TIN TỨC
  • Góc nhìn văn học
  • ‘Truyện Kiều’ được Đại thi hào Nguyễn Du viết thời điểm nào?

‘Truyện Kiều’ được Đại thi hào Nguyễn Du viết thời điểm nào?

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-12-24 23:02:45
mail facebook google pos stwis
2682 lượt xem

Thời điểm Đại thi hào Nguyễn Du viết Truyện Kiều từng được tranh luận gay gắt, nay câu hỏi ấy lại được đưa ra mổ xẻ trên mạng xã hội.

Những bản Kiều cổ do ông Nguyễn Khắc Bảo sưu tầm.

Cuộc tranh luận của giới học thuật về thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều diễn ra cách đây hơn 10 năm – nay lại được khơi dậy trên khắp các hội nhóm mạng xã hội liên quan đến Truyện Kiều và Nguyễn Du. Tuy nhiên, các đáp án đưa ra khó thuyết phục bởi các bằng chứng rời rạc, mang tính suy diễn.

 

Ba mốc thời gian

Đến nay, ngoài bản Kiều của Nguyễn Hữu Lập, giới nghiên cứu còn thấy bản của Tăng Hữu Ứng chép 1874, bản Nguyễn Doãn Cử, bản Diễn Châu, bản Thái Bình, bản Quế Võ, bản R2003, bản R987… Ở Bắc Thành (Hà Nội), sau khi Phạm Quý Thích có bản Kiều, các sĩ phu túc nho Bắc Kỳ như: Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Lý, Chu Doãn Trí… cũng chép và làm nhiều thơ văn vịnh Kiều.

Trong suốt hơn 50 năm qua, có rất nhiều giả thuyết đưa ra để chứng minh về thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều.

Nhiều cuộc hội thảo, tranh luận lẫn “bút chiến” diễn ra nhằm chứng minh và bảo vệ các ý kiến được cho là đúng. Tuy nhiên, từ đó đến nay, hai giả thuyết có sức thuyết phục hơn cả liên quan đến hoàn cảnh ra đời của Truyện Kiều.

Thuyết thứ nhất khẳng định Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau thời gian đi sứ Trung Quốc (1814 – 1820). Thuyết thứ hai lại khẳng định Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi đi sứ – có thể vào khoảng cuối thời Lê, đầu thời Tây Sơn.

Học giả Trần Trọng Kim viết trong sách “Việt Nam sử lược”: “Năm Tân Mùi (1811), vua Gia Long sai quan tìm những sách dã sử nói chuyện nhà Lê và nhà Nguyễn Tây Sơn để sửa lại quốc sử… có những truyện như “Hoa tiên” của ông Nguyễn Huy Tự, “Truyện Thúy Kiều” của Nguyễn Du cũng phát hiện ra thời bấy giờ”.

Như vậy, “Truyện Thúy Kiều” được phát hiện ra vào năm 1811, tức thuộc loại sách “dã sử nói chuyện nhà Lê và nhà Nguyễn Tây Sơn” – tức đã được viết ra trước khi vua Gia Long lên ngôi.

Nhà nghiên cứu Kiều học Nguyễn Khắc Bảo cho rằng: “Thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều phải là trước đời Gia Long nhưng không thể thuộc đời vua Lê – chúa Trịnh. Thời điểm đó chính là khoảng từ sau khi Nguyễn Du bị quân Tây Sơn bắt rồi thả về an trí tại quê cha”.

Ông Bảo nhấn mạnh: “Cần nắm vững vốn từ cổ thời Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều (từ 1796 – 1801) mới chọn, phiên được từ Quốc ngữ đúng”.

Trước đây, học giả Đào Duy Anh trong “Khảo luận về Kim Vân Kiều” năm 1943 cho rằng, Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi đi sứ Trung Quốc, khoảng 1805 – 1809.

Còn Hoàng Xuân Hãn dựa vào “Đại Nam liệt truyện chính biên”, cho rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc, khoảng 1815 – 1820. Tuy nhiên, năm 1951 khi phát hiện ra chứng cứ chắc chắn rằng Truyện Kiều viết trước “Mai đình mộng ký” nên Hoàng Xuân Hãn tự bác lại ý kiến của mình và cho rằng Truyện Kiều được viết trước năm 1809.

Nhà nghiên cứu Trương Chính căn cứ thêm vào những câu thơ trong Truyện Kiều, cũng cho rằng Nguyễn Du viết vào khoảng thời gian ở “dưới chân núi Hồng”, nghĩa là từ 1796 – 1801.

Nhiều người lại tin vào kết quả khảo cứu về chữ húy thời Lê trung hưng của GS Nguyễn Tài Cẩn, PGS Ngô Đức Thọ và PGS Đào Thái Tôn để đi đến kết luận là Truyện Kiều được viết vào những năm từ 1785 – 1790.

Bởi vậy, người yêu Truyện Kiều nhận thấy 3 mốc thời gian: Khoảng năm 1789, năm 1802 và năm 1813. Nhưng điều quan trọng là trong ba mốc ấy, Truyện Kiều chính xác được viết vào năm nào?

 

Ai mang “Kim Vân Kiều truyện” về nước?

Hai bản “Kim Vân Kiều tân truyện”, bên trái là Liễu Văn đường tàng bản – in năm 1871, bên phải là Bảo Hoa các tàng bản – in năm 1879.

 

Theo nghiên cứu của PGS Lê Thanh Lân, ban đầu người ta tin rằng, Truyện Kiều được viết vào khoảng 1813 – 1820 vì hiểu chữ “hành thế”.

“Thực ra “hành thế” chỉ có nghĩa là lưu truyền trong đời, tức là được mọi người biết đến. Bởi vậy, PGS Lê Thanh Lân cho rằng rất nhiều bằng cứ cho thấy Truyện Kiều được viết trước đó rất lâu.

Học giả Hoàng Xuân Hãn từng nhắc đến Phạm Quý Thích là người đầu tiên đề thơ về Kiều trên đường vào kinh. Nhà nghiên cứu Vũ Thế Khôi cho biết bài “Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường…” thật ra có tên là “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm” có trong tập “Lập Trai tiên sinh di thi tục tập”.

Học giả Hoàng Xuân Hãn từng chỉ ra: Nguyễn Lượng bị chết vào khoảng 1807. Vì có sự phê bình của ông ấy nên biết rằng Truyện Kiều được viết vào đầu đời Gia Long hoặc trước đời Gia Long.

Liên quan đến Nguyễn Lượng, giới nghiên cứu Kiều học nhận thấy trong lời bình bằng chữ Hán của ông có bốn chữ “bách chủng hoan ngu”. Chắc chắn ông không dám viết chữ “chủng” vào thời Nguyễn vì vào năm 1803 Gia Long đã có lệnh cấm dùng chữ “chủng”, và khi viết phải thay bằng chữ “Thực”.

Trương Chính nhận xét trong Truyện Kiều có những câu nghịch ngôn, như: “Bó thân về với triều đình/ Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?”, rồi “Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” và khẳng định những câu này chỉ có thể được sáng tác trước thời Nguyễn.

Nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo nhận thấy bản “Liễu Văn Đường 1871” còn sót các chữ đáng phải kiêng dưới thời Nguyễn. “Câu 853: Tuồng chi là giống hôi tanh. Câu 1310: Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa. Câu 2750: Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày. Trong đó những chữ “Chủng” là tên vua Gia Long hồi nhỏ, và chữ “Lan” là tên mẹ cả của vua Gia Long tức Huy Gia từ phi”.

Trước đây, nhiều người cho rằng, nhờ chuyến đi sứ Nguyễn Du mới được tiếp xúc với “Kim Vân Kiều truyện” để sau đó viết Truyện Kiều. Điều này, theo PGS Lê Thanh Lân là không đúng.

Ông Lân cho rằng, có nhiều giả thuyết về thời điểm “Kim Vân Kiều truyện” vào nước ta. Học giả Hoàng Xuân Hãn đoán do Nguyễn Nễ hoặc Đoàn Nguyễn Tuấn cùng đi sứ thời Tây Sơn, khoảng 1792 – 1793 mang về.

PGS Thạch Giang lại cho rằng, có thể trong chuyến đi sứ năm 1763, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh đã mang “Hoa tiên” và “Kim Vân Kiều truyện” từ Trung Quốc về tàng trữ tại Phúc Giang thư viện. Nhờ đó Nguyễn Huy Hổ có điều kiện đọc “Hoa tiên”, Nguyễn Du do lui tới học tập nên đọc được “Kim Vân Kiều truyện” để sáng tác Truyện Kiều.

Song, điều chắc chắn ở truyện “Liên Hồ quận quân” trong cuốn “Lan Trì kiến văn lục”, viết vào khoảng 1793 – 1794 của Vũ Trinh, có câu: “Thúy Kiều gieo mình sông lớn”. Trước năm 1794 Vũ Trinh đã biết đến “Kim Vân Kiều truyện” thì Nguyễn Du đã tiếp cận không muộn hơn Vũ Trinh.

 

Vua “bật đèn xanh” phổ biến “Truyện Kiều

Trong khi chưa thể khẳng định Truyện Kiều được Nguyễn Du viết trong thời điểm nào, nhiều nhà nghiên cứu ngược dòng thời gian về năm 1786 – Nguyễn Du chịu hai cái tang lớn của anh hai Nguyễn Điều (mất 7.1786), anh cả Nguyễn Khản (mất 11.1786).

Mùa đông 1796, Nguyễn Du định vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh, bị tướng Tây Sơn là Quận Công Thận bắt giam mấy tháng, rồi vì là bạn của anh Nguyễn Nễ nên được thả về an trí ở Tiên Điền, lấy biệt hiệu là Hồng Sơn liệp hộ và Nam Hải điếu đồ.

Đến lúc này, lấy việc đi săn ở Hồng Lĩnh, câu cá ở biển Nam làm sinh kế và trong lúc “Cầm đường ngày tháng thanh nhàn/ Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao”, lại nhân vì trong tủ sách của quan Tể tướng có quyển “Kim Vân Kiều truyện” nên thi hào mới dựa vào đó để sáng tác thành “Đoạn trường Tân Thanh”.

Nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo phỏng đoán, những người được đọc đầu tiên có lẽ là anh rể Vũ Trinh có lời mặc bình, em ruột Nguyễn Lượng có lời chu bình rồi các cháu là Nguyễn Thiện, Nguyễn Hành, Nguyễn Thị Bành, Nguyễn Thị Đài.

“Công việc sáng tác Truyện Kiều có lẽ là trong khoảng 1796 – 1801. Năm 1802 Nguyễn Du đành phải ra làm quan với triều Gia Long, nhưng vì trong Truyện Kiều viết có nhiều câu phạm đại húy nên lo sợ nếu truyền bá rộng thì “Đoạn trường Tân Thanh” sẽ thành “Đoạn đầu tân đao” hạ xuống trừng trị cả dòng họ” – Nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo.

Sau này chỉ có những người thân thích như anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn mới được đọc và có bài thơ “Đề từ”, hoặc Tiến sĩ Phạm Quý Thích đọc và có bài “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm” mà sau này các bản Truyện Kiều đều khắc in ở đầu sách như bài “Đề từ”.

Chỉ đến tháng 8.1830, vua Minh Mạng đọc Truyện Kiều và có viết bài “Thánh Tổ Nhân Hoàng đế ngự chế tổng thuyết” có câu khen ngợi Thúy Kiều: “Dùng dao nhọn sát thân, lòng trinh nữ giữ mình tiết lớn, Khuyên áo gấm quy thuận, bậc trượng phu vì nước lòng ngay. Thương chí nàng cho là hiếu trung, Xét lòng nàng cho là trinh tiết”.

Bản Kiều chép tay của Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập (có mẹ kế là con gái Đại thi hào Nguyễn Du) chép ở Huế năm 1870 lại do kỵ húy quá triệt để nên sửa từ ngữ của Truyện Kiều quá nhiều.

Đến tháng 3.1871 lại có bài của vua Tự Đức khen “Truyện hay nỡ để khói tan lạnh lùng”. Và có lẽ vị Hoàng đế do văn hay chữ tốt, yêu chuộng người tài nên dù có đòi nọc Nguyễn Du ra đánh trăm roi, vẫn dựa vào quyển Kiều tịch thu được trong Di cảo của thi hào mà sai người chép và vẽ 150 bức tranh minh họa cảnh vật Truyện Kiều.

Như vậy, sau khi hai vị Hoàng đế Minh Mạng và Tự Đức “bật đèn xanh” cho việc đọc Kiều thì ở Kinh thành Huế có phong trào: Làm trai mê đánh Tổ tôm/Mê ngựa hậu bổ, mê Nôm Thúy Kiều. Người ta tranh nhau sao chép Truyện Kiều đến nỗi “giấy hiếm và quý như giấy Lạc Đô”.

TRẦN KIỆT

Giáo dục & Thời đại

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nghĩ về sứ mệnh của báo chí
Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và yêu cầu tiếp tục sắp xếp hệ thống báo chí theo hướng tinh gọn, hiệu quả, câu chuyện về sứ mệnh, mô hình phát triển và tương lai của báo chí Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nhìn nhận một cách toàn diện, khoa học và nhân văn.
Xem thêm
“Trang sách và mái trường” mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một sân chơi sáng tác
Bài phát biểu tại buổi lễ phát động cuộc thi viết về “ Trang sách & Mái trường”do Nhà xuất bảo Giáo dục Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh vào sáng ngày 12/6/2026
Xem thêm
Nhà văn Phố Giang với tác phẩm “Một dòng họ học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái”
Tôi sinh hoạt cùng anh ở Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TP.HCM & Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, đã được anh tặng hai tác phẩm thơ: Hoa trái cuối mùa, 99 Khúc tình thơ và tác phẩm văn Một dòng họ Học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái. Kể từ năm 2004 đến nay, anh đã xuất bản 8 tác phẩm thơ và 4 tác phẩm văn. Thật đáng khâm phục và tự hào với bút lực phi thường và sự cần cù sáng tạo của anh.
Xem thêm
Hành trình đi, suy ngẫm và viết
Một hôm, nhà báo Tô Đình Tuân gửi cho tôi tập bản thảo khá dày. Tôi đọc và viết không chỉ vì tình cảm đồng nghiệp quen biết nhiều năm trong nghề báo, mà còn bởi tôi hiểu khá rõ con người và hành trình nghề nghiệp của tác giả. Đặc biệt, trong giai đoạn tôi được phân công làm Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng, Tô Đình Tuân là một cộng sự đắc lực, luôn tận tâm, trách nhiệm và đầy nhiệt huyết với công việc.
Xem thêm
Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc: Từ người yêu nước đến “Đường kách mệnh”
Từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành đến sự ra đời của Đường Kách mệnh, bài viết của PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ giúp người đọc nhìn lại một chặng đường lịch sử đặc biệt – nơi chủ nghĩa yêu nước gặp gỡ chủ nghĩa Mác – Lênin để hình thành tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh và mở lối cho dân tộc Việt Nam đi tới độc lập, tự do.
Xem thêm
Lại thêm một cuốn sách ồn ào
Những ồn ào quanh Chuyện với Thanh rồi sẽ qua đi. Nhưng câu chuyện về cách ứng xử với lịch sử, với văn học và với những khác biệt trong quan điểm tiếp nhận sẽ còn tiếp tục đặt ra. Một xã hội văn minh cần có những cuộc tranh luận văn hóa nghiêm túc. Và điều kiện đầu tiên của mọi cuộc tranh luận nghiêm túc là đọc trước khi phán xét, hiểu trước khi kết luận. Đó chính là thông điệp của người viết bài này. Chỉ khi đó, tiếng nói của lý trí mới không bị lấn át bởi sự ồn ào của đám đông.
Xem thêm
Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc
Trong suốt 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025), văn học, nghệ thuật Việt Nam đã không ngừng phát triển, đồng hành cùng công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trên nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng và truyền thống dân tộc, văn học, nghệ thuật đã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, phản ánh hiện thực đời sống xã hội, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Xem thêm
Có một sự đồng điệu giữa văn hoá và nghệ thuật Việt-Pháp
Thierry kể về Paris những năm tuổi trẻ. Nhà của Thierry cách trường Sư phạm ENS Paris chừng mười lăm phút đi bộ. Ông nói về các quán cà phê nơi giới trí thức Pháp từng tranh luận thâu đêm, về những phòng tranh nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés, về Foucault với những suy tư sâu thẳm về con người và tự do. Khi nhắc đến Foucault, giọng ông chậm lại như đang nhớ về một người bạn cũ đã ra đi rất xa. Sau đó Thierry hỏi Tú rằng tại sao anh lại đến ven sông Sài Gòn để làm mỹ thuật.
Xem thêm
Văn học trong kỷ nguyên số
Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới và công nghệ mới, những thay đổi lớn đã diễn ra trong cách sáng tác và đọc văn học. Đặc biệt là sự phổ biến của văn học trực tuyến và đọc điện tử, đã làm thay đổi rất nhiều cấu trúc và hệ sinh thái văn học truyền thống. Trong cuộc cách mạng thông tin và truyền thông sâu rộng này, văn học thời đại số sẽ đứng trước những cơ hội và thách thức mới.
Xem thêm
Người trẻ và văn chương tìm đường gặp nhau
Trong thời đại số, chỉ với một cú chạm màn hình, giới trẻ có thể tiếp cận vô vàn nội dung giải trí và tri thức, khiến những trang văn cần đọc chậm, chiêm nghiệm dần đánh mất vị trí trung tâm trong thói quen tiếp nhận.
Xem thêm
Văn học có thực sự chữa được cô đơn?
Ngày nay, thông qua mạng xã hội và các phương tiện công nghệ, con người kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Nhưng một thực tại lại xảy ra: Dường như con người đang cô đơn hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, văn học nghệ thuật được kỳ vọng là sợi dây hàn gắn liên kết giữa người với người. Liệu một cuốn sách có thể mang tới sự gắn kết? Từ những cuộc đối thoại trong chuỗi sự kiện Những ngày Văn học châu Âu 2026, câu hỏi ấy đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xem thêm
Nhà văn làm báo ở chiến trường - Trên tuyến đầu chống Mỹ - Tất cả cho ngày thống nhất non sông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, văn nghệ sĩ vào chiến trường rất sớm. Đã sớm hình thành một “binh chủng văn nghệ sĩ” tại chiến trường vừa cầm trực tiếp cầm súng vừa trực tiếp sáng tác, đây là một điều đặc biệt của cuộc chiến tranh, một dấu ấn đặc sắc, để sau này nhìn lại chúng ta càng nhận thức rõ nét hơn, ý thức sâu sắc hơn về chiến tranh, để từ đó xây dựng vững chắc nền hòa bình với sự hiểu biết và trưởng thành của con người Việt Nam thời đại mới.
Xem thêm
Giữ trẻ em ở lại với văn chương
Áp lực học hành, nhịp sống gấp gáp và sức hút của giải trí số khiến trẻ em đang dần xa những trang sách. Để văn học thiếu nhi tìm lại vị trí trong đời sống hôm nay, điều quan trọng không nằm ở tác phẩm hay, mà ở môi trường đọc được nuôi dưỡng bền bỉ từ gia đình, nhà trường, người viết, nhà xuất bản và toàn xã hội. Từ đó, trẻ có thêm những khoảng lặng để mơ mộng, tưởng tượng và lớn lên cùng văn chương.
Xem thêm
AI “lên ngôi” văn đàn sẽ làm méo mó văn chương
Thuật toán AI khi được huấn luyện để “sáng tác” văn học thực chất là hành vi bóc lột sức lao động vốn hết sức vất vả, lao tâm khổ tứ của nhà văn, “cướp công” sáng tạo của họ. Trong khi đó, các ông chủ AI lại nghiễm nhiên hưởng lợi không chính đáng từ trí tuệ, mồ hôi, tâm sức lao động của nhà văn. Không chỉ vậy, khi những thuật toán AI lạnh lùng, vô cảm “sáng tạo” văn chương có thể sinh ra những đứa con tinh thần có hình hài nhưng không lành lặn sẽ dẫn đến sự dễ dãi, lệch lạc trong tiếp nhận tác phẩm của công chúng. Nguy hại nhất là AI có thể “giết chết” lý tưởng, khát vọng, động cơ, cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính của nhà văn. Nói mỉa mai, chua chát như một nhà văn, nếu để AI “lên ngôi” văn đàn thì nó không chỉ cướp “chiếc cần câu cơm” của nhà văn mà còn hủy hoại tương lai sự nghiệp sáng tác của họ.
Xem thêm
Cho ngày 30 tháng 4: Chuyện bây giờ mới kể
Thời gian là cỗ máy mài vô tình và tàn nhẫn đối với ký ức cá nhân. Trong biển thông tin hỗn loạn và nhiều kênh hôm nay, ký ức lại càng gặp nhiều thách thức thường trực và dữ dội. Một cách cổ sơ và thủ công cưỡng chống lại sự bào mòn vô tình và tàn nhẫn ấy là tìm dịp nhắc lại, thường xuyên nhắc lại.
Xem thêm
Cần chấm dứt việc truy đuổi người vi phạm giao thông
Tết Bính Ngọ về thăm quê, mình chứng kiến một vụ tai nạn giao thông hơi vô lý. Một lão nông điều khiển xe máy đang chạy trên đường, chợt lão nghe tiếng còi hụ của xe CSGT phía sau, ngỡ là cảnh sát đuổi mình nên lão tăng tốc chạy nhanh hơn. Đến đoạn km 108, QL 20 thì bị lạc tay lái, xe lao vào lề đường té bổ nhào, khiến mặt mày và tay chân lão bê bết máu. Hai anh CSGT dừng xe đỡ lão dậy cùng với người dân mang dầu, băng cad sơ cứu. Trong lúc băng lại vết thương, hai anh cảnh sát nói với lão nông và mọi người rằng, các anh chỉ truy đuổi xe của nam thanh niên vi phạm chứ không phải đuổi xe lão nông này. Do lão hoảng quá, cố chạy nhanh nên gây ra tai nạn. Sau đó ông lão được đưa vào bệnh viện chữa trị. Rất may là ông già này chỉ bị thương nhẹ nên xuất viện một ngày sau đó.
Xem thêm
Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành hiệu quả
Mọi thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều khởi nguồn từ sự giao thoa tất yếu giữa ý chí của Đảng và khát vọng của nhân dân. Ý chí tại Đại hội XIV không chỉ đơn thuần là hệ thống văn kiện chính trị, mà là sự kết tinh cao độ giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực dự báo chiến lược tài tình và khát vọng cháy bóng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Quyết sách của Đảng là thành quả của một quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, dưới ánh sáng của lý luận khoa học và tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc.
Xem thêm
Biết không hay sao vẫn lao vào?
Trong lĩnh vực văn học, đã có trường hợp sử dụng AI để sáng tác đăng báo, thậm chí in thành sách. Dẫu biết, khi sử dụng AI, tác phẩm sẽ thiếu cảm xúc, khó tạo nên giọng điệu riêng, nhưng vì lợi nhuận, vì sốt ruột nổi tiếng, người ta vẫn lao vào.
Xem thêm