hương “Con từ xa Huế sinh ra”, quê hương anh được biết đến đầu tiên qua hình bóng người cha, vì thế mới “Anh vịn”, Anh mượn!” Nhưng nắng mưa cây cỏ Huế có màu gì; giống, khác thế nào với nắng mưa cây cỏ đất Bắc? Tôi không biết. Hương chắc cũng không biết. Thực tế trong đời sống có một màu không ngả qua đen, không tía qua đỏ mà chỉ đủ đậm như màu mực học trò trên giấy trắng. Và nó mang đến cho người ngắm bao nỗi niềm sâu kín cùng những tâm sự ngổn ngang, ngơ ngẩn… màu ấy được gọi là “tím Huế”. Người đầu tiên định danh “tím Huế” là ai? Công dân Huế hay công dân của một vùng đất khác? Điều đó không quan trọng, quan trọng là Huế đã khiến ông (hay bà) nghĩ vậy, và khi ông (hay bà) ấy nói ra thì ai cũng thấy là không thể khác. Từ đó, với người phụ nữ Huế và với cộng đồng, màu tím ấy là màu Huế - vừa là màu áo, vừa là sự biểu hiện của tấm lòng đức hạnh. Vì thế mới có “Thuỷ chung tình bạn chùm hoa tím/ Hôn đóa hoa thơm, tưởng Huế gần…” (Tố Hữu). Đến lượt mình, chàng Trương thi sĩ của chúng ta, người có số hưởng, đã mặc nhiên thừa nhận, lấy đó làm điểm tựa xây đắp cho mình một tình yêu và chàng yên tâm ngay khi thấy: “…Vững như núi, Huế lại đằm như nước/ Vạt áo dài mây trắng xuống thi ca…”.

Thơ Hương là vậy, không rối rắm chữ nghĩa, không tân kỳ hình thức. Từ khi đặt bút viết những câu thơ đầu tiên anh đã chọn cho mình một phong cách thơ bình dị, gần gũi và thuần hậu. Về mặt hình thức, Trương Nam Hương không xa lạ một thể loại thơ nào, nhưng chuộng nhất có tứ tuyệt, ba câu và thơ lục bát. Trong số đó, trừ thơ ba câu, còn tứ tuyệt và lục bát đều là những thể thơ mà độ phủ sóng rộng khắp toàn cõi nước Việt (đã đành), còn theo những bước chân di dân của người Việt ra thế giới, dù tứ tuyệt có nguồn gốc từ thơ Đường từ thế kỷ XII. Tứ tuyệt, ấy là một thể thơ mà khi sự hàm súc đạt đỉnh, có thể gói được cả vũ trụ vào trong. Tuân thủ nghiêm nhặt niêm luật, tứ tuyệt của Trương Nam Hương lúc thủ thỉ tỏ bày, lúc như một tiếng thở dài sau nhiều kìm nén, khiến ta thắt lòng: “Mẹ giờ hóa nén hương thơm đỏ/ Thương lặng nhìn con chẳng rụng tàn/ Khói thắt se vòng lo mẹ nặng/ Cõi về cong vít cả thân nhang” (Mẹ). Lúc giống như những tia chớp giữa cơn giông, vụt lóe trong khoảnh khắc mà soi rõ được bao la… Và đẹp, một vẻ đẹp cổ điển thường chỉ thấy trong cổ thi: “Ngày mỏng mờ hơn chuông rõ hơn/ Trúc vin nghìn bậc đá rêu mòn/ Núi khom khom vái mây dâng lễ/ Tùng thắp xanh trời vạn nén thơm!” (Lên Yên Tử).

Cùng với thơ tứ tuyệt, Hương sử dụng nhiều thơ ba câu. Tôi không thích thơ ba câu. Nó mang lại cho tôi cảm giác chơi vơi, chân không đến đất, đầu không đến trời. Thơ ba câu của Trương Nam Hương thuyết phục tôi ở sự uyển chuyển của câu chữ, ở khả năng gắn kết, độc lập đấy mà ràng rịt đấy. Ví dụ bài Lỗi hẹn sông Cầu: “…Tháng giêng hoa xoan rơi vụng dại/ Em với sông Cầu xanh ở lại/ Anh đi rét ngọt giữa tay cầm// Cỏ níu chân sông mùa thiếp ngủ/ Em tiễn cái nhìn đau cả gió/ Chiều chớp đầy anh… mắt lá răm…”. Hai khổ thơ này, đứng độc lập đã là hai bài thơ trọn vẹn. Đứng trong bài, làm nên một thể thống nhất câu chữ, để lại dư vị tiếc nuối, ngọt ngào về những ân nghĩa cuộc đời mà mình bỏ lỡ…

Nhưng phải đến lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc nhà thơ của chúng ta mới bày tỏ được hết công phu. Đụng vào lục bát, Hương như cá trong nước, chim trên trời, tung tăng sải vây, tung cánh.

Để đổi mới lục bát, cách chung của nhiều người là ngắt câu, bẻ chữ, xuống dòng. Làm gì thì cũng phải đảm bảo nhịp 6/8. Hương khác hơn, từ những chữ mòn nhẵn, anh biến tấu, thay đổi, làm mới, biến chúng thành của riêng mình: “Tiếng sông úng ớ”, “Mưa nắng tung tuây cái tôm cái tép”, “Em hây hẩy khép chiều ngấn mẩy”, “Nửa giờ thấp thểnh oai xưa”, Sóng nước ngung nguây vỗ mạn thuyền… Tìm chữ cũng giống như tìm vàng, phải dày công đãi cát. Và khi đã gặp, nó làm cho câu thơ trở nên có hồn, sáng rỡ, găm sâu vào trí nhớ người đọc, khiến người đọc day dứt mãi không thôi. Nỗ lực “bảo toàn” thơ bằng thơ! Có lẽ vì thế, hàm lượng những câu thơ hay, những câu thơ lục bát hay trong thơ Hương rất nhiều. Ví dụ: “Tết nghèo bánh lá thay cơm/ Đồng xu mừng tuổi còn thơm mùi bùn/ Con cầm thương khó run run/ Muốn khoe với cả mưa phùn mẹ ơi”; ví dụ:“Anh xa đất Bắc mười năm/ Tay em Hà Nội, xin cầm hơi lâu/ Hỏi mùa hoa sữa nơi đâu/ Câu thơ ngồi khóc, mắt nâu lại buồn…”; ví dụ: “Tạ ơn Hà Nội trọn đời/ Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo”; ví dụ: “Khi người đánh bóng tuổi tên/ Anh đi tìm hộp xi đen đánh giày”; ví dụ nữa: “Váy người ngắn đến mê ly/ Ngẫm thơ tứ tuyệt nhiều khi còn dài”

Đọc câu thơ này của Hương, tôi bỗng nhớ giai thoại về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Trả lời phỏng vấn của một nhà báo phương Tây thời chống Mỹ. Sau những trao qua đổi lại với người đứng đầu Chính phủ Bắc Việt về những vấn đề mình quan tâm, nhà báo chợt hỏi: “Ngài nghĩ gì về chiếc mini juyp?” Thủ tướng hóm hỉnh: “Tôi nghĩ, nó không thể ngắn hơn được nữa!”. Thông tuệ như Thủ tướng mà vẫn không tiên liệu hết được sự phát triển của cuộc sống, của thơ. Bởi sau khi ông mất không lâu (năm 2000), Việt Nam chuyển hướng, bước sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Và những chiếc mini juyp mà ông tưởng ngắn tối đa dạo nào, đã trở nên ngắn hơn. Cái nhớ của tôi, phê bình văn học gọi là “liên tưởng”. Thơ càng hay, càng tạo ra nhiều liên tưởng thú vị.

Bài hay trong thơ Hương cũng nhiều, nhưng nếu tìm một bài hay nhất trong tập thơ mới nhất của anh xuất bản mấy năm trước “Thời nắng xanh & những bài thơ khác”, anh viết về quê nội, viết về người cha kính yêu thì không phải Màu Huế, hay Nhỡ mùa sen, mà là bài Lời thưa: “Trong cha có một câu hò/ Trong câu hò có con đò sông Hương/ Trong sông Hương có nỗi buồn/ Trong thăm thẳm có vô thường thi ca// Con từ xa Huế sinh ra/ Nắng mưa thấm tiếng oa oa đầu đời/ Cha – dòng sông nhớ - con bơi/ Đắng cay vào giọt mồ hôi bến bờ// Nổi nênh quá tuổi dại khờ/ Con thương Huế với câu thơ lụy tình/ Chênh vênh quá nửa Ngự Bình/ Huế cho con cả cung đình rêu phong// Thăng trầm dạ nhớ thưa mong/ Thời gian mái đẩy long đong điệu hò/ Hồn cha giờ hóa con đò/ Mênh mang đầy cả giấc mơ – suối nguồn// Con cùng tên với dòng Hương/ Thơ con trắc ẩn cánh buồm, cha ơi.” Những câu thơ ngân nga ở tầng sâu, ở nơi giáp ranh hư thực, mộng mơ và huyền ảo, như những lớp màn sân khấu mở ra đưa người đọc vào hút sâu tâm trạng, tâm sự.

Thơ Hương là thơ trữ tình. Thơ trữ tình nói về mình. Hương chỉ nói về mình, về tuổi thơ theo tiếng tàu điện leng keng ra Bờ Hồ. Về tuổi học trò trắng trong như tờ giấy trắng, về con sông Hồng đỏ nặng phù sa, về bà ngoại thương khó, về người cha tuổi thơ anh thần tượng… Chỉ thế thôi, mà đọc lên thấy man mác buồn, thấy hồn vía những câu thơ thăm thẳm. Đấy cũng là vị chung của thơ Hương trong tập, trong toàn bộ thơ Hương từ trước tới nay. Không dưng mà trong một bài bình về “Khúc hát người xa xứ” tập thơ đầu tay của Trương Nam Hương cách đây hơn 30 năm (1990), Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã viết: “Trương Nam Hương – Hồn thơ đẹp như nỗi buồn”. Nỗi buồn cảm thông, nỗi buồn chia sẻ. Từ những nỗi niềm ấy, mẹ cha, quê ngoại quê nội luôn là niềm thi hứng lớn lao cho anh. Do thiên chức đặc biệt của mẹ, con cái thường đặt nặng tình cảm vào mẹ hơn cha. Các nhà thơ vì vậy, thường chỉ viết hay về mẹ. Hương khác hẳn, viết hay cả hai. Ở những bài thơ Hương viết về cha - mẹ, cảm thức cội nguồn trong anh hiện ra rõ nhất. Đã hơn một lần thơ anh nhắc đến NGUỒN: “Mênh mang đầy cả giấc mơ – suối nguồn…”, “Giờ xin ngồi khóc với nguồn…”,  “Nói ra cứ sợ làm đau đến nguồn…” Nguồn, với quê cha là sự tìm về; với quê mẹ là cảm thương, ơn nghĩa, là Hà Nội, Sông Hồng, là miền Quan họ, là cả một miền Bắc nước Việt diệu vợi phía sau. Mẹ hiện diện ở khắp nơi: Trăng thắp nến đợi sông ngày trở dạ/ Con chào đời cùng lúc với phù sa/ Con nhận nước sông Hồng làm máu đỏ/ Cát ôm con từ hơi mẹ ấp òa/ Con mượn cỏ bờ đê làm chỏm tóc/ Mắc vành nôi lên dợn sóng la đà/ Khi bập bẹ âm đầu, con gọi mẹ/ Chạm mảng trời run biếc của bèo hoa/ Mẹ nuôi ấm đời con bằng Quan họ/ Thuở trúc xinh gọi chú ớt ơi à/ Môi đã ríu mạn thuyền thưa Quán dốc/ Mắt đã dài cho ướt cả ngày xa/ Trăng ửng lớn một lần con dối mẹ/ Đánh rơi đêm vào chỗ rễ si xòa/ Sông mẹ thức trắng nửa bờ lau nhắc/ Mai con về tạ lỗi với phù sa (Nhớ sông Mẹ)

Cùng với cảm thức cội nguồn, đọc “Thời nắng xanh…” của Trương Nam Hương, ta còn cảm nhận rõ một cảm thức khác trong thơ anh hôm nay là cảm thức tiếc nuối tình yêu, tuổi trẻ. Cảm thức ấy trải đều, mang mang, hoang hoải suốt tập thơ. Và trong niềm thương nỗi nhớ về quá khứ, anh bật lên những câu thơ thật “đau”, những bài thơ xát lòng như muối xát: “Em không đến trường mùa Thu năm ấy nữa/ Em không đến trường cả mùa Thu năm sau/ Chiếc lá rụng xuống hoàng hôn xẹt lửa/ Theo mùa thu tiếc nuối chảy qua cầu…” (Xa  lắc mùa thu). Hoặc: “Năm anh mười bảy/ Sông Hồng tuổi em/ Bờ đê. Đêm ấy…/ Sóng. Trăng. Cỏ mềm…/ Anh vốc nước lên/ Chạm môi em đỏ/ Khoác vai bóng thuyền/ Buồm lơi nếp gió/ Em đổ đầy anh/ Tiếng sông úng ớ/ Mắt sao mướt xanh/ Rơi nhòe ngấn cỏ/ Ngày trăng biết nhớ/ Sông Hồng biết yêu/ Năm anh mười bảy/ Cầm con sóng liều…/ Rồi anh biền biệt/ Dạt trôi bao miền/ Ba mươi năm ấy/ Sông Hồng hóa em! (Sông 17 tuổi)…

*

Năm 1990, Trương Nam Hương trình làng tập thơ đầu tay Khúc hát người xa xứ, và lập tức nổi danh, đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, rồi được kết nạp “đặc cách” vào Hội, vượt ngoài quy định “muốn vào Hội phải xuất bản ít nhất 2 tác phẩm được dư luận tốt”. Ở thời điểm ấy, anh là hội viên trẻ tuổi nhất sở hữu giải thưởng thơ danh giá này. Hơn ba mươi năm trôi qua, đến nay Trương Nam Hương đã xuất bản hơn mười tập thơ, sở hữu nhiều giải thưởng thơ, nhiều danh hiệu thơ đặc biệt, như: “Nhà thơ được yêu thích nhất” do báo Người lao động bình chọn năm 1992, “Gương mặt văn học 20 năm thành phố Hồ Chí Minh 1975 - 1995”, “Gương mặt văn học 30 năm thành phố Hồ Chí Minh 1975 - 2005”.

Thời nắng xanh & những bài thơ khác là tập thơ mới nhất nhà thơ Trương Nam Hương trình làng. Đọc thấy mừng, thấy ông vẫn giữ được phong độ, không có bài nào xuống tay. Điều nói nghe nhẹ bổng này, nhưng chỉ những thi tài đích thực mới làm được.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 – 2023

(Nguồn: Tuần báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam số 23 (3302), ngày 10/6/2023)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm