TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Lời tự thoại chân thành khi “Đối diện chính mình” của nhà thơ Phạm Trung Tín

Lời tự thoại chân thành khi “Đối diện chính mình” của nhà thơ Phạm Trung Tín

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-05-03 07:37:53
mail facebook google pos stwis
2185 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc tập Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022)


“Chính mình đối diện mình thôi

Hẹp vòng quay, chậm gót rồi, hoàng hôn

Cộng trừ chi nữa dại khôn

Cõi nhân sinh rối phách hồn lạc xiêu”...

Tập thơ Đối diện chính mình

Đọc những câu trên trong khổ đầu tiên của bài thơ Đối diện chính mình mở đầu thi tập đã tạo cho tôi ấn tượng. Có lẽ, đó chính là những vần thơ được chiêm nghiệm, chắt lắng từ cuộc đời của một con người đã trải qua nhiều thăng trầm, dâu bể. Điều ấy, đã thôi thúc tôi đọc một mạch từ trang đầu tiên cho đến trang cuối cùng của tập thơ cùng tên Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín. 75 bài thơ, đó chính là lời tự thuật của một con người đã đi qua những biến cố, vui - buồn của bản thân cũng như những thăng trầm, dâu bể của thời cuộc. Nhà thơ đã theo sát nhịp đập của cuộc sống để phản ánh thế giới tâm hồn rộng lớn của con người. Những buồn - vui, sướng - khổ, hạnh phúc - bất hạnh... trong thơ Phạm Trung Tín không chỉ là nỗi niềm riêng của riêng anh mà thấm đẫm tâm sự chung của con người thời đại. 

Đối diện chính mình thể hiện rõ độ chín muồi về cảm xúc và cả trong việc vận dụng các phương thức biểu đạt. Phạm Trung Tín lặng lẽ, lắng lòng mình theo từng nhịp đi của đời sống để khẳng định cái tôi của chính mình.

Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín, cái tôi trữ tình hiện lên phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc nhưng hoàn toàn thống nhất. Đó là một cái tôi nhạy cảm trước những điều xảy ra trong cuộc sống mà anh đã trải qua, đã chứng kiến, quan sát, dự cảm...

Tay cầm ly chạm nhẹ tênh/ Giật mình đáy cốc lênh đênh phận người/ Xa xôi trăng cũng như cười/ Cùng ta tròn khuyết - chín mười tỉnh say.

Sắc sảo, nhạy bén trong cách nhìn nhận về cuộc sống, nhân tình thế thái nên thơ Phạm Trung Tín không chỉ hướng vào phân tích, lý giải, bình luận ở những khía cạnh nội tại mà còn đi sâu đến những góc khuất của tâm hồn để soi thấu, tìm về suối nguồn tâm linh, bản ngã để tương giao, củng cố niềm tin và sưởi ấm lòng người. Vẫn biết trần gian là cõi tạm/ Đời người bóng nắng hắt qua song/ Xót xa thương tiếc chùng tâm khảm/ Thôi chẳng lần sau tắm một dòng (Tiễn thi sĩ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng).

Phạm Trung Tín đã từng trong quân ngũ, những năm tháng ấy đã trui rèn và tạo nên phong thái của một con người chững chạc, bình tĩnh, tự tin, ứng phó một cách linh hoạt trước mọi hoàn cảnh và có sống có nghĩa tình. Trở về sau cuộc chiến, nhà thơ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thách thức. Cuộc sống áo cơm, gia đình, bạn bè, người thân... luôn làm cho anh đau đáu và đôi lúc bất an bởi quá nhiều điều không hay ập đến. Thương trường chìm nổi - hên xui/ Chính trường thủ đoạn dập vùi cạnh tranh (Khóc bạn cố tri).

Có lẽ ông trời đã luôn thử thách một con người hiền lành, chân thành, bộc trực như anh. Bởi anh luôn đối diện với bao nhiêu bất trắc. Nhưng tất cả những điều đó không thể làm anh gục ngã, anh đã vượt qua và sống hạnh phúc bên cạnh những người thân yêu mà anh luôn quý trọng. Bởi chính họ là động lực, là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để anh vui sống với đời. Phạm Trung Tín mãi tri ân người vợ hiền Nguyễn Thị Huệ bằng những lời thơ sâu lắng: Mười tám năm mấy vui buồn/ Xóa cơn hạn, chặn mưa tuôn đã từng/ Nắng cong bông lúa rưng rưng/ Mặn mòi gió biển nuôi rừng mãi xanh// Đã yêu thương giọt đầu cành/ Càng thương nắng ấm đã dành cho nhau/ Gánh gồng miên khúc lo âu/ Thiện tâm kết nối nhịp cầu yêu thương// Nuôi con, chăm mẹ - nhịn nhường/ Tiếng thơ chồng - ủ sắc hương đất trời/ Cánh buồm căng gió xa khơi/ Ngọn nguồn hạnh phúc mỗi lời sẻ chia (Ngọn nguồn hạnh phúc).

Đối diện với chính mình chính là lời tự thú, tự thoại trước bản thân, những suy ngẫm về nhân tình thế thái, về những buồn - vui, được - mất... trong hành trình đời mà nhà thơ đã, đang và sẽ đi qua. Lạc “tham, si” vướng víu “sân”/ Mình là ai bước phong trần trả vay?/ Dối lòng chi phút chia tay/ Thiên thu luống thẹn tháng ngày trần gian.

Người từng trải và chịu nhiều va đập của cuộc sống như Phạm Trung Tín đã tạo cho anh sức bền và khả năng chống đỡ, thích ứng với mọi hoàn cảnh. Cái tôi suy tư, chiêm nghiệm giàu tính triết lý được thể hiện rõ nét trong thơ Phạm Trung Tín. Với anh, giới văn chương chữ nghĩa, cũng lắm điều để nghĩ suy:

Cõi văn chương đắm ly kỳ/ Tài tương đố mệnh chính thi thố tà/ “Trăm năm trong cõi người ta/ Ai tri âm đó mặn mà với ai?” (Cõi mình).

Giữa dòng/ chướng nghiệp/ sơn khê/ Cõi văn chương những tỉnh mê khóc cười

Và nhà thơ đã đưa ra quan điểm của mình: Nhân sinh - thế sự/ bời bời/ Nghề văn nghiệp chữ/ cuộc chơi/ tâm - tầm (Nghề văn).

Phạm Trung Tín vốn là người nhạy cảm nên những điều bất thường xảy ra, bao giờ cũng làm cho anh xót xa, thương cảm. Bão lũ ở miền Trung, dịch bệnh Covid với bao cái chết thương tâm, những bạn bè, người thân lần lượt rời xa cõi tạm... Nhà thơ đều có những vần thơ “tứa máu” giãi bày nỗi đau của mình. Anh đã đem hết tình thương và tấm lòng bao dung để trang trải với đời.  

Đối với một con người tha thiết yêu cuộc sống này như Phạm Trung Tín thì nỗi buồn và sự cô đơn là điều đáng sợ. Nhà thơ hiểu rõ giá trị của hạnh phúc, vì thế anh luôn coi trọng, gìn giữ và nâng niu. Trong cái ngắn ngủi, hữu hạn của đời người, tình yêu thương trở nên quý giá, nhất là tình mẫu tử. Ngày đón mẹ từ quê nhà vào Nam dưỡng bệnh, được “cắt móng tay cho mẹ”, Phạm Trung Tín không khỏi nghẹn ngào, xa xót. Anh nhận ra bóng dáng âm thầm, khổ đau, già nua của mẹ...

Ngón gầy gân guốc nhăn nheo/ Đồng sâu ruộng cạn đói nghèo trả vay/ Trời thương con được cầm tay/ Để xoa dịu bớt đắng cay phận người.

Sau những trầy trật, mất mát, thiệt thòi nhà thơ lại tự nghiệm ra: Cõi mình giăng mắc người ta/ Bon chen cõi đất, lãng xa cõi trời/ Cõi dương đeo đẳng cuộc đời/ Cõi âm thăm thẳm rã rời nhân gian (Cõi mình).

Lời dặn con trai là một bài thơ đầy tâm huyết với những trải nghiệm của đời mình, cha đã ân cần căn dặn, chỉ bảo con bằng những lời gan ruột. Người cha mong muốn con mình hiểu và đừng bao giờ quên những lời cha dặn!

Con trai ơi/ Phố xá người đông, nếu chạy nhanh nguy hiểm/ Điều khiển xe phải chạy đúng làn đường/ Chân số tay ga đàng hoàng cầm lái/ Khi kẹt xe nhớ đừng lấn trái/ Muốn vượt lên đừng qua mặt bên phải/ Khi đèn đỏ hãy kiên nhẫn chờ dừng/ Văn hóa nhường đường... xin đừng tửng từng tưng// Lưu thông trên đường với luật lệ giao thông/ Mức phạt các hành vi... con cần phải biết...

Khi qua tuổi sáu lăm, Phạm Trung Tín lại tự nhìn lại chính mình bằng lời tự vấn, trăn trở rất đỗi chân thành:

Chớm già ư? Tuổi sáu lăm/ Nghe ngày thấm mỏi - đêm nằm thức lâu/ Nhẩm tay giở đếm nông sâu/ Góp bao trải nghiệm thành câu vô thường// Chừng nghe tóc ngả màu sương/ Bao niềm khuất khắp nẻo đường nhân gian/ Buồn thương trăng lạnh hoa tàn/ Đời thêm nợ có, lại càng trả vay (Qua tuổi sáu lăm).

Thế giới trong thơ Phạm Trung Tín đa dạng, độc đáo với những hình ảnh vừa thực vừa ảo, vừa gần gũi nhưng cũng vừa lung linh mộng ảo. Cái tôi gắn bó tha thiết với con người, gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở chính là mạch nguồn nuôi dưỡng nhà thơ. Ở đó, có bóng dáng của mẹ, của cha, của vợ con, bạn bè... Những vần thơ chan chứa nỗi niềm thương nhớ, sâu nặng nghĩa tình.

Đi qua những năm tháng đau thương của dân tộc, hơn hết Phạm Trung Tín cũng là một người lính nên anh càng hiểu rõ những mất mát đau thương.  Thay lời một người con liệt sĩ rước linh hồn mẹ về cõi vĩnh hằng được Phạm Trung Tín viết thay liệt sĩ Phạm Đức Hùng (1948 -1970), đọc lên nghe có gì đó nấc nghẹn, rưng rưng. Nỗi đau đến khôn cùng, khi nhà thơ dùng thủ pháp đồng hiện giữa hiện tại - quá khứ để nói đến tình mẫu tử thiêng liêng. Mất mát, đau thương, sinh ly, tử biệt... nhưng vẫn còn một cõi khác, thế giới khác... rồi tất cả cũng được đoàn viên.

Mẹ rời cõi tạm - quy tiên/ Khung trời xanh cuộc đoàn viên ấm nồng/ Mẹ gần con, vợ gặp chồng/ Tâm linh vô lượng cõi hồng tiêu diêu// Buổi con đi mẹ khóc nhiều/ Miền xa chiến địa - lệnh điều quân đi/ Đạn bom chôn tuổi xuân thì/ Bước chinh chiến - bước biệt ly - chẳng về// Thương cha tấc dạ tái tê/ Đông se lạnh mỗi chiều quê não lòng/ Đau tình mẹ nỗi hoài mong/ Tỉnh mê hiu quạnh giữa vòng đời vơi// Hồn con rước mẹ về trời/ Chín mươi chín tuổi chạm nơi ảo mờ/ Hiếu tang lễ phục bàn thờ/ Hương linh di ảnh bạc phơ mái đầu// Mẹ ơi qua những bể dâu/ Trần gian bời rối sắc màu nghĩa nhân/ Tuổi tên hình bóng... xa dần/ “Tiêu sinh tịnh độ” chuyển luân cõi người.

Không chỉ những mất mát đau thương của đồng chí, đồng đội trong những năm khói lửa mà ngay cả trong cuộc sống đời thường. Để rồi trái tim anh không biết bao nhiêu lần run lên bần bật vì những mất mát đó. Chính điều này mà trong Đối diện chính mình, nhà thơ có nhiều bài đề cập đến nỗi đau ly biệt: Khóc chị, Vợ góa cựu chiến binh, Tiễn hiền huynh, Tiễn thi sĩ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng, Tiễn biệt một người thơ, Vĩnh biệt tri kỷ tri âm, Kính viếng hương hồn Đại huynh Nguyễn Cẩn, Thay lời một người con liệt sĩ rước linh hồn mẹ về cõi vĩnh hằng, Tiễn biệt lão đại nhân...

Khi viết về quê hương, đất nước, về bạn bè, đồng đội, người thân yêu ruột thịt, về cõi hư không hay cuộc sống đời thường thì những vần thơ của Phạm Trung Tín vẫn tràn ngập yêu thương, giàu tính nhân văn nhân ái. Ở đó là tình cảm, sự chia sẻ, an ủi, vỗ về với những giấc mơ, niềm khao khát để chiêm nghiệm về lẽ đời, tình người...

Phạm Trung Tín đã sống thật với lòng mình, vì thế anh đến với thơ cũng tận cùng chân thật. Đối diện với chính mình, Phạm Trung Tín biểu hiện rõ nét tình cảm chân thành, hồn hậu; thông qua những liên tưởng tinh tế, giàu sức gợi và mang đậm tính triết lý./.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm