TIN TỨC

Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-07 22:19:04
mail facebook google pos stwis
472 lượt xem

“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.

Trong xu hướng chung đó, văn chương của các nhà văn đoạt giải Nobel gần đây - Annie Ernaux (Pháp, 2022), Jon Fosse (Na Uy, 2023), Han Kang (Hàn Quốc, 2024) - đều gặp gỡ nhau ở quan niệm viết như một hành vi khơi gợi niềm tin vào cái đẹp. Ngày càng rời xa những hào quang và danh tiếng, văn chương Nobel áp sát vào những chấn thương nhân loại. Dữ dội, đau đớn, thành thật, những tác phẩm của các nhà văn đoạt giải Nobel văn chương gần đây chính là những thông điệp nhân văn, có giá trị chữa lành những sang chấn tâm hồn, hóa giải nỗi đau qua ngôn từ nghệ thuật. Ở đó, viết là một đam mê, và cũng là hành động đối mặt với nỗi đau. Ở đó, con người tìm lại chính mình qua những đứt gãy cộng đồng, khủng hoảng sinh thái và bất ổn căn tính.

Viết là một hành vi chữa lành

Không phải ngẫu nhiên, trong các diễn từ Nobel, các nhà văn đều bày tỏ quan niệm về việc viết. Với họ viết không đơn giản là một hoạt động nghệ thuật mà còn là một cách thức tự chữa lành.

Jon Fosse, nhà văn Na Uy quan niệm, “viết là một kiểu cầu nguyện”, “viết lách mang lại cho tôi cảm giác an toàn, mang lại cho tôi sự đối lập với nỗi sợ hãi”. Những sang chấn tuổi thơ khiến Jon Fosse trút niềm đau vào sáng tác với lối viết “lên tiếng cho những điều không thể nói thành lời”. Công việc viết đã giúp nhà văn thoát khỏi trạng thái trống rỗng thường thấy từ những nhân vật của ông: “Tôi cảm thấy trống rỗng. Rồi nỗi bất an này. Tôi sợ cái gì vậy. Sao tôi lại sợ” (Ánh sáng trắng). Tác phẩm của Fosse là những thông điệp chữa lành, xoa dịu những chấn thương tâm hồn của con người, như ông nhìn nhận: “Có khá nhiều vụ tự tử trong tác phẩm của tôi. Nhiều hơn những gì tôi muốn nghĩ đến. Tôi từng lo sợ rằng bằng cách này, tôi vô tình góp phần vào việc hợp pháp hóa tự sát. Do đó, không gì làm tôi xúc động hơn khi độc giả thẳng thắn kể rằng tác phẩm của tôi đã cứu sống họ”; “Trong chừng mực nào đó, tôi luôn biết rằng văn học có thể cứu người, thậm chí nó từng cứu mạng tôi cũng nên” (Diễn từ Nobel văn học 2023).

 

 

“Làm sao người ta có thể suy ngẫm về cuộc sống mà không suy ngẫm về việc viết lách?” (Diễn từ Nobel văn học 2022). Theo Annie Ernaux: “Viết là hành động chính trị, là hành động cởi mở bản thân và trao quyền cho những kẻ im lặng”. Với Ernaux, quá trình viết là để giải tỏa những dồn nén, xung đột bản ngã, kÍ ức tính dục, mặc cảm giai cấp. Trong một chừng mực, đó cũng là quá trình tự chữa lành, là phương thức “đối thoại với chấn thương”, là hành vi tự phẫu thuật chính mình, khơi lại những vùng kí ức tổn thương “để giải quyết tận gốc, bộc lộ và hiểu được những vết nứt chạy dọc người tôi”. Là những diễn ngôn chữa lành, tác phẩm của Ernaux thường có một nhân vật kể chuyện xưng “tôi”, kể về việc viết của mình, bày tỏ cảm xúc về chuyện viết như một sự giải tỏa những ám ảnh hoặc những cơn đau kí ức. “Tôi viết để giữ mình lại trong ranh giới của tồn tại” (Hồi ức thiếu nữ). Ernau có biệt tài viết về chấn thương một cách lạnh lùng, đơn giản, có vẻ như bà không chú tâm câu chữ, cách kể, cách tạo dựng hình ảnh nhưng giọng văn trắng và những câu văn rỗng lại ghim chặt nỗi đau. Ernaux bình thản khoét sâu vào những tổn thương kí ức để từ câu chuyện của một người nói lên tiếng nói chung về giai cấp, cộng đồng, về giới và quyền lực. Hội đồng trao giải Nobel đã vinh danh Annie Ernaux “vì lòng dũng cảm và sự nhạy bén sắc lạnh bà sử dụng để khám phá ra gốc rễ, sự bất hòa và những hạn chế của kí ức cá nhân”.

Han Kang - nữ nhà văn Hàn Quốc - đoạt giải Nobel văn học 2024 với “những áng văn xuôi mạnh mẽ, đậm chất thơ, đề cập trực diện những chấn thương lịch sử và phơi bày sự mong manh của kiếp người” (Viện Hàn lâm Thụy Điển). Những ám ảnh về cái chết qua kí ức cá nhân, qua những biến động lịch sử đã thôi thúc Han Kang viết nên những tác phẩm “không thể không viết”. Bản chất của người phản ánh một cách chân thực những sự kiện nghiệt ngã về lịch sử đau thương ở Hàn Quốc những năm 1980 - phong trào Dân chủ Gwangju. Những tài liệu có thật đã ám ảnh nhà văn. “Phải viết, không thể không viết”. Tác phẩm nhìn thẳng vào đất nước Hàn Quốc, với những đàn áp chính trị như là một vết đen trong lịch sử. Đây là những trang viết tỉ mỉ, dữ dội về chấn thương, những cái chết tập thể tàn khốc, man rợ qua nhiều góc nhìn, nhiều giọng kể; những sự cố dồn dập, đứt gãy qua những hồi ức, những câu hỏi. Câu chuyện đặt ra những câu hỏi lớn về quyền lực, về nhân phẩm con người: “Con người là gì? Và để con người không trở thành thứ gì đó khác, thì chúng ta phải làm gì?”. Cùng những câu hỏi nhức nhối về hiện tồn, nhà văn liên tục đặt ra những câu hỏi về tính dân chủ, quyền lực đám đông, tội lỗi của con người, linh hồn, lương tâm, cái đẹp. Những tư liệu lịch sử được ghi/ kể lại bằng giọng điệu đầy suy tư và giàu chất thơ, vừa khắc khoải hoài nghi vừa tin vào bản chất con người: “Điều gì sẽ xảy ra với cá nhân từ chối thuộc về giống loài gọi là con người?”; “Bị sỉ nhục, bị bôi nhọ, bị tàn sát, phải chăng đó là bản chất của con người đã được chứng minh trong lịch sử?” (Bản chất của người). Những câu hỏi lặp đi lặp lại, khẩn thiết cho thấy tính tích cực trong cái nhìn cuộc sống của nhà văn. Bạo tàn, dã man, sỉ nhục không phải là bản chất của người mà sự hướng thiện, cái đẹp mới chính là bản chất của người. “Chúng sẽ lướt đi từ sợi bấc này sang sợi bấc khác, từ trái tim này sang trái tim kia, trên một sợi chỉ vàng?” (“Ánh sáng và sợi chỉ” - Diễn từ Nobel văn học 2024). Đó chính là thông điệp chữa lành của văn chương.

Ngôn ngữ chấn thương hay thông điệp từ nỗi đau câm lặng

“Chủ nghĩa tối giản Fosse” (theo Chủ tịch Ủy ban Nobel văn chương) trở thành tên gọi cho phong cách của nhà văn Na Uy và cũng là một lối viết của các nhà văn hậu hiện đại. Tiểu thuyết của các nhà văn đoạt giải Nobel gần đây thuộc dạng tiểu thuyết ngắn. Nhân vật là những bản thể phân mảnh, mất ngôn ngữ, đối thoại nội tâm đứt quãng hoặc dài lê thê (Aliss bên đám lửa - Jon Fosse). Ngôn ngữ tiểu thuyết là dạng diễn ngôn của chấn thương, cấu trúc đứt đoạn, lời kể phi tuyến (Một chỗ trong đờiCơn cuồng si - Annie Ernaux). Có những tác phẩm chỉ là những dòng đối thoại nội tâm rời rạc, đứt gãy, từ những vùng mờ kí ức tổn thương (Ánh sáng trắng - Jon Fosse, Trắng - Han Kang).

Tiểu thuyết của Annie Ernaux “rất mỏng và khó xếp loại”. Ngôn ngữ chấn thương trong tiểu thuyết Ernaux lạnh lùng, tối giản nhưng khắc sâu. Tự sự chữa lành của Ernaux “chỉ đơn giản là bày nó ra”, là làm sống lại kí ức thương tổn một cách trần trụi nhất, là tách mình khỏi mình và tỉnh táo vượt thoát. Một chỗ trong đời được viết từ những đứt gãy, chấn thương giai cấp, sự rạn nứt với gốc rễ, mặc cảm tiến thân. Hồi ức thiếu nữ là sự hồi nhớ và đối mặt với những chấn thương tính dục. Cơn cuồng si là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu cho việc chuyển hóa kí ức cá nhân thành câu chuyện văn chương, ở đó viết là hành vi đối mặt với chính mình. Đề cập khủng hoảng tính dục, diễn ngôn trong truyện thể hiện tâm trạng cuồng điên và sợ hãi, vừa đam mê vừa nhục nhã, tràn ứ và trống rỗng. Tôi/người kể chuyện kể lại trạng thái mất kiểm soát bản thân, bất an và cuồng loạn khi phát hiện người tình cũ đã có người mới. Cơn cuồng si tình ái của nhân vật vượt qua những giới hạn thông thường, trở thành một trạng thái tâm lí ám ảnh gần như bệnh lí. “Tôi không còn là chính tôi, tôi là một nỗi ghen gặm nhấm chính mình”. Những cơn mơ. Những quá khứ thương tổn. Niềm “hi vọng mờ mịt rằng một nỗi đau cũ có thể hóa giải nỗi đau hiện tại”. Nhà văn viết ra kí ức thương tổn không phải để né tránh mà để đối diện với những cơn khủng hoảng tính dục. “Tôi viết về ham muốn để khống chế nó, để kiểm soát nó bằng từ ngữ”.

Tiểu thuyết Han Kang về cơ bản là cái chết, những thảm trạng lịch sử, nỗi thống khổ của con người. Trắng là “tiểu thuyết chứa đựng nhiều câu hỏi”. Cuốn sách mỏng mảnh vượt ra khỏi quy ước về thể loại, là dòng hồi ức, suy ngẫm của “tôi” trước cái chết của người chị gái để có lúc “tôi” thấy mình trong bóng dáng của chị, và “tôi” sống tiếp quãng đời lẽ ra của chị. Tác phẩm bàn nhiều về sự sống dẫu mở đầu là cái chết: “đứa trẻ mới ra đời được quấn chặt trong một lớp tả trắng như tuyết”, “đôi mắt đen và khuôn mặt trắng như bánh trăng tròn”; đứa bé chỉ sống được 2 giờ đồng hồ trong tiếng gọi thảng thốt của người mẹ “Xin con, đừng chết”. Cuốn tiểu thuyết giàu chất họa, chất thơ, quyện hòa với chất triết lí qua những trang văn ngắn như những bài thơ văn xuôi. Qua lối viết giản dị hàm súc, ý nghĩa sâu xa của tác phẩm nằm sau ngôn ngữ im lặng, vô ngôn, ngôn ngữ thân thể, hoặc dòng tâm tư. Từ kí ức về cái chết non của người chị gái, dòng tâm tưởng của “tôi” lướt từ suy nghĩ này đến cảm xúc khác, như một dòng trôi trên cái nền trắng và những biểu tượng văn hóa phương Đông, vô thường, sắc không, satna. Màu trắng và những câu hỏi. Sự sống bừng lên từ thiên nhiên qua màu trắng tinh khiết; cùng với trắng là ánh sáng, thể hiện niềm tin vào sự sống. “Đó là dấu hiệu của sự sống. Của cái đẹp”.

Hai tiểu thuyết xoay quanh biểu tượng trắng của Kang (Trắng) và Fosee (Ánh sáng trắng) đều đề cập ranh giới mỏng manh giữa sống và chết, về những vùng mờ kí ức thương tổn, về sự lạc hướng và rối rắm nội tâm. Tiểu thuyết của Jon Fosse rất ít lượng thông tin với những hình ảnh lặp đi lặp lại trong trạng thái vô thức chấn thương của nhân vật. Ánh sáng trắng là những trạng thái tổn thương tinh thần và hành trình xoa dịu kí ức qua ngôn ngữ câm lặng và những biểu tượng siêu hình. Cuốn tiểu thuyết chỉ hơn sáu mươi trang, như một cấu trúc nội tâm, lời thoại lẫn trong lời thoại, tâm vọng trong tiếng vọng, nhân vật nhòe trong nhân vật, người và cái bóng (“cái thứ đó” - cái thứ như là bóng) lẫn lộn, soi chiếu, cái sống lẫn trong cái chết..., với “những chữ như sáng chói, trắng, tỏa sáng, hồ như không còn ý nghĩa, và giống như ý nghĩa, phải, ý nghĩa không tồn tại nữa”. Bằng ngôn ngữ im lặng, nhà văn đã khơi thật sâu vào những tầng nghĩa chấn thương, từ đó nhân vật tìm được sự lắng dịu tâm hồn, quên nỗi sợ hãi cô đơn. Hư không, vô thanh, tiếng vọng từ kí ức là một dạng thức ngôn ngữ chấn thương, được cất thành lời bằng niềm khao khát của nhà văn: “Tôi viết vì tôi phải viết, và chỉ trong ánh sáng của ngôn từ, tôi mới thấy được mình”. Ánh sáng trắng là kí ức thương tổn nhưng ở đó, ánh sáng là hình ảnh chữa lành tối hậu, là sự tha thứ, giải thoát và yên bình.

Aliss bên đám lửa là tác phẩm tiêu biểu cho lối viết của Fosse, lối viết tối giản. Đây cũng là tác phẩm tiêu biểu cho loại văn chương chấn thương và chữa lành, viết về cái chết, sự đổ vỡ đồng thời là niềm tin và sự tái sinh. Aliss bên đám lửa là một cõi siêu hình, mù mờ, với những câu chữ lúc dài lê thê lúc ngắn đến tối giản, không có dấu chấm câu, chỉ có những dấu hỏi, những câu hỏi liên tục xuất phát từ những chấn động nội tâm; không có sự kiện chỉ có những trạng huống tâm lí mơ hồ, những dòng chảy vô thức không dễ nắm bắt. Nhân vật không hiện hữu, chỉ có kí ức và nỗi đau hậu chấn thương. Toàn bộ câu chuyện gần như là lời tự vấn của Signe, là đối thoại vô thức với bóng ma của quá khứ, là âm thanh vọng từ tâm trí (qua câu chuyện người chồng đã mất sau một lần chuyền chèo thuyền ra vịnh, qua kí ức về cụ kị Aliss và đứa con bị chết đuối). Không gian thực ảo lẫn hòa vào nhau, những hình ảnh lặp đi lặp đến vượt ngưỡng, lúc tách rời đối lập, lúc hòa nhập như một thứ ngôn ngữ biểu trưng cho những sang chấn nội tâm. Lửa. Bóng tối. Lạnh cóng. Cháy. Chiếc thuyền gỗ bé. Những con sóng. Sự biến mất. Hình ảnh lặp đi lặp lại trong suy nghĩ, trong ảo giác, trong liên tưởng. Những mảnh vỡ kí ức lẫn lộn, rối rắm, lặp đi lặp lại như một mê cung của một hồi ức chỉ có đứt gãy và mất mát. Cách viết tối giản này như là một cách biểu đạt niềm câm lặng của nỗi đau. Trong trường hợp đó, ngôn ngữ trở thành giới hạn, chỉ còn những khoảng lặng, những ngắt quãng hay những lặp lại như một ám ảnh. Những con mắt trừng trừng ngay giữa đám lửa. Những con mắt như tìm được giọng nói, “tiếng hú từ một mắt và rồi sau đó là tiếng hú rải rác từ rất nhiều con mắt”; những bức tường và “giọng nói thinh lặng đang phát ra từ chúng”... Đó là tiếng nói của kí ức chấn thương. Nhưng giữa nền bóng tối xuyên suốt, lửa lại là biểu tượng hồi sinh. Chính Jon Fosse từng nói: “Khi tôi viết, tôi cố gắng giữ ngọn lửa nhỏ trong bóng tối”. Với niềm tin vào Kitô giáo, nhà văn Na Uy khép lại kí ức đau thương trong Aliss bên đám lửa bằng lời khấn nguyện: “...rồi cô đặt cả hai tay lên bụng và cô chắp tay lại và tôi nghe thấy Signe nói: Lạy Chúa Con, cứu con, Người phải cứu con, Người”. Kết thúc tác phẩm nghĩa là kết thúc những dòng chảy nội tâm cũng không có dấu chấm, nỗi đau còn đó nhưng để lại cho người đọc niềm tin về sự cứu rỗi.

Các nhà văn đoạt giải Nobel những năm gần đây đều nói lên tiếng nói chung xoay quanh vấn đề bạo lực, tổn thương tinh thần, tình yêu, cái chết. Tác phẩm của họ là những kí ức thương tổn, là sự phản ánh những “cái không thể nói thành lời” ám ảnh thành những sang chấn nội tâm. Với họ, viết trước hết là hành động tự chữa lành, đồng thời giải thoát nỗi đau của con người. Nghệ thuật viết là hành trình truy tìm ý nghĩa qua những đổ vỡ, là cách níu giữ nhân tính trong một thế giới bị thương. Văn chương Nobel đương đại mang thông điệp chữa lành không chỉ cho cá nhân mà còn cho cộng đồng nhân loại. Từ một góc nhìn, có thể thấy văn chương đang đảm nhiệm vai trò như một liệu pháp tinh thần trong xã hội hiện đại nhiều tổn thương và khủng hoảng. Qua những bi kịch mang tính cá nhân, cộng đồng, dân tộc, văn chương trở thành “sợi chỉ vàng” nối kết giữa bóng tối và ánh sáng, giữa nỗi đau và hi vọng.

Lê Thị Hường/VNQĐ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm