TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Lời tự thoại chân thành khi “Đối diện chính mình” của nhà thơ Phạm Trung Tín

Lời tự thoại chân thành khi “Đối diện chính mình” của nhà thơ Phạm Trung Tín

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-05-03 07:37:53
mail facebook google pos stwis
2568 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc tập Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022)


“Chính mình đối diện mình thôi

Hẹp vòng quay, chậm gót rồi, hoàng hôn

Cộng trừ chi nữa dại khôn

Cõi nhân sinh rối phách hồn lạc xiêu”...

Tập thơ Đối diện chính mình

Đọc những câu trên trong khổ đầu tiên của bài thơ Đối diện chính mình mở đầu thi tập đã tạo cho tôi ấn tượng. Có lẽ, đó chính là những vần thơ được chiêm nghiệm, chắt lắng từ cuộc đời của một con người đã trải qua nhiều thăng trầm, dâu bể. Điều ấy, đã thôi thúc tôi đọc một mạch từ trang đầu tiên cho đến trang cuối cùng của tập thơ cùng tên Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín. 75 bài thơ, đó chính là lời tự thuật của một con người đã đi qua những biến cố, vui - buồn của bản thân cũng như những thăng trầm, dâu bể của thời cuộc. Nhà thơ đã theo sát nhịp đập của cuộc sống để phản ánh thế giới tâm hồn rộng lớn của con người. Những buồn - vui, sướng - khổ, hạnh phúc - bất hạnh... trong thơ Phạm Trung Tín không chỉ là nỗi niềm riêng của riêng anh mà thấm đẫm tâm sự chung của con người thời đại. 

Đối diện chính mình thể hiện rõ độ chín muồi về cảm xúc và cả trong việc vận dụng các phương thức biểu đạt. Phạm Trung Tín lặng lẽ, lắng lòng mình theo từng nhịp đi của đời sống để khẳng định cái tôi của chính mình.

Ở Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín, cái tôi trữ tình hiện lên phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc nhưng hoàn toàn thống nhất. Đó là một cái tôi nhạy cảm trước những điều xảy ra trong cuộc sống mà anh đã trải qua, đã chứng kiến, quan sát, dự cảm...

Tay cầm ly chạm nhẹ tênh/ Giật mình đáy cốc lênh đênh phận người/ Xa xôi trăng cũng như cười/ Cùng ta tròn khuyết - chín mười tỉnh say.

Sắc sảo, nhạy bén trong cách nhìn nhận về cuộc sống, nhân tình thế thái nên thơ Phạm Trung Tín không chỉ hướng vào phân tích, lý giải, bình luận ở những khía cạnh nội tại mà còn đi sâu đến những góc khuất của tâm hồn để soi thấu, tìm về suối nguồn tâm linh, bản ngã để tương giao, củng cố niềm tin và sưởi ấm lòng người. Vẫn biết trần gian là cõi tạm/ Đời người bóng nắng hắt qua song/ Xót xa thương tiếc chùng tâm khảm/ Thôi chẳng lần sau tắm một dòng (Tiễn thi sĩ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng).

Phạm Trung Tín đã từng trong quân ngũ, những năm tháng ấy đã trui rèn và tạo nên phong thái của một con người chững chạc, bình tĩnh, tự tin, ứng phó một cách linh hoạt trước mọi hoàn cảnh và có sống có nghĩa tình. Trở về sau cuộc chiến, nhà thơ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thách thức. Cuộc sống áo cơm, gia đình, bạn bè, người thân... luôn làm cho anh đau đáu và đôi lúc bất an bởi quá nhiều điều không hay ập đến. Thương trường chìm nổi - hên xui/ Chính trường thủ đoạn dập vùi cạnh tranh (Khóc bạn cố tri).

Có lẽ ông trời đã luôn thử thách một con người hiền lành, chân thành, bộc trực như anh. Bởi anh luôn đối diện với bao nhiêu bất trắc. Nhưng tất cả những điều đó không thể làm anh gục ngã, anh đã vượt qua và sống hạnh phúc bên cạnh những người thân yêu mà anh luôn quý trọng. Bởi chính họ là động lực, là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để anh vui sống với đời. Phạm Trung Tín mãi tri ân người vợ hiền Nguyễn Thị Huệ bằng những lời thơ sâu lắng: Mười tám năm mấy vui buồn/ Xóa cơn hạn, chặn mưa tuôn đã từng/ Nắng cong bông lúa rưng rưng/ Mặn mòi gió biển nuôi rừng mãi xanh// Đã yêu thương giọt đầu cành/ Càng thương nắng ấm đã dành cho nhau/ Gánh gồng miên khúc lo âu/ Thiện tâm kết nối nhịp cầu yêu thương// Nuôi con, chăm mẹ - nhịn nhường/ Tiếng thơ chồng - ủ sắc hương đất trời/ Cánh buồm căng gió xa khơi/ Ngọn nguồn hạnh phúc mỗi lời sẻ chia (Ngọn nguồn hạnh phúc).

Đối diện với chính mình chính là lời tự thú, tự thoại trước bản thân, những suy ngẫm về nhân tình thế thái, về những buồn - vui, được - mất... trong hành trình đời mà nhà thơ đã, đang và sẽ đi qua. Lạc “tham, si” vướng víu “sân”/ Mình là ai bước phong trần trả vay?/ Dối lòng chi phút chia tay/ Thiên thu luống thẹn tháng ngày trần gian.

Người từng trải và chịu nhiều va đập của cuộc sống như Phạm Trung Tín đã tạo cho anh sức bền và khả năng chống đỡ, thích ứng với mọi hoàn cảnh. Cái tôi suy tư, chiêm nghiệm giàu tính triết lý được thể hiện rõ nét trong thơ Phạm Trung Tín. Với anh, giới văn chương chữ nghĩa, cũng lắm điều để nghĩ suy:

Cõi văn chương đắm ly kỳ/ Tài tương đố mệnh chính thi thố tà/ “Trăm năm trong cõi người ta/ Ai tri âm đó mặn mà với ai?” (Cõi mình).

Giữa dòng/ chướng nghiệp/ sơn khê/ Cõi văn chương những tỉnh mê khóc cười

Và nhà thơ đã đưa ra quan điểm của mình: Nhân sinh - thế sự/ bời bời/ Nghề văn nghiệp chữ/ cuộc chơi/ tâm - tầm (Nghề văn).

Phạm Trung Tín vốn là người nhạy cảm nên những điều bất thường xảy ra, bao giờ cũng làm cho anh xót xa, thương cảm. Bão lũ ở miền Trung, dịch bệnh Covid với bao cái chết thương tâm, những bạn bè, người thân lần lượt rời xa cõi tạm... Nhà thơ đều có những vần thơ “tứa máu” giãi bày nỗi đau của mình. Anh đã đem hết tình thương và tấm lòng bao dung để trang trải với đời.  

Đối với một con người tha thiết yêu cuộc sống này như Phạm Trung Tín thì nỗi buồn và sự cô đơn là điều đáng sợ. Nhà thơ hiểu rõ giá trị của hạnh phúc, vì thế anh luôn coi trọng, gìn giữ và nâng niu. Trong cái ngắn ngủi, hữu hạn của đời người, tình yêu thương trở nên quý giá, nhất là tình mẫu tử. Ngày đón mẹ từ quê nhà vào Nam dưỡng bệnh, được “cắt móng tay cho mẹ”, Phạm Trung Tín không khỏi nghẹn ngào, xa xót. Anh nhận ra bóng dáng âm thầm, khổ đau, già nua của mẹ...

Ngón gầy gân guốc nhăn nheo/ Đồng sâu ruộng cạn đói nghèo trả vay/ Trời thương con được cầm tay/ Để xoa dịu bớt đắng cay phận người.

Sau những trầy trật, mất mát, thiệt thòi nhà thơ lại tự nghiệm ra: Cõi mình giăng mắc người ta/ Bon chen cõi đất, lãng xa cõi trời/ Cõi dương đeo đẳng cuộc đời/ Cõi âm thăm thẳm rã rời nhân gian (Cõi mình).

Lời dặn con trai là một bài thơ đầy tâm huyết với những trải nghiệm của đời mình, cha đã ân cần căn dặn, chỉ bảo con bằng những lời gan ruột. Người cha mong muốn con mình hiểu và đừng bao giờ quên những lời cha dặn!

Con trai ơi/ Phố xá người đông, nếu chạy nhanh nguy hiểm/ Điều khiển xe phải chạy đúng làn đường/ Chân số tay ga đàng hoàng cầm lái/ Khi kẹt xe nhớ đừng lấn trái/ Muốn vượt lên đừng qua mặt bên phải/ Khi đèn đỏ hãy kiên nhẫn chờ dừng/ Văn hóa nhường đường... xin đừng tửng từng tưng// Lưu thông trên đường với luật lệ giao thông/ Mức phạt các hành vi... con cần phải biết...

Khi qua tuổi sáu lăm, Phạm Trung Tín lại tự nhìn lại chính mình bằng lời tự vấn, trăn trở rất đỗi chân thành:

Chớm già ư? Tuổi sáu lăm/ Nghe ngày thấm mỏi - đêm nằm thức lâu/ Nhẩm tay giở đếm nông sâu/ Góp bao trải nghiệm thành câu vô thường// Chừng nghe tóc ngả màu sương/ Bao niềm khuất khắp nẻo đường nhân gian/ Buồn thương trăng lạnh hoa tàn/ Đời thêm nợ có, lại càng trả vay (Qua tuổi sáu lăm).

Thế giới trong thơ Phạm Trung Tín đa dạng, độc đáo với những hình ảnh vừa thực vừa ảo, vừa gần gũi nhưng cũng vừa lung linh mộng ảo. Cái tôi gắn bó tha thiết với con người, gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở chính là mạch nguồn nuôi dưỡng nhà thơ. Ở đó, có bóng dáng của mẹ, của cha, của vợ con, bạn bè... Những vần thơ chan chứa nỗi niềm thương nhớ, sâu nặng nghĩa tình.

Đi qua những năm tháng đau thương của dân tộc, hơn hết Phạm Trung Tín cũng là một người lính nên anh càng hiểu rõ những mất mát đau thương.  Thay lời một người con liệt sĩ rước linh hồn mẹ về cõi vĩnh hằng được Phạm Trung Tín viết thay liệt sĩ Phạm Đức Hùng (1948 -1970), đọc lên nghe có gì đó nấc nghẹn, rưng rưng. Nỗi đau đến khôn cùng, khi nhà thơ dùng thủ pháp đồng hiện giữa hiện tại - quá khứ để nói đến tình mẫu tử thiêng liêng. Mất mát, đau thương, sinh ly, tử biệt... nhưng vẫn còn một cõi khác, thế giới khác... rồi tất cả cũng được đoàn viên.

Mẹ rời cõi tạm - quy tiên/ Khung trời xanh cuộc đoàn viên ấm nồng/ Mẹ gần con, vợ gặp chồng/ Tâm linh vô lượng cõi hồng tiêu diêu// Buổi con đi mẹ khóc nhiều/ Miền xa chiến địa - lệnh điều quân đi/ Đạn bom chôn tuổi xuân thì/ Bước chinh chiến - bước biệt ly - chẳng về// Thương cha tấc dạ tái tê/ Đông se lạnh mỗi chiều quê não lòng/ Đau tình mẹ nỗi hoài mong/ Tỉnh mê hiu quạnh giữa vòng đời vơi// Hồn con rước mẹ về trời/ Chín mươi chín tuổi chạm nơi ảo mờ/ Hiếu tang lễ phục bàn thờ/ Hương linh di ảnh bạc phơ mái đầu// Mẹ ơi qua những bể dâu/ Trần gian bời rối sắc màu nghĩa nhân/ Tuổi tên hình bóng... xa dần/ “Tiêu sinh tịnh độ” chuyển luân cõi người.

Không chỉ những mất mát đau thương của đồng chí, đồng đội trong những năm khói lửa mà ngay cả trong cuộc sống đời thường. Để rồi trái tim anh không biết bao nhiêu lần run lên bần bật vì những mất mát đó. Chính điều này mà trong Đối diện chính mình, nhà thơ có nhiều bài đề cập đến nỗi đau ly biệt: Khóc chị, Vợ góa cựu chiến binh, Tiễn hiền huynh, Tiễn thi sĩ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng, Tiễn biệt một người thơ, Vĩnh biệt tri kỷ tri âm, Kính viếng hương hồn Đại huynh Nguyễn Cẩn, Thay lời một người con liệt sĩ rước linh hồn mẹ về cõi vĩnh hằng, Tiễn biệt lão đại nhân...

Khi viết về quê hương, đất nước, về bạn bè, đồng đội, người thân yêu ruột thịt, về cõi hư không hay cuộc sống đời thường thì những vần thơ của Phạm Trung Tín vẫn tràn ngập yêu thương, giàu tính nhân văn nhân ái. Ở đó là tình cảm, sự chia sẻ, an ủi, vỗ về với những giấc mơ, niềm khao khát để chiêm nghiệm về lẽ đời, tình người...

Phạm Trung Tín đã sống thật với lòng mình, vì thế anh đến với thơ cũng tận cùng chân thật. Đối diện với chính mình, Phạm Trung Tín biểu hiện rõ nét tình cảm chân thành, hồn hậu; thông qua những liên tưởng tinh tế, giàu sức gợi và mang đậm tính triết lý./.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm