TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Từ gió mẹ đến lời tuyên thệ – năm lát cắt lặng thầm của ánh sáng

Từ gió mẹ đến lời tuyên thệ – năm lát cắt lặng thầm của ánh sáng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-04-26 11:22:53
mail facebook google pos stwis
2769 lượt xem

Nhà thơ Lê Cảnh Nhạc (Bút danh: Lam Giang), sinh năm 1957, quê Hà Tĩnh, sống ở Hà Nội, nghề nghiệp chính: Nhà báo, Nhà văn; trình độ văn hóa: Tiến sĩ; hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tác phẩm chính đã xuất bản: Khúc giao mùa (Tập thơ 2005); Không bao giờ trăng khuyết (Tập thơ 2010); Khúc thiên thai (Tập thơ 2015); Non nước đàn trời (Tập thơ 2015); Đi về phía mặt trời (Tập thơ 2024); Duyên tình thơ-nhạc tập 1 (Lê Cảnh Nhạc-Đức Trịnh 2024); Duyên tình thơ-nhạc tập 2 (Lê Cảnh Nhạc-Các nhạc sĩ 2024). Văn xuôi: Người học trò thứ 31 (Tập truyện 1990); Nỗi oan của Đốm (Tập truyện 1992); Mầm ác và hướng thiện (Tập ký 1994); Lâu đài (Tập truyện1999); Lời ru không bán (Tập truyện 2000).
Lê Cảnh Nhạc còn là tác giả ca từ của gần 150 ca khúc, hợp xướng, nhạc kịch, nhạc phim; tác giả kịch bản của nhiều chương trình nghệ thuật quốc gia và địa phương do các Đoàn Nghệ thuật Trung ương, quân đội và địa phương thực hiện

 

Tập thơ “Đi về phía mặt trời” là hành trình thi ca đầy trăn trở, suy nghiệm và khát vọng nhân văn của nhà thơ Lê Cảnh Nhạc. Với hơn 120 bài thơ được chia làm hai phần chính: “Dặm đời” và “Hồn Việt”, tác phẩm không chỉ là nhật ký tinh thần, mà còn là bản trường ca đa thanh, nơi cá nhân và cộng đồng giao thoa. Ở đó, người đọc bắt gặp một tâm hồn nồng nhiệt trước tình yêu, gia đình, thiên nhiên và quê hương đất nước. Ngôn ngữ thơ dung dị, giàu hình ảnh và cảm xúc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa đời thường và triết lý sống, giữa cái riêng tư và chất sử thi cộng đồng. “Đi về phía mặt trời” không chỉ là một cuộc tìm kiếm ánh sáng, mà còn là lời hiệu triệu sống tử tế, yêu thương và không ngừng hy vọng.

Rút từ tập thơ “Đi về phía mặt trời”, chùm thơ dưới đây như những “chùm tia nắng” lặng lẽ soi chiếu vào các tầng sâu của con người và cuộc sống. Dù viết về tình yêu, tình mẫu tử, đạo lý sống hay khát vọng làm người, nhà thơ Lê Cảnh Nhạc đều giữ cho thơ mình một chất giọng chân thành, sâu sắc và đầy ám ảnh. Có lúc nhẹ nhàng như gió mẹ, có lúc cất lên như lời tuyên thệ rắn rỏi giữa cuộc đời; khi thì chiêm nghiệm kiếp người như hạt cát nhỏ, khi lại không khoan nhượng với cái ác… Mỗi bài thơ là một lát cắt, một nốt trầm sáng giá trong bản hòa âm thi ca nhiều màu.
 

Con tàu và bến cảng

Có những chiếc gai giấu trong lời khen
Có những đắng cay hoà trong dịu ngọt
Giận hờn thường kiếm tìm vỗ về từ nơi khác
Xin em chớ trải lòng khoả lấp sẻ chia

Có thể bóng mây ám ảnh bầu trời
Có thể người thân yêu của mình lầm lỗi
Giận hờn hành hạ ta trong khổ đau buốt nhói
Đừng lấy lỗi lầm kia trừng phạt chính mình

Im lặng là vàng, im lặng cũng xót xa
Anh suy nghĩ còn em thường suy diễn
Anh thấy sau tầng mây vầng dương luôn cháy sáng
Em chỉ thấy mưa tuôn bão cuốn phía chân trời

Em muốn con tàu chỉ cập bến cảng thôi
Nhưng số phận con tàu giong buồm trên biển cả
Đừng sợ chênh chao giữa bão bùng sóng gió
Neo bến suốt cuộc đời, tàu chẳng khác thuyền nan

Ở bên anh, em cảm thấy bình yên
Đừng lãng phí thời cơ mỗi lần tàu cập bến
Đời người gang tay thời gian hữu hạn
Ngọn lửa tình yêu qua bão tố cháy bùng

Đâu chỉ cần có người để được yêu thương
Hạnh phúc cần có người để quên đi tất cả
Tột cùng tin yêu, tột cùng đau khổ
Bởi chẳng có ai hoàn hảo ở trên đời

 

Gió và mẹ

Mẹ bốn mùa là ngọn gió Tín Phong
Cho con giông buồm ra khơi vào lộng
Như làn heo may hoa về thụ phấn
Mẹ chắt chiu đơm trái chín thơm vườn

Năng lượng mẹ trao ngọn gió tâm hồn
Cho chúng con vươn mình tỏa sáng
Gió nâng triều lên gọi con vào lộng
Nghe gió về mẹ ngóng phía trùng khơi

Bão tố gầm lên, gió giật sóng dồi
Lòng mẹ bất an âu lo bối rối
Gió chướng tràn qua, ào ào lốc xoáy
Mẹ dang tay che chắn những mầm cây

Mẹ dắt con qua mưa gió cuộc đời
Dò hướng từng cơn nam cồ, nam mái
Lòng mẹ cồn cào lắng nghe gió nổi
Phấp phỏng dõi theo từng bước chân con

Tình mẹ dạt dào ngọn gió mùa xuân
Vạn vật sinh sôi khởi nguồn sinh khí
Đi đến cuối trời chưa qua tà áo mẹ
Gói trăm ngàn ngọn gió phía cực Đông

(Tuy Hòa, 15/8/2024)

 

Cái ác

Có cái ác của những kẻ mạnh
Có cái ác của những kẻ yếu hèn
Cái ác kẻ mạnh thường hiện hình
Cái ác kẻ yếu hèn tẩm lời thuốc độc

Cái ác lẻn vào bóng đêm
Ném lưỡi tắc kè zalo phây búc
Khoác áo nạn nhân
Ăn mày lòng thương xót
Khía mũi dao tẩm độc
Lách luồn niềm tin
Lách luồn hóng hớt
Lách luồn đơm đặt
Lách luồn xót xa
Tạo sóng bóng ma
Cuộn đen dòng chảy

Giảo biện:
“Nhẫn nhịn là Phật
Tàn độc là anh hùng”
Cái ác thành vô can
Khi dìm chết nạn nhân

Trong bùn lầy ngập ngụa
Bè bạn người thân
Ai đồng cảm sẻ chia
Ai lặng thinh ngờ vực
Ai hòa thêm độc dược
Ai nhận ra bóng ma
Ai bóc mẽ gian tà
Ai sợ bùn vương mặt

Sân khấu cuộc đời
Bày giữa nhân gian
Không có cánh gà
Cho kép đào thay áo

Ngoảnh lại ngậm cười
Từng người vào vai diễn
Nhân quả đi và đến
Con trai ăn trái đắng vườn mẹ
Con gái uống nước đục dòng cha

Cái ác dẫu đi qua
Mầm ác còn vương vãi
Thêm ngộ lời Phật dạy
Cứ mở lòng mặc ngang trái chúng sinh

(14/11/2023)

 

Ta chỉ là hạt cát

Tờ lịch nhắc tuổi mới
Giật mình bóng chiều buông
Bao nhiêu là chìm nổi
Bao nhiêu là tuyết sương

Cuộc đời như hạt cát
Khi bay lên ngang trời
Khi rơi vào quên lãng
Khi lặng thầm chơi vơi

Có ngọn gió mát lành
Nâng niu và ve vuốt
Có trận gió cuồng phong
Tàn độc và giá buốt

Ta vẫn là hạt cát
Lăn lóc trong dòng đời
Lời hoa ai gửi đến
Lấp lánh ngày cát ơi

(15/8/2024)

 

Lời tuyên thệ

(Tặng con trai Lê Cảnh Đức)

Hai mươi tuổi con bước vào đội ngũ
Mắt long lanh đứng tuyên thệ dưới cờ
Lớp sinh viên tiên phong đầy nhiệt huyết
Quyết dấn thân theo lý tưởng Bác Hồ

Năm lời thề nguyện vì dân vì nước
Dẫn dắt con qua giông bão cuộc đời
Bao giông bão không đến từ phía trước
Rình rập manh nha trong chính mình thôi

Quyền lực, tiền tài, hư danh, cơ hội
Đốn ngã biết bao đồng chí dọc đường đi
Và bao người đã phản bội lời thề
Mượn danh Đảng vấy bẩn màu cờ Đảng

Anh hùng kiên trung tôi mình qua lửa đạn
Cái chết trước kẻ thù xem nhẹ tựa hồng mao
Bỗng một ngày bị cuốn xuống bùn sâu
Không thắng nổi chính mình trước hư vinh, cám dỗ

Con hãy ngẩng cao đầu bước đi đừng run sợ
Biến lời thề hôm nay thành lẽ sống đời mình
Chẳng cám dỗ nào thay máu được con tim
Khi chí nguyện dưới cờ thấm trong từng huyết mạch.

(26/10/2019)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm