TIN TỨC

Viết để xương máu đồng đội không bị lãng quên

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-04-13 19:33:00
mail facebook google pos stwis
1936 lượt xem


Các tướng lĩnh dự Tọa đàm về tác phẩm của Đại tá nhà văn Nguyễn Văn Hồng
Ảnh: Nguyên Hùng.

 

Như tin đã đưa, vào sáng 12/4/2024, Hội Nhà văn TPHCM vừa tổ chức Tọa đàm về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Văn Hồng. Văn chương TP. Hồ Chí Minh sẽ chọn đăng một số tham luận được viết cho sự kiện này. Sau đây là bài viết của nhà văn Trầm Hương về tiểu thuyết "Pailin thời máu lửa".

TRẦM HƯƠNG

Trong một thời gian dài, vì những vi tế của thời cuộc, cuộc chiến biên giới Tây Nam và phía Bắc ít được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông. Tuy vậy, trong tâm thức những người lớn lên sau chiến tranh vẫn in sâu những mất mát, đau thương cuộc chiến này. Vết thương hai cuộc kháng chiến chưa lành, còn hằn dấu trên quê hương những hố bom sâu, nước mắt những người mẹ khóc con ngã xuống ở mọi miền đất nước chưa kịp khô, đất nước lại tứ bề thọ địch. Nhiều người anh, người chị, người bạn của tôi lại viết thư bằng máu ra đi. Nhiều người không về, thân xác gởi lại chiến trường K hay biên cương phía Bắc. Một số trở về trong hình hài xơ xác vì sốt rét, trong tang thương khi mất đi một phần thân thể... Tôi nhớ những năm 1980, học Đại học Cần Thơ, thi thoảng trên phố chứng kiến những chiếc xe chở thương binh trở về quân y viện 108, tim tôi thắt lại trước những thương binh chống nạng với những cánh tay, chân cụt gõ những âm thanh khô khốc, nhức nhối xuống mặt đường... Những hình ảnh, âm thanh ấy cho đến giờ vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Lúc ấy, cuộc sống dù còn nhiều khó khăn do cơ chế quan liêu bao cấp trói buộc và bị cấm vận nhưng tôi vẫn cảm nhận mình thật may mắn khi được ngồi trên giảng đường đại học, trong khi nhiều anh chị phải ra mặt trận, đương đầu với gian khổ, bom đạn, mất mát.

Dù muốn hay không, những tác phẩm viết về chiến tranh biên giới vẫn lần lượt ra đời. Người viết là thế hệ những nhà văn đã dày dặn trận mạc, hết trải nghiệm hai cuộc trường chinh giữ nước giờ lại có mặt ở chiến trường mới với sứ mạng cao cả của đoàn quân tình nguyện giúp người dân Campuchia thoát họa diệt chủng hay trấn thủ bảo vệ biên cương phía Bắc, thế hệ lính mới hay những người lớn lên sau chiến tranh chứng kiến và cảm nhận những hy sinh mất mát từ người thân, bè bạn của mình. Làm sao không viết khi có quá nhiều những người con gái, con trai trẻ măng bị bứt lìa khỏi quê hương, nằm lại vĩnh viễn trên đất bạn. Làm sao không viết khi mới có mấy năm, xương máu bạn bè tôi dường như không được nhắc đến... Trong âm thầm, dòng văn học về chiến tranh biên giới vẫn âm thầm chảy trong lòng người. Nỗi đau bị dồn ứ và khi bộc lộ trong tác phẩm, nỗi đau bộc phát, nhân lên gấp nhiều lần khi được đọc. "Pailin thời máu lửa" là một tác phẩm văn học ra đời trong dòng chảy thầm lặng mà dữ dội ấy. Phải hơn 20 năm, sau ngày bộ đội Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, quyển sách mới được viết xong và gởi đến đọc giả...

Đại tá nhà văn Nguyên Văn Hồng, người con trai Hương Sơn, Hà Tĩnh khoác áo lính, vào chiến trường miền Nam chiến đấu từ năm 1965. 10 năm vùng vẫy ở chiến trường Quân khu V ác liệt, bàn chân người lính di chuyển dần về phương Nam. Ông là một trong những chỉ huy trung đoàn bộ binh, sớm có mặt trong haiu cánh quân trực tiếp giải phóng thành phố Vũng Tàu. Ông là nhân chứng vừa là người viết nên lịch sử bi tráng ngày 30 tháng 4 năm 1975: "Có ai biết được rằng, trong giờ phút cả nước đang hòa chung niềm vui khi thành phố Sài Gòn - Gia Định đã được giải phóng, thì tại khách sạn Palace, thành phố biển Vũng tàu đang diễn ra trận đánh đẫm máu giữa một lực lượng của tiểu đoàn 6 Trung đoàn bộ binh 12 với mọt nhóm tàn binh sỹ quan quân đội Sài Gòn cố thủ trong khách sạn, chống tar3 đến cùng. Đây là trận đánh cuối cùng trên hướng Đông Nam của chiến dịch sau 12 giờ trưa nhga2y 30-4-1975 đã cướp đi sinh mạng của 17 chiến sỹ Quân giải phóng và 2 thanh niên địa phương".

10 năm khoác áo lính, mãi đến tháng 11 năm 1975, ông mới được hưởng kỳ nghỉ phép đầu tiên của đời lính. Lúc đó, con người nhà văn đã hình thành, nung nấu trong ông - một thiếu tá, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn bộ binh 2: "Trên đường về quê, tôi đã có dịp hồi tưởng lại những chặng đường chiến đấu đã qua trên dải đất nóng bỏng của chiến trường khu 5 trong những năm dài chống Mỹ, đã có biết bao đồng chí, đồng đội tôi đã ngã xuống, không được hưởng ngày vui trọn vẹn như tôi hôm nay. Qua chiếc Radio Cassete, tôi nghe đi nghe lại bài hát "Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh" mà rạo rực trong lòng..."

Hòa bình, về thăm quê, chưa kịp cưới, nghĩ là có thể đã cởi áo lính để sống đời thái bình, kể chuyện "Nguyên phong" nhưng đất nước chua yên, ông lại nhiệm vụ truy quét Fulro, lại ngược ra phía Bắc, rồi năm 1982, trở thành Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 309 trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Giới thiệu 3 tập sách hàng ngàn trang của ông, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã nhận định thật xác thực:  "Tác phẩm của Đại tá – Nhà văn Nguyễn Văn Hồng trung thực và sống động bởi các sự kiện trong tác phẩm mà chính tác giả là người trong cuộc và cũng là nhân vật trong các câu chuyện. Vì vậy, sức hấp dẫn của tác phẩm Nguyễn Văn Hồng rừng rực không khí mặt trận, chân thực đến trần trụi và khát khao sống, cháy bỏng lòng yêu nước của người lính cầm súng chiến đấu"

Tôi tâm đắc với nhận định ấy. Nhưng khi đọc "Pailin thời máu lửa", trong tôi tràn ngập cảm giác biết ơn ông. Vậy là từ cảm xúc "rạo rực" viết nên cái gì đó trên đường về quê hương sau ngày hòa bình, ông đã sống, chiến đấu, nung nấu để viết ra những gì được rút ra từ máu và nước mắt của ông và đồng đội, chiến sĩ trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Mãi đến năm 2000 ông mới cho ra hồi ức "Những năm tháng không quên". Và tiếp theo là những tiểu thuyết, tập truyện ký, bút ký...; ông kiên trì, bền bỉ viết. Đó là cách người lính già Nguyễn Văn Hồng kể chuyện "Nguyên Phong". Chuyện "Nguyên Phong" kể mãi vẫn không hết nhưng chuyện gây ám ảnh dữ dội trong tôi là sức công phá của mìn. Số thương binh Việt Nam tăng bất thường cũng chính vì thứ vũ khí hủy diệt tàn độc và nham hiểm ấy: "Phía trước, tổ trinh sát vẫn kiên trì, lặng lẽ làm cái việc nguy hiểm, có thể tan xác sau một tiếng nổ, nhưng vẫn phải làm là mở một lối đi từ dưới chân núi lên đỉnh, chỉ rộng nửa mét thôi mà từ sáng đến giữa trưa mới lên  đến nơi. Đồng thời, lần này các anh lại một lần nữa đi tìm tiểu đội trưởng trinh sát Mai, hy sinh lần trước, có thể hài cốt đang ở đâu đó tại khu Mỏ Vẹt... Dọc đường, cơ man nào là mìn. Những trái mìn KP2, K58 màu xanh "ốc bươu" bị trinh sát vặn cổ, vứt rải rác hai bên lối đi. Vì sao gọi là K58 và KP2 (?). Nhiều người có đầu óc suy luận cho rằng: thời điểm người ta sản xuất loại mìn K58 (có thể từ con số 5.8), dân số Campuchia có 5 triệu tám trăm ngàn người, Pôn Pốt tuyên bố sẽ đánh Việt Nam đến người Campuchia cuối cùng. Còn KP2 có anh lại nói: sau khi "diệt chủng" thành công, Khơ me Đỏ chỉ cần 2 triệu người "trong sạch" để đi lên Chủ nghĩa xã hội... Có thể lắm. Ngoài những suy luận đó thì trời mới biết được cái nhãn mác của những "trái nổ giết người" kia chúng mang ý nghĩa gì..."

Nhưng ở chiến trường K nào đâu chỉ có KP2, K58 mà còn có mìn chống gỡ giấu trong "điều bí mật của cái công nghệ giết người xấu xa và thâm độc của kẻ thù"; mìn nhảy, mìn đạp nổ... Những loại  mìn chỉ làm mất một chân, có loại mất hai chân, có loại làm tan xác... Mìn địch gài khắp nơi, ở những nơi không ai ngờ đến. Và toàn bộ "Pailin thời máu lửa" mìn hiện hữu khắp các trang viết: "Ngô Xuân Mạnh, Trung đoàn trưởng còn nhớ, khi đặt chân lên mặt tra75n này, bốn bề đều là địch, đi đâu cũng gặp chúng. sáng dậy, xuống suối lấy nước, anh nuôi loáng thoáng thấy mấy tên du kích áo đen vút qua trước mặt như những bóng ma, biến vào vườn cà phê mất hút, khi xuống bờ suối thì đạp phải mìn. Dọc các trục đường trong khu đổ nát của thị trấn, đâu đâu cũng có mìn: dưới gốc cây, bên lu nước, cạnh nhà vệ sinh... Đúng như Trần Duy Chiến đã viết trong cuốn nhật ký: "Mỗi chiếc chân đi gập ghềnh chiếc bẫy/ Mìn nổ vang rền thịt nát xương bay..."

Chỉ có người trong cuộc mới đủ sức miêu tả một người lính dính mìn làm tan nát lòng người đọc: "Chiến sĩ Nguyễn Văn Thạnh đang loay hoay chọn một vị trì để làm công sự bên một mô đất, cạnh gốc cà phê thì đạp phải trái mìn KP2. Cả cái thân hình gần 70kg đổ ụp xuống như câyu chuối bị phạt ngang, máu tươi tuôn ra thành từng vũng nhuộm đỏ một khoảnh đất, một chân lìa khỏi gối, chân kia lủng lẵng nhờ một mảng da. Đôi chân vạn dặm đã đi từ mặt trận Đông bắc sang vùng đất tận cùng này hàng ngàn cây số, qua nhiều phum Sok, bản làng, vượt qua bao suối sâu, đèo cao dốc đứng truy kích địch tháo chạy "có cờ". Thế mà nay Thạnh phải để lại đôi chân ấy dưới lớp đất đỏ Pailin".

Không chỉ thân xác mà bao đôi chân đã gởi lại đất bạn, Những quả mìn đã cướo đi bao cuộc đời, bao khát vọng, ước mơ những người tuổi trẻ, như nỗi đau Tống Xuân Lai diễn ra trong tích tắc, sau khi anh cố ghi lại vẻ hùng dũng của khẩu DKZ75 trên cao điểm 321: "Bỗng một tiếng nổ kinh hoàng phát ra dưới chân, đất đá và lho1i bụi đùn lên như chiếc phễu lật ngược, khiến Lai đổ vật xuống trước khẩu ĐKZ75, máu phun ra ướt hết hai ống quần. Một chân bị tiện đứt đến đầu gối, ném ra xa mấy mét... Đột ngột quá, Lai không kịp la lên một tiếng, nằ ngất lịm. Mấy cậu pháo thủ chạy tới, tập trung tất cả bông băng để bịt dòng máu tươi đang phun ra xối xả trên đôi chân của Phó tham mưu trưởng, Anh được đưa ngay về trạm xá Trung đoàn 3 tại trung tâm thị trấn Pailin. Cái nghề "phó nháy" của Tống Xuân Lai phải "giải nghệ" từ hôm đó...". 

Là người chỉ huy, ông có cái nhìn thật thấu đáo gian khổ của người lính: "Tiểu đội Chiến trùm áo mưa, mỗi người dựa vào một gốc cây hay ụ mối giữa chốn rừng sâu. Chiếc áo mưa rách nát, nước len lỏi vào lưng, vào ngực, xuống rốn ướt hai ống quần, chân tay tê cóng, nhức buốt, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Cả tiểu đội cứ đứng thế, chống báng súng xuống đất, đưa tay vuốt mặt. Lũ vắt rừng từ dưới lớp lá mục, bắt được hơi người tranh nhau đi tìm mục tiêu để tấn công. Những con vắt màu vàng sẫm thấn công phía dưới, những chú vắt lá màu xanh từ những bụi cây hai bên đường nhanh chân bám lên ba lô, lên áo mưa đột nhập vào người tìm kiếm những chỗ kín, tấn công phía trên. Khi cái bụng đã căng đầy máu, chúng mổ miệng tự rơi xuống đất, để lại những dòng máu tươi trên người, chảy mãi không thôi. Máu của người lính hòa vào nước mưa, xuống sông suối, thấm vào đất, tưới cho cây..."

Là người chỉ huy, ông có cái nhìn thấu đáo về những chiến sĩ của mình. Ông yêu chiến sĩ và nhìn ra sự hồn nhiên, phẩm chất cao quý những chiến sĩ của mình, bao dung cả tin, yếu mềm nhưng kiên quyết trước yếu hèn, phản bội. Ông nhìn thấy mình trong hình ảnh những chiến sĩ trẻ hôm nay. Ông dành cho Trần Duy Chiến một tình cảm đặc biệt: "Mình thương mẹ mình lắm! Mang tiếng là anh Hai nhưng mình chưa lo được gì cho mẹ và mấy đứa em. Lúc nhỏ nghịch ngợm, làm khổ mẹ đủ điều, lớn lên vừa cảm nhận được chút trách nhiệm  của đứa con trai thì phải cầm súng ra đi!...".

Những trang viết về Pailin ác liệt, mục tiêu trên mặt trận phía Tây mà địch hướng tới chợt trở nên thật lắng đọng, mềm mại khi ông chạm đến tình mẫu tử thiêng liêng, mối giao cảm của người con trai và người mẹ trong những thời khắc sinh tử: "...Tiểu đội của Chiến mỗi người chiếm cứ một gốc cây và ngồi đó cho hết cái đêm dài lạnh lẽo của vùng biên giới Pailin để canh chừng chiếc xe và một liệt sĩ. Mưa đêm rắc trên tán lá cây rơi xuống ướt áo. Chiến ngồi đó nhìn vào bóng đêm, lòng bồi hồi nhớ mẹ, nhớ các em... Mẹ ơi! Đêm nay con đang ngồi dưới gốc cây lạnh giá trước những họng súng của kẻ thù. Mẹ có biết không, con trai của mẹ..."

Những chàng trai được gởi đến chiến trường K năm ấy thật đẹp đẽ, thật đáng yêu. Nhưng chiến tranh cướp đi những con người ưu nhất, thật giản dị để hiểu vì những con người ưu tú ấy luôn giành phần khó về mình, sẵn sàng lao vào nơi ác liệt nhất. Nhưng ở Pailin, sự khốc liệt còn mang một dáng nét rất riêng, như lý giải của Chiến: "Tại sao những ai được cho là dũng cảm, chịu thương, chịu khó phải "ra đi" sớm thế. Thường là vậy, nhưng có lúc cũng không phải vậyz. Những nơi Chiến từng đi qua, được chứng kiến cái chết đến với bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, đủ mọi lý do: chết đuối trong mùa mưa, chết khát mùa nắng, chết vì sốt rét ác tính, vì bị rắn cắn, vì ăn phải nấm độc. Nhưng nhiều hơn cả là chết vì mìn vì cạm bẫy của giặc... Thần chết thập thò, ẩn hiện mọi lúc mọi nơi trên cái mặt trận đáng ghét này..."

Những người lính cũng là xương thịt nên mức chịu đựng cũng có giới hạn. Sau những trăn trở, Chiến xác định: "Đời thằng lính chiến không thể dựa vào những lý do mơ hồ để tiến hay lùi. Theo Chiến thì còn sống còn chiến đấu, chết thì về với đất, đố ai trốn được cái chết. Tự dưng sao hôm nay Chiến thấy mình vững vàng đến thế, xem thường cái chết đến thế, cậu mở ba lô, lấy cuốn nhật ký ra ghi nguồn cảm hứng này...  "

Và đúng như dự cảm, Trần Duy Chiến - chàng trai khao khát yêu thương, thích làm thơ trong mọi hoàn cảnh, nâng niu từng con chim non mất mẹ, chắt chiu từng giọt nước cho đồng đội, luôn có mặt ở nơi đầu ngọn sóng đã rơi vào ổ phục kích của địch, hy sinh cùng tiểu đội của mình, trong trận truy kích địch. Những người lính như Chiến quá đẹp. Vì quá đẹp mà khi anh ngã xuống người đọc càng xót xa. Trong vai trò Sư trưởng Sư đoàn 309 và vai trò một nhà văn, Đại tá Nguyễn Văn Hồng đã khẳng định một điều thiêng liêng qua hình ảnh liệt sĩ, người anh hùng Trần Duy Chiến:  Trong cuộc chiến biên giới Tây Nam, có một thế hệ thanh niên Việt Nam vì nghĩa vụ quốc tế, vì sự hồi sinh của dân tộc Campuchia đã ngã xuống ở tuổi đôi mươi căng tràn nhựa sống. Thật cảm động để cảm nhận điều thiêng liêng ấy qua lá thư Trần Duy Chiến gởi về cho mẹ:"Con đứng ở đây tuy xa quê mình hàng ngàn cây số, tuy ở nơi tận cùng của đất nước bạn, chúng con xác định rằng: chiến đấu với kẻ thù ở đây là để bảo vệ tổ quốc mình mẹ ạ".

 Với góc nhìn nhà quân sự, sư trưởng trả lời chắc nịch cho những câu hỏi hoài nghi, phủ nhận của những góc nhìn: "Nếu năm 1979 quân tình nguyện Việt Nam không cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, rồi đẩy bọn chúng lên vùng biên giới này thì rất có thể chúng đã cận kề vùng ven Sài Gòn. Không một ai có lương tâm có thể quên được cái thảm cảnh người dân Việt Nam bị thảm sát dọc biên giới năm 1977...".

Giá trị cốt lỏi của quyển tiểu thuyết chính là sự khẳng định này. Nhưng "Pailin thời máu lửa" còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn. Tác giả còn đưa ra một một trận chiến khác ngay trong lòng đoàn quân tình nguyện. Đó là sự bỉ ổi của kẻ muốn mình nổi lên bằng mưu đồ hạ thấp uy tín của người khác, như hành xử của Chính ủy Trương Thanh Bình với Trung đoàn trưởng Ngô Xuân Mạnh. Anh ta là người phản đối quyết liệt việc tung lực lượng ra bên ngoài truy kích địch, đánh vào hậu phương gây chia rẻ, mâu thuẩn nhằm triệt hạ vị trung đoàn trưởng có chính kiến khác mình. Hậu quả những việc làm của anh ta đã gây tổn thất xương máu cho chiến sĩ...  Tiểu thuyết còn có những trang lãng mạn về mối tình của Trung đoàn trưởng Ngô Xuân Mạnh và Nari - một phụ nữ Campuchia được ông cứu thoát khỏi bàn tay thần chết của quân Pôn Pốt - Iêng Xary. Mối tình ấy kết quả thành đứa con trai Phearat khôi ngô tuấn tú cứ thao thức đi tìm tung tích người cha của mình. Nari - mẹ anh ngã xuống trong một trận quân Pôn pốt từ Pailin tràn xuống giết hại đồng bào...

Mở đầu "Pailin thời máu lửa" là cảnh Phearat lái chiếc Toyota Camry từ Bát Tam Băng vượt hàng trăm cây số, tiến vào thành phố Ph' Nôm Pênl  đi tìm một người cựu binh Việt tên Nguyễn Mộng Hùng để nhờ ông tìm tung tích cha mình - người 30 năm về trước chỉ huy một trung đoàn chiến đấu bảo vệ Pailin, một thị trấn phía tây thị xã Bát Tam Băng... Từ khi chào đời, Phearat chưa từng biết mặt cha, còn mẹ anh đã qua đời...". Mở đầu tiểu thuyết như một truyện phim. Cách kết cấu tiều thuyết giống như một kịch bản phim, với nhiều cảnh tái hiện, lồng ghép quá khứ và hiện tại... Đôi lúc, nhà văn dùng cả ống kính điện ảnh để quan sát những vi tế ngóc ngách đời sống riêng tư của đối tượng quan sát...

Bằng cách ấy, về hình thức, phân đoạn quyển sách nếu được xử lý nhuần nhuyễn hơn, có lẽ tiểu thuyết sẽ tăng tính hấp dẫn điện ảnh và khúc chiếc hơn. Diễn biến tâm lý nhân vật quá nhanh, đúng như chất lính khiến người đọc có chút ngỡ ngàng, hối tiếc. Cách dùng từ vài chỗ chưa thích hợp. Không sao, vì ông là người lính mà. Tuy vậy, khép lại quyển sách, tôi nhận ra "Pailin thời máu lửa" quá sống động. Nếu được đầu tư một kịch bản phim truyện, tôi nghĩ đây là một tiểu thuyết đầy chất liệu phong phú, sinh động để chuyển thể làm phim...

Với hàng chục tập sách kết tinh hàng ngàn trang, người lính già Nguyễn Văn Hồng đã và đang kể chuyện "Nguyên phong" thời hiện đại. Ông đã sống một cuộc đời đáng sống, để lại dấu ấn rực rỡ cả binh nghiệp và văn nghiệp. Và hơn tất cả, người thế hệ sau thấu hiểu tấm lòng ông. Ông bước vào trận chiến chữ nghĩa vì nỗi thôi thúc mãnh liệt: Viết để xương máu người nằm xuống không bị lãng quên.

T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm