TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Lời tự thoại chân thành khi “Đối diện chính mình” của nhà thơ Phạm Trung Tín

Lời tự thoại chân thành khi “Đối diện chính mình” của nhà thơ Phạm Trung Tín

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-05-03 07:37:53
mail facebook google pos stwis
2461 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc tập Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022)


“Chính mình đối diện mình thôi

Hẹp vòng quay, chậm gót rồi, hoàng hôn

Cộng trừ chi nữa dại khôn

Cõi nhân sinh rối phách hồn lạc xiêu”...

Tập thơ Đối diện chính mình

Đọc những câu trên trong khổ đầu tiên của bài thơ Đối diện chính mình mở đầu thi tập đã tạo cho tôi ấn tượng. Có lẽ, đó chính là những vần thơ được chiêm nghiệm, chắt lắng từ cuộc đời của một con người đã trải qua nhiều thăng trầm, dâu bể. Điều ấy, đã thôi thúc tôi đọc một mạch từ trang đầu tiên cho đến trang cuối cùng của tập thơ cùng tên Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín. 75 bài thơ, đó chính là lời tự thuật của một con người đã đi qua những biến cố, vui - buồn của bản thân cũng như những thăng trầm, dâu bể của thời cuộc. Nhà thơ đã theo sát nhịp đập của cuộc sống để phản ánh thế giới tâm hồn rộng lớn của con người. Những buồn - vui, sướng - khổ, hạnh phúc - bất hạnh... trong thơ Phạm Trung Tín không chỉ là nỗi niềm riêng của riêng anh mà thấm đẫm tâm sự chung của con người thời đại. 

Đối diện chính mình thể hiện rõ độ chín muồi về cảm xúc và cả trong việc vận dụng các phương thức biểu đạt. Phạm Trung Tín lặng lẽ, lắng lòng mình theo từng nhịp đi của đời sống để khẳng định cái tôi của chính mình.

Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín, cái tôi trữ tình hiện lên phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc nhưng hoàn toàn thống nhất. Đó là một cái tôi nhạy cảm trước những điều xảy ra trong cuộc sống mà anh đã trải qua, đã chứng kiến, quan sát, dự cảm...

Tay cầm ly chạm nhẹ tênh/ Giật mình đáy cốc lênh đênh phận người/ Xa xôi trăng cũng như cười/ Cùng ta tròn khuyết - chín mười tỉnh say.

Sắc sảo, nhạy bén trong cách nhìn nhận về cuộc sống, nhân tình thế thái nên thơ Phạm Trung Tín không chỉ hướng vào phân tích, lý giải, bình luận ở những khía cạnh nội tại mà còn đi sâu đến những góc khuất của tâm hồn để soi thấu, tìm về suối nguồn tâm linh, bản ngã để tương giao, củng cố niềm tin và sưởi ấm lòng người. Vẫn biết trần gian là cõi tạm/ Đời người bóng nắng hắt qua song/ Xót xa thương tiếc chùng tâm khảm/ Thôi chẳng lần sau tắm một dòng (Tiễn thi sĩ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng).

Phạm Trung Tín đã từng trong quân ngũ, những năm tháng ấy đã trui rèn và tạo nên phong thái của một con người chững chạc, bình tĩnh, tự tin, ứng phó một cách linh hoạt trước mọi hoàn cảnh và có sống có nghĩa tình. Trở về sau cuộc chiến, nhà thơ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thách thức. Cuộc sống áo cơm, gia đình, bạn bè, người thân... luôn làm cho anh đau đáu và đôi lúc bất an bởi quá nhiều điều không hay ập đến. Thương trường chìm nổi - hên xui/ Chính trường thủ đoạn dập vùi cạnh tranh (Khóc bạn cố tri).

Có lẽ ông trời đã luôn thử thách một con người hiền lành, chân thành, bộc trực như anh. Bởi anh luôn đối diện với bao nhiêu bất trắc. Nhưng tất cả những điều đó không thể làm anh gục ngã, anh đã vượt qua và sống hạnh phúc bên cạnh những người thân yêu mà anh luôn quý trọng. Bởi chính họ là động lực, là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để anh vui sống với đời. Phạm Trung Tín mãi tri ân người vợ hiền Nguyễn Thị Huệ bằng những lời thơ sâu lắng: Mười tám năm mấy vui buồn/ Xóa cơn hạn, chặn mưa tuôn đã từng/ Nắng cong bông lúa rưng rưng/ Mặn mòi gió biển nuôi rừng mãi xanh// Đã yêu thương giọt đầu cành/ Càng thương nắng ấm đã dành cho nhau/ Gánh gồng miên khúc lo âu/ Thiện tâm kết nối nhịp cầu yêu thương// Nuôi con, chăm mẹ - nhịn nhường/ Tiếng thơ chồng - ủ sắc hương đất trời/ Cánh buồm căng gió xa khơi/ Ngọn nguồn hạnh phúc mỗi lời sẻ chia (Ngọn nguồn hạnh phúc).

Đối diện với chính mình chính là lời tự thú, tự thoại trước bản thân, những suy ngẫm về nhân tình thế thái, về những buồn - vui, được - mất... trong hành trình đời mà nhà thơ đã, đang và sẽ đi qua. Lạc “tham, si” vướng víu “sân”/ Mình là ai bước phong trần trả vay?/ Dối lòng chi phút chia tay/ Thiên thu luống thẹn tháng ngày trần gian.

Người từng trải và chịu nhiều va đập của cuộc sống như Phạm Trung Tín đã tạo cho anh sức bền và khả năng chống đỡ, thích ứng với mọi hoàn cảnh. Cái tôi suy tư, chiêm nghiệm giàu tính triết lý được thể hiện rõ nét trong thơ Phạm Trung Tín. Với anh, giới văn chương chữ nghĩa, cũng lắm điều để nghĩ suy:

Cõi văn chương đắm ly kỳ/ Tài tương đố mệnh chính thi thố tà/ “Trăm năm trong cõi người ta/ Ai tri âm đó mặn mà với ai?” (Cõi mình).

Giữa dòng/ chướng nghiệp/ sơn khê/ Cõi văn chương những tỉnh mê khóc cười

Và nhà thơ đã đưa ra quan điểm của mình: Nhân sinh - thế sự/ bời bời/ Nghề văn nghiệp chữ/ cuộc chơi/ tâm - tầm (Nghề văn).

Phạm Trung Tín vốn là người nhạy cảm nên những điều bất thường xảy ra, bao giờ cũng làm cho anh xót xa, thương cảm. Bão lũ ở miền Trung, dịch bệnh Covid với bao cái chết thương tâm, những bạn bè, người thân lần lượt rời xa cõi tạm... Nhà thơ đều có những vần thơ “tứa máu” giãi bày nỗi đau của mình. Anh đã đem hết tình thương và tấm lòng bao dung để trang trải với đời.  

Đối với một con người tha thiết yêu cuộc sống này như Phạm Trung Tín thì nỗi buồn và sự cô đơn là điều đáng sợ. Nhà thơ hiểu rõ giá trị của hạnh phúc, vì thế anh luôn coi trọng, gìn giữ và nâng niu. Trong cái ngắn ngủi, hữu hạn của đời người, tình yêu thương trở nên quý giá, nhất là tình mẫu tử. Ngày đón mẹ từ quê nhà vào Nam dưỡng bệnh, được “cắt móng tay cho mẹ”, Phạm Trung Tín không khỏi nghẹn ngào, xa xót. Anh nhận ra bóng dáng âm thầm, khổ đau, già nua của mẹ...

Ngón gầy gân guốc nhăn nheo/ Đồng sâu ruộng cạn đói nghèo trả vay/ Trời thương con được cầm tay/ Để xoa dịu bớt đắng cay phận người.

Sau những trầy trật, mất mát, thiệt thòi nhà thơ lại tự nghiệm ra: Cõi mình giăng mắc người ta/ Bon chen cõi đất, lãng xa cõi trời/ Cõi dương đeo đẳng cuộc đời/ Cõi âm thăm thẳm rã rời nhân gian (Cõi mình).

Lời dặn con trai là một bài thơ đầy tâm huyết với những trải nghiệm của đời mình, cha đã ân cần căn dặn, chỉ bảo con bằng những lời gan ruột. Người cha mong muốn con mình hiểu và đừng bao giờ quên những lời cha dặn!

Con trai ơi/ Phố xá người đông, nếu chạy nhanh nguy hiểm/ Điều khiển xe phải chạy đúng làn đường/ Chân số tay ga đàng hoàng cầm lái/ Khi kẹt xe nhớ đừng lấn trái/ Muốn vượt lên đừng qua mặt bên phải/ Khi đèn đỏ hãy kiên nhẫn chờ dừng/ Văn hóa nhường đường... xin đừng tửng từng tưng// Lưu thông trên đường với luật lệ giao thông/ Mức phạt các hành vi... con cần phải biết...

Khi qua tuổi sáu lăm, Phạm Trung Tín lại tự nhìn lại chính mình bằng lời tự vấn, trăn trở rất đỗi chân thành:

Chớm già ư? Tuổi sáu lăm/ Nghe ngày thấm mỏi - đêm nằm thức lâu/ Nhẩm tay giở đếm nông sâu/ Góp bao trải nghiệm thành câu vô thường// Chừng nghe tóc ngả màu sương/ Bao niềm khuất khắp nẻo đường nhân gian/ Buồn thương trăng lạnh hoa tàn/ Đời thêm nợ có, lại càng trả vay (Qua tuổi sáu lăm).

Thế giới trong thơ Phạm Trung Tín đa dạng, độc đáo với những hình ảnh vừa thực vừa ảo, vừa gần gũi nhưng cũng vừa lung linh mộng ảo. Cái tôi gắn bó tha thiết với con người, gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở chính là mạch nguồn nuôi dưỡng nhà thơ. Ở đó, có bóng dáng của mẹ, của cha, của vợ con, bạn bè... Những vần thơ chan chứa nỗi niềm thương nhớ, sâu nặng nghĩa tình.

Đi qua những năm tháng đau thương của dân tộc, hơn hết Phạm Trung Tín cũng là một người lính nên anh càng hiểu rõ những mất mát đau thương.  Thay lời một người con liệt sĩ rước linh hồn mẹ về cõi vĩnh hằng được Phạm Trung Tín viết thay liệt sĩ Phạm Đức Hùng (1948 -1970), đọc lên nghe có gì đó nấc nghẹn, rưng rưng. Nỗi đau đến khôn cùng, khi nhà thơ dùng thủ pháp đồng hiện giữa hiện tại - quá khứ để nói đến tình mẫu tử thiêng liêng. Mất mát, đau thương, sinh ly, tử biệt... nhưng vẫn còn một cõi khác, thế giới khác... rồi tất cả cũng được đoàn viên.

Mẹ rời cõi tạm - quy tiên/ Khung trời xanh cuộc đoàn viên ấm nồng/ Mẹ gần con, vợ gặp chồng/ Tâm linh vô lượng cõi hồng tiêu diêu// Buổi con đi mẹ khóc nhiều/ Miền xa chiến địa - lệnh điều quân đi/ Đạn bom chôn tuổi xuân thì/ Bước chinh chiến - bước biệt ly - chẳng về// Thương cha tấc dạ tái tê/ Đông se lạnh mỗi chiều quê não lòng/ Đau tình mẹ nỗi hoài mong/ Tỉnh mê hiu quạnh giữa vòng đời vơi// Hồn con rước mẹ về trời/ Chín mươi chín tuổi chạm nơi ảo mờ/ Hiếu tang lễ phục bàn thờ/ Hương linh di ảnh bạc phơ mái đầu// Mẹ ơi qua những bể dâu/ Trần gian bời rối sắc màu nghĩa nhân/ Tuổi tên hình bóng... xa dần/ “Tiêu sinh tịnh độ” chuyển luân cõi người.

Không chỉ những mất mát đau thương của đồng chí, đồng đội trong những năm khói lửa mà ngay cả trong cuộc sống đời thường. Để rồi trái tim anh không biết bao nhiêu lần run lên bần bật vì những mất mát đó. Chính điều này mà trong Đối diện chính mình, nhà thơ có nhiều bài đề cập đến nỗi đau ly biệt: Khóc chị, Vợ góa cựu chiến binh, Tiễn hiền huynh, Tiễn thi sĩ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng, Tiễn biệt một người thơ, Vĩnh biệt tri kỷ tri âm, Kính viếng hương hồn Đại huynh Nguyễn Cẩn, Thay lời một người con liệt sĩ rước linh hồn mẹ về cõi vĩnh hằng, Tiễn biệt lão đại nhân...

Khi viết về quê hương, đất nước, về bạn bè, đồng đội, người thân yêu ruột thịt, về cõi hư không hay cuộc sống đời thường thì những vần thơ của Phạm Trung Tín vẫn tràn ngập yêu thương, giàu tính nhân văn nhân ái. Ở đó là tình cảm, sự chia sẻ, an ủi, vỗ về với những giấc mơ, niềm khao khát để chiêm nghiệm về lẽ đời, tình người...

Phạm Trung Tín đã sống thật với lòng mình, vì thế anh đến với thơ cũng tận cùng chân thật. Đối diện với chính mình, Phạm Trung Tín biểu hiện rõ nét tình cảm chân thành, hồn hậu; thông qua những liên tưởng tinh tế, giàu sức gợi và mang đậm tính triết lý./.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm