TIN TỨC

Vấn đề gia đình, xã hội, đức tin trong Từ niềm tin đến niềm vui

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-21 07:57:09
mail facebook google pos stwis
3211 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc Từ niềm tin đến niềm vui của Đặng Phúc Minh, Nxb Hội Nhà văn)


 

Vâng, xin sống với niềm tin ngời sáng

Với tình yêu trải rộng đến muôn phương

Đến cuộc đời như buổi sáng mùa xuân

Từng ngây ngất những dòng thơ bất tận

Đây là 4 câu thơ của tác giả Đặng Phúc Minh mở đầu cho tập sách Từ niềm tin đến niềm vui của chính anh. Đọc xong 4 câu thơ mở sách đã gây cho tôi sự tò mò, thế là tôi đọc liền một mạch từ trang đầu tiên cho đến trang cuối cùng của cuốn sách. Đọc xong tập sách, tôi cảm thấy rất hài lòng và vô cùng ngưỡng mộ kiến văn của nhà thơ, nhà giáo Đặng Phúc Minh.

Với trữ lượng kiến thức lớn, sự tâm huyết đào sâu nghiên cứu về các vấn đề gia đình, xã hội, tôn giáo... thì Đặng Phúc Minh mới có viết được tập sách đầy đặn như thế.

Từ niềm tin đến niềm vui được sắp xếp, phân chia bố cục rất bài bản và khoa học. Độc giả dễ nắm bắt những nội dung mà người viết đề cập trong từng bài, từng phần, từng mục. Ngoài phần Mở đầu và phần Góc nhìn của bạn hữu, tập sách được chia làm 3 nội dung lớn rất có ý nghĩa, nhất là trong bối cảnh xã hội hiện nay.

Phần I: Gia đình (gồm 5 bài viết)

Lòng chung thủy; Hy sinh, yếu tố giữ hạnh phúc gia đình; Cột trụ đức tin nơi gia đình; Nương bóng Mẹ; Mẹ - Nguồn yêu thương vô bờ.

Đặng Phúc Minh đưa lòng chung thủy lên trước nhất là cũng có dụng ý. Bởi chung thủy, đó là vẻ đẹp để tô thắm tình yêu đôi lứa; chung thủy - chất keo kết chặt, suối nguồn nuôi dưỡng tình yêu hôn nhân...

Bằng sự quan sát, nhìn nhận của một người từng trải như Đặng Phúc Minh, ông cho rằng: “Càng trong gian khó, càng qua thử thách chông gai thì lòng chung thủy càng bừng sáng. Trong chiến tranh, vợ chồng phải xa cách năm năm, mười năm, thậm chí cả hàng mấy chục năm, kẻ Bắc người Nam... thế nhưng chính lòng chung thủy đã giúp cho họ mãi mãi luôn hướng về nhau, cùng vững tin chờ ngày đoàn tụ. Thế rồi, ngày ấy đã đến khi đất nước độc lập! Họ lại về bên nhau “như chưa hề có cuộc chia ly”, hạnh phúc nơi gia đình lại được sống lại.

Ngược lại, trong gần nửa thế kỷ qua, ta cũng chứng kiến biết bao gia đình tan nát đổ vỡ, con cái “cù bơ cù bất”; “đầu đường xó chợ” do cảnh “chồng ăn chả, vợ ăn nem”. Nguyên nhân chính bởi họ không giữ được lòng chung thủy khi phải xa nhau. Đau xót hơn nữa, ta còn thấy trong xã hội hiện tại, có những trường hợp dù cùng sống trong một mái nhà nhưng mỗi người đều có “những khoảng trời riêng”, đó cũng là nguyên nhân bào mòn hạnh phúc. Càng giàu sang, có chức có quyền mà thiếu lý tưởng đúng đắn, nghèo đức tin, xa rời đời sống... thì việc đánh mất lòng chung thủy càng dễ xảy ra...”.

Bên cạnh lòng chung thủy là sự hy sinh, đó là yếu tố để giữ hạnh phúc gia đình. Trong gia đình dù hy sinh nhỏ bé hay lớn lao cũng đều đáng trân trọng. Vì tình nghĩa gia đình nên cần hy sinh cho nhau, cần có sự tương tác giữa gia đình với xã hội. Đặng Phúc Minh cũng vạch ra cho bạn đọc thấy được mục đích của việc hy sinh cho nhau của những thành viên trong gia đình và làm cách nào để giữ gìn hạnh phúc gia đình được bền chặt.

Đặng Phúc Minh nhấn mạnh đến tầm quan trọng “Cột trụ đức tin nơi gia đình”. Một bài viết được khảo sát khá kỹ lưỡng, chi tiết với những số liệu thống kê rành mạch, rõ ràng tạo nên sự bất ngờ đến thảng thốt; bởi lâu nay nghe nhiều nhưng ít người để ý đến. Tỷ lệ ly hôn, nạo phá thai ngày một gia tăng; quyền sống con người không được tôn trọng. “Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới ngày 27/9/2017, Việt Nam đứng thứ 3 trong danh sách các nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới. Cụ thể: 1. Trung Quốc 7,93 triệu ca/năm; 2. Nga 2,28 triệu ca/năm; 3. Việt Nam 1,52 triệu ca/năm; 4. Mỹ 1,4 triệu ca/năm; 5. Ukraina 0,6 triệu ca/năm.

Việt Nam đứng thứ 3, nhưng xét số ca nạo phá thai trên dân số thì Việt Nam đã vượt Trung Quốc và Nga. Trung Quốc: 7,93 triệu ca/ 1,3 tỉ dân = 0, 006; Việt Nam: 1,52 triệu ca/ 90 triệu dân = 0,0168”.

Nhìn vào những con số thống kê khiến tất cả chúng ta phải suy ngẫm. Không chỉ mỗi cá nhân, mỗi gia đình mà tất cả các cấp, các ngành và toàn xã hội phải chung tay vì tương lai của giống nòi; tương lai của cả một dân tộc...

Vai trò của người cha, người mẹ cũng có vị trí đặc biệt trong gia đình. Điều này cũng được Đặng Phúc Minh phân tích rất kỹ.

Ở phần I: Bài viết nào cũng hàm súc, cô động với những lý lẽ, luận cứ, luận chứng rõ ràng, cụ thể, giàu tính thuyết phục.

Phần II: Xã hội (gồm 5 bài viết)

Việc giáo dục con cái trong gia đình để trở thành đứa con ngoan, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; có ích với cộng đồng xã hội là điều mà các bậc làm cha làm mẹ nào cũng luôn mong muốn.

Từ câu chuyện “hôi bia”, xảy ra ở Biên Hòa vào ngày 04/12/2013 của tài xế Hồ Kim Hậu 30 tuổi, quê Bình Định để tác giả Đặng Phúc Minh luận bàn về cách giáo dục con cái của các bậc làm cha làm mẹ.

Tiếp đến, Đặng Phúc Minh đề cập đến vấn đề lương thực với đời sống con người.  Bởi lương thực là điều rất cần thiết cho sự sống và sự tồn tại của con người. Nhưng điều không thể thiếu đó là cần phải được học tập; ngày nay học tập - ngày mai giúp đời. Học để biết, để hiểu, học để làm người có đạo đức, có tri thức để giúp đời, giúp người... Ngoài ra, nhà giáo Đặng Phúc Minh cũng không quên nhắn nhủ về: Trách nhiệm lương tâm trong nghề nghiệp; Động lực cho những hy sinh.

Phần III: Xã hội và tôn giáo (gồm 11 bài viết)

Môi trường sống, những thách đố, tìm nguyên nhân, hướng khắc phục; Một tấm lòng; Tìm về cội nguồn tổ tiên; Sách lược Tiền Cursillo trong môi trường Việt Nam; Tiền Cursillo; Sao Mai, tiếng ngân vang còn mãi với thời gian; Từ niềm tin đến niềm vui; Tinh thần liêm khiết; Con ong tài ba hơn các nhà khoa học; Ta muốn chào em; Ta muốn hẹn em.

11 bài viết với những thông điệp đầy nhân văn, nhân ái hướng về một xã hội tốt đẹp: người và người sống để yêu thương nhau, sống tử tế với nhau...

Trong 11 bài viết ở phần này, đáng chú ý nhất là bài “Từ niềm tin đến niềm vui”. Đặng Phúc Minh chỉ ra sự khác biệt giữa niềm vui và thú vui. Để rồi tác giả đặt ra câu hỏi: Vậy niềm tin tác động đến niềm vui của con người ra sao? Điều đó được nhà giáo Đặng Phúc Minh lần lượt luận giải qua từng khía cạnh: Khi một xã hội mất niềm tin? Từ niềm tin đến niềm vui; Mất niềm tin gia đình ly tán; Người dân mất niềm tin thì đất nước khó bình yên; Niềm tin có từ đâu, hệ quả của việc có niềm tin và không có niềm tin; Tìm niềm vui từ đâu?

Từ niềm tin đến niềm vui của Đặng Phúc Minh là tập sách được viết bằng tình cảm, sự yêu thương trân trọng của một con người hết lòng vì người khác, vì tương lai, hạnh phúc của mỗi nhà, mỗi người, mỗi quốc gia, dân tộc. Từ niềm tin đến niềm vui một khoảng cách tuy xa mà gần, tuy gần mà xa. Nhưng nếu bản thân mỗi chúng ta tự ý thức, luôn vun vén gia đình, luôn nghĩ về người khác, luôn sẵn sàng hy sinh cho người khác để gia đình được hạnh phúc, xã hội luôn được bình yên thì khoảng cách ấy ở trong tầm kiểm soát của chính chúng ta.

Từ niềm tin đến niềm vui là kết quả của việc nhà thơ, nhà giáo Đặng Phúc Minh dày công tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng những kiến thức văn học, lịch sử, văn hóa, địa lý, xã hội học... để hoàn thành tập sách có giá trị này. Đây sẽ là cuốn tư liệu quý cho những ai quan tâm, những ai nghiên cứu về các vấn đề gia đình, xã hội và đức tin!

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm